Mục lục
****
Kí hiệu trong bài
TTDS: Tố tụng dân sự
BLTTDS: Bộ luật Tố tụng dân sự.
Đề tài: Phương pháp xây dựng thủ tục tố tụng dân sự
rút gọn và Các yêu cầu trong việc xây dựng thủ tục
tố tụng dân sự rút gọn ở Việt Nam trong giai đoạn
toàn cầu hóa
1
Lời mở đầu
Trong hoạt động tố tụng, không nhất thiết phải áp dụng một thủ tục tố tụng
chung cho tất cả các loại vụ việc có mức độ phức tạp khác nhau. Hiện nay, Bộ
luật TTDS 2004 đã có những thủ tục khác nhau cho giải quyết vụ án dân sự và
việc dân sự. Ở đó, thủ tục giải quyết việc dân sự có thể được coi là thủ tục rút gọn
trong TTDS. Tuy nhiên, BLTTDS lại chưa quy định một thủ tục giải quyết mang
tính rút gọn riêng cho vụ án dân sự. Với thực tiễn phát triển của kinh tế - xã hội
của nước ta hiện nay, việc xây dựng một thủ tục tố tụng rút gọn riêng trong
TTDS nói chung và vụ án dân sự nói riêng là điều rất cần thiết.
2
Phần nội dung
I. Khái quát chung.
1. Các cách hiểu về thủ tục TTDS rút gọn
Trong khoa học luật Tố tụng nói chung và khoa học luật tố tụng dân sự nói
riêng, các thủ tục Tố tụng được chia thành hai loại là thủ tục tố tụng thông thường
và thủ tục tố tụng đặc biệt. Thủ tục rút gọn là một dạng của tố tụng đặc biệt. Đây
là hình thức thủ tục tố tụng dân sự được áp dụng ở nhiều nước trên thế giới.
Thủ tục tố tụng dân sự rút gọn là sự giản lược, đơn giản hóa một số khâu
trung gian không cần thiết trong quá trình giải quyết vụ án dân sự nhằm xử lí
nhanh chóng, kịp thời nhưng vẫn đảm bảo đúng đắn chính xác.
hiện nay
a) Cơ sở lý luận
Đường lối cải cách Tư pháp của Đảng, Nhà nước.
Ngày 2/6/2005, Bộ Chính trị đã ra Nghị quyết về Chiến lược cải cách Tư pháp
đến năm 2020 cùng với quyết định đôn đốc: “hoàn thành các nhiệm vụ mà Nghị
quyết 08/NQ-TN ngày 2/1/2002 của Bộ chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm
công tác Tư pháp trong thời gian mới”. Một trong những nhiệm vụ đó là việc cải
cách thủ tục tố tụng dân sự hiện hành.
Các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự.
4
Bởi giữa luật dân sự và luật tố tụng dân sự có mối quan hệ mật thiết nên các
nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự là cơ sở để xây dựng thủ tục tố tụng dân
sự rút gọn. VD: Các nguyên tắc tại Điều 4,5,6,7,12 Bộ luật dân sư 2005.
Những nguyên tắc này sẽ giúp giải quyết vụ việc dân sự một cách nhanh
chóng, đơn giản. Ví dụ, khi giao dịch dân sự không tuân theo những nguyên tắc
cơ bản của pháp luật dân sự thì Tòa án có thể vận dụng chính những nguyên tắc
đó để giải quyết. Tòa án có thể buộc các bên phải xác lập thực hiện cá quyền-
nghĩa vụ đã thỏa thuận hoặc tuyên bố giao dịch đó vô hiệu.
Tính phù hợp giữa thủ tục tố tụng dân sự được xây dựng với tính chất của
vụ việc.
Thủ tục tố tụng dân sự nên được áp dụng với những vụ việc có giá trị tài sản
tranh chấp không lớn, chứng cứ rõ ràng hoặc bị đơn thừa nhận nghĩa vụ. Bởi lẽ,
tính chất của những vụ việc như thế rất đơn giản, không cần thiết phải trải qua
đầy đủ các giai đoạn cũng như tiêu tốn nhiều thời gian như thủ tục tố tụng dân sự
thông thường.
b) Cơ sở thực tiễn
Hiện nay, ở nước ta, các tòa án đang phải giải quyết một lượng lớn các vụ
thủ tục chung.
Ngoài ra, việc tiến hành và kéo dài những thủ tục không cần thiết đã khiến cho
không ít các trường hợp, các tranh chấp dân sự từ đơn giản phát triển thành các
vụ án nghiêm trọng do không được giải quyết kịp thời. Ví dụ, đối với những vụ
án đơn giản, sau khi đã trải qua một thời gian khá dài để Tòa án có quyết định,
nhiều bị đơn vẫn lạm dụng quyền kháng cáo lên Tòa án Phúc thẩm để xem xét lại
nội dung vụ án. Điều này, dễ dẫn đến hậu quả, mâu thuẫn giữa các đương sự
thêm gay gắt, thậm chí, gây tổn hại cho nhau, để rồi chỉ từ một tranh chấp dân sự
đơn giản lại chuyển thành một vụ án hình sự.
Như vậy, áp dụng thủ tục tố tụng dân sự rút gọn sẽ khắc phục được tình trạng
trên, để các quy định pháp luật tố tụng dân sự mềm dẻo, linh hoạt khi áp dụng
với các vụ việc có tính chất khác nhau.
Ngoài ra, nếu áp dụng thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự thì các chi phí về
thời gian, tiền bạc, công sức của Nhà nước, nhân dân sẽ được tiết kiệm một cách
đáng kể.
Chính vì có cơ sở thực tiễn như trên, mà trong dự thảo Bộ luật TTDS 2004,
thủ tục tố tụng dân sự rút gọn đã được đưa vào chương số XV (dự thảo 5, 8,
…).Tuy nhiên, vì một vài lý do mà vấn đề này đã không được ghi nhận khi bộ
luật TTDS 2004 chính thức ra đời. Tuy nhiên, quacác dự thảo, phần nào cũng
thấy rằng, nhà làm luật đã có ý thức về tầm quan trọng của thủ tục tố tụng dân sự
rút gọn.
6
Một sơ sở thực tiễn nữa cũng rất quan trọng trong việc thúc đẩy việc xây
dựng thủ tục tố tụng dân sự rút gọn hiện nay là thủ tục tố tụng dân sự rút gọn
không phải là thủ tục mới mà đã từng xuất hiện ở Việt Nam trước đây (xem mục
I.2) và nhiều nước trên thế giới như Nga, Quebec, Canada, Nhật Bản, Trung
Quốc. Vì vậy, việc xây dựng thủ tục tố tụng dân sự rút gọn hiện nay là phù hợp
với xu thế chung, đáp ứng được yêu cầu xã hội, có thể tận dụng được những kinh
nghiệm của những quy định trước đây của nước ta và trên thế giới. Hơn nữa,
khác với thời kì trước đây (thời kì không cho phép thực hiện thủ tục tố tụng dân
dụng cho cả cấp xét xử sơ thẩm và phúc thẩm. Đó là những vụ kiện có nội dung
sự việc đơn giản, chứng cứ tương đối đầy đủ rõ ràng, không cần nhiều thời gian
để điều tra, xác minh, vụ án dân sự có giá ngạch thấp; các đương sự đã tự thỏa
thuận được với nhau, v.v
2
Thứ nhất, đối với những vụ kiện có nội dung sự việc đơn giản, chứng cứ
tương đối đầy đủ, rõ ràng. Đây có thể hiểu là những vụ kiện mà nguyên đơn xuất
trình được chứng cứ bằng văn bản để chững minh cho yêu cầu của mình và tất cả
người tham gia khác không phản đối về chứng cứ đó; Tòa coi là đáng tin cậy và
việc bị đơn phải thực hiện nghĩa vụ là đương nhiên. Mục đích của nguyên đơn
khi khởi kiện chỉ là cần có bản án của Tòa làm cơ sở yêu cầu cơ quan thi hành án
cưỡng chế thi hành là vì pháp luật buộc phải như vậy. Ví dụ cho những vụ việc
kiểu này là:
- Việc chủ sở hữu yêu cầu người thuê tài sản phải trả lại tài sản thuê trong
trường hợp hết hạn của hợp đồng thuê.
- Việc chủ sở hữu yêu cầu đòi lại tài sản cho thuê từ người thứ ba được
người cho thuê tài sản cho thuê lại nhưng không có sự đồng ý bằng văn bản của
chủ tài sản, ngoài ra các bên không có tranh chấp nào khác.
- Việc yêu cầu tuyên bố vô hiệu đối với giao dịch được kí kết với người mất
mất năng lực hành vi dân sự đã có bản án có hiệu lực pháp luật của tòa án xác
2
Nguyễn Đức Hai: Xây dựng pháp luật: Vấn đề thủ tục rút gọn trong TTDS ở nước ta. Tr.5
8
định thời điểm, tình trạng mất năng lực của họ mà không phải giải quyết hậu quả
pháp lí từ giai đoạn này.
- Yêu cầu bị đơn phải thực hiện quy định về hình thức của giao dịch mà
pháp luật quy định.
3
Thứ hai, những vụ kiện có giá ngạch thấp. Nhìn chung, những vụ kiện có
giá ngạch thấp thường có nội dung đơn giản, tình tiết rõ ràng, sau khi được tòa án
Tuy nhiên, vấn đề này, cần xem xét kĩ lưỡng sao cho phù hợp với sự phát triển
của xã hội.
Thứ ba, những vụ việc có chứng cứ rõ ràng, bị đơn không phản đối nghĩa
vụ và yếu tố vụ việc có giá ngạch thấp được kết hợp đồng thời. Cụ thể, đó là các
vụ việc sau:
+) Ly hôn mà 2 bên đương sự mới kết hôn không lâu, tranh chấp tài sản không
lớn.
+) Tranh chấp về thời gian và số tiền cấp dưỡng.
+) Tranh chấp về người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.
+) Tranh chấp hợp đồng vay tài sản mà tài sản bằng tiền, giấy tờ trị giá được
bằng tiền mà bên vay tài sản không phản đối việc vay và việc đòi nợ của bên cho
vay.
+) Tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng mà có sự thật rõ ràng,
trách nhiệm rõ ràng và giá trị bồi thường không lớn.
+) Yêu cầu bảo vệ người tiêu dùng.
+) Các tranh chấp khác mà có sự thật rõ ràng, tình tiết đơn giản, nội dung tính
chất rõ ràng, giá trị tranh chấp không lớn.
Thứ tư, những vụ việc mà đương sự thỏa thuận lựa chọn thủ tục TTDS rút
gọn. Bởi lẽ, đương sự có quyền định đoạt nên họ có thể cùng thỏa thuận, yêu cầu
Tòa án áp dụng thủ tục TTDS rút gọn với vụ việc của mình. Tuy nhiên, ở trường
hợp này, quyền quyết định có áp dụng thủ tục TTDS rút gọn hay không vẫn thuộc
về Tòa án. Nếu xét thấy vụ án có thể giải quyết bằng thủ tục rút gọn mà vẫn đảm
bảo tính đúng đắn thì Tòa án cũng nên đáp ứng yêu cầu áp dụng thủ tục rút gọn
của đương sự.
b) Phạm vi áp dụng
+ Rút gọn ở tất cả các giai đoạn, các khâu có thể.
10
+) Giảm thời hạn giải quyết các vụ án ở các giai đoạn tố tụng (chuẩn bị xét xử,
kháng cáo, mở phiên tòa,…). Xuất phát từ đối tượng áp dụng của Thủ tục TTDS
rút gọn là các tranh chấp đơn giản, nên thời gian dài là không cần thiết.
quyền. Muốn khắc phục được nhược điểm này, khi xây dựng thủ tục TTDS rút
gọn cần chú ý tới việc xây dựng một cơ chế kiểm soát ràng buộc thẩm phán trong
việc áp dụng thủ tục rút gọn và cơ chế trách nhiệm cá nhân.
b) Thời hạn.
Đúng như cái tên “rút gọn”, thời hạn trong thủ tục TTDS này bắt buộc phải
được rút ngắn. Hiện nay, một vụ án thường kéo dài trong 4 tháng, đối với những
vụ phức tạp thì được gia hạn không quá 2 tháng. Thời gian này là quá dài, không
phù hợp với những vụ việc đơn giản. Vậy, với thủ tục TTDS rút gọn, thời gian
trên cần được rút ngắn xuống chỉ còn 1 tháng từ ngày tòa án thông báo thụ lí vụ
án.
c) Thủ tục tố tụng
*) Phiên tòa
Tại phiên tòa, thủ tục TTDS rút gọn cần có sự giảm bớt các bước, sao cho
phiên tòa trở thành phiên đối chấy để kiểm tra lại các tài liệu, chứng cứ trong hồ
sơ trước khi có quyết định;
Thẩm phán công bố lời khai, chứng cứ, tài liệu mà các bên đưa ra và chỉ xét
hỏi thêm những điểm còn chưa rõ ràng. Nếu xét thấy cần thiết, thẩm phán cho
đương sự tranh luận với nhau về chứng cứ. Nếu không có tranh luận, thẩm phán
yêu cầu các bên đề xuất hướng giải quyết vụ án. Sau khi đề xuất, tùy từng trường
hợp, thẩm phán có thể công bố ngay quyết định của tòa án về việc giải quyết vụ
kiện hoặc tạm ngưng phiên tòa để cân nhắc quyết định và công bố sau khi có kết
quả chính thức.
4
*) Sự vắng mặt của bị đơn.
Nếu một bên đương sự không có mặt đối với loại việc kiện chứng cứ rõ ràng,
1 bên thừa nhận nghĩa vụ , Thẩm phán căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ ra quyết
4
Trần Thị Thúy Vân. Khóa luận tốt nghiệp. Một số vấn đề lí luận và thực tiễn về việc xây dựng thủ
tục tố tụng dân sự rút gọn ở Việt Nam. HN-2010, tr.50.
12
phải khởi kiện lại như ở việc dân sự hiện nay. Các trường hợp cần có sự chuyển
hóa như:
+ Quá trình giải quyết vụ việc dân sự thấy không đơn giản như ban đầu.
+ Bị đơn phản đối việc áp dụng thủ tục TTDS rút gọn (trường hợp này, cần
cân nhắc xem sự phản đối có hợp lý không).
+ Đã có quyết định, bản án của thủ tục rút gọn, nhưng bản án, quyết định đó
bị phản đối.
4) Yêu cầu chung của việc xây dựng thủ tục TTDS rút gọn
Xây dựng thủ tục TTDS rút gọn dù thế nào vẫn phải đạt mục đích của TTDS.
Đó là giải quyết vụ án đúng pháp luật, bảo vệ lợi ích vủa nhà nước, tập thể, công
dân, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, giải quyết nhanh chóng hiệu quả các
việc dân sự.
Muốn việc áp dụng thủ tục TTDS rút gọn được thành công và có hiệu quả cao
thì đội ngũ thẩm phán phải được nâng cao về chuyên môn, nghiệp vụ, có tư duy
nhanh nhạy để quyết định vụ việc đó có nên áp dụng thủ tục rút gọn hay không.
Ngoài ra, Tòa án cũng cần được đáp ứng các yêu cầu về cơ sở vật chất, không thể
đòi hỏi việc rút ngắn về thời gian, giai đoạn tố tụng trong khi cơ sở vật chất
không cho phép thực hiễn điều đó. Chính vì những yếu tố này mà thủ tục rút gọn
đã không được quy định và áp dụng trong TTDS trước đây. Vì vậy, đáp ứng
những yêu cầu chung trên là điều hết sức cần thiết.
Lời kết
Tóm lại, với sự phân tích ở trên, sự thiết lập những quy định về thủ tục TTDS
rút gọn vào BLTTDS hiện nay là một vấn đề cần thiết, đáp ứng nhu cầu và sự
phát triển của xã hội. Tuy nhiên, để có thể đưa những quy định này vào luật và
triển khai có hiệu quả trên thực tế, Nhà nước cần có sự chuẩn bị kỹ lưỡng về
nhiều mặt. Đó là về năng lực chuyên môn và về cơ sở vật chất. Nếu những điều
kiện này chưa chín muồi, chúng ta không nên vội vàng áp dụng các quy định rút
gọn, nếu không, chính sự đơn giản của thủ tục này lại là nguyên nhân của nhiều
hậu quả nghiêm trọng.
14