PHÂN TÍCH SỰ TÁC ĐỘNG CỦA MÔI TRƯỜNG VI MÔ, VĨ MÔ ĐẾN HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN SỮA VIỆT NAM-VINAMILK - Pdf 25

PHÂN TÍCH SỰ TÁC ĐỘNG CỦA MÔI TRƯỜNG VI MÔ, VĨ MÔ ĐẾN HOẠT
ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN SỮA VIỆT NAM-VINAMILK
Lời mở đầu:
Việt Nam đang trong giai đoạn tăng trưởng và phát triển kinh tế kéo theo mức thu nhập,
mức sống của người dân cũng được cải thiện rõ rệt. Nếu trước đây nhu cầu“ăn no mặc ấm”
là ước mơ của hầu hết dân cư thì ngày nay đã có một bộ phận dân cư hướng tới nhu cầu “ăn
ngon mặc đẹp” .Chính vì vậy cùng với những hữu ích đem lại, sữa và các sản phẩm từ sữa
đã gần gũi hơn với người dân. Nếu trước những năm 90 chỉ có 1-2 nhà sản xuất, phân phối
sữa, chủ yếu là sữa đặc và sữa bột ( nhập ngoại), hiện nay thị trường sữa Việt Nam đã có
gần 20 hãng nội địa và rất nhiều doanh nghiệp phân phối sữa chia nhau một thị trường tiềm
năng với 87 triệu dân
Theo thống kế của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hợp quốc (FAO), mức tiêu
thụ các sản phẩm từ sữa bình quân của người Việt Nam hiện nay là 14,81 lít/người/năm
,vẫn còn thấp tuy nhiên đã tăng đáng kể. Số doanh nghiệp tham gia vào ngành sản xuất, chế
biến sữa đã tăng mạnh trong 10 năm qua. Hiện cả nước có hơn 60 doanh nghiệp với 300
nhãn hiệu sản phẩm sữa các loại. Tuy nhiên, hiện tại tổng sản lượng sữa tươi sản xuất trong
nước mới chỉ đáp ứng được khoảng 20-25% lượng sữa tiêu dùng, còn lại phải nhập khẩu từ
nước ngoài. Trong đó, công ty cổ phần sữa Việt Nam – Vinamilk dẫn đầu về thị phần với
39%.
I.Giới thiệu công ty cổ phần sữa Vinamilk:
1.Thực trạng nền kinh tế.
Thế giới ngày nay, thế giới của hội nhập và tự do kinh doanh, vì thế mỗi quốc gia cần phải
tìm ra cho mình một quyết sách hữu hiệu để đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế và khẳng
định mình.
Đối với Việt Nam, trong những năm qua, mặc dù môi trường hoạt động kinh doanh đã dần
dần được cải thiện nhưng các doanh nghiệp vẫn tiếp tục gặp nhiều khó khăn trong quá trình
tăng trưởng, phát triển thương hiệu và nâng cao uy thế thương hiệu. Trong đó, chi phí đầu
tư, vị thế doanh nghiệp chưa được khai phá, cơ cấu nhân sự còn yếu, việc sử dụng Internet
để tìm kiếm thông tin thị trường, thông tin về người bán hàng, đối tác kinh doanh, tài liệu
pháp lý, cơ hội đầu tư, được xem là một trong những trở ngại chính.
Ngày nay Thương hiệu được xem là tài sản vô hình to lớn, mang lại khả năng cạnh tranh

giao thông 16 năm liên tục đứng vào Topten hàng Việt Nam chất lượng cao được người
tiêu dùng ưa thích nhất (1995 – 2010 ), giải thưởng sáng tạo khoa học công nghệ Wipo năm
2000 và 2004 và đặc biệt năm 2000 Công ty vinh dự được Nhà nước phong tặng danh hiệu
ANH HÙNG LAO ĐỘNG thời kỳ đổi mới; năm 2010 là doanh nghiệp đầu tiên và duy nhất
của Việt nam trong 200 công ty có doanh thu dưới 1 tỷ đô la hoạt động có hiệu quả nhất, tốt
nhất Châu Á được tạp chí Fober vinh danh; xếp thứ Tư trong danh sách Top 10 – bảng xếp
hạng VN R.500 doanh nghiệp tư nhân lớn nhất Việt Nam; Top 10 thương hiệu được ưa
thích nhất Việt Nam do Nielsen Singapre và tạp chí Compain thực hiện .
Đạt được được những thành tựu to lớn và vị trí đặc biệt cùng thương hiệu nổi bật Vinamilk
trong nước và trên trường quốc tế như ngày nay, lãnh đạo và cán bộ công nhân viên toàn
công ty đã thể hiện đầy đủ bản lĩnh chính trị và trình độ chuyên môn cùng những kiến thức
được kiểm nghiệm trên thương trường là những đặc điểm tạo nên giá trị của một thương
hiệu nổi tiếng suốt 35 năm qua .
Sự hình thành và phát triển của Công ty cổ phần sữa Việt nam được khái quát trong 3
giai đọan chính :
Giai đoạn 1976 – 1986 :
Sau khi tiếp quản 3 nhà máy Sữa do chế độ cũ để lại sau năm 1975 : nhà máy sữa Thống
Nhất ( tiền thân là nhà máy Foremost ); nhà máy sữa Trường Thọ ( tiền thân là nhà máy
Cosuvina); và nhà máy sữa Bột Dielac ( Nestle ) tình hình sản xuất gặp nhiều khó khăn
phức tạp: máy móc thiết bị hư hại nhiều, phụ tùng thiếu thốn, nguyên liệu trống không. Cán
bộ công nhân viên đã năng động hiến kế, nhiều giải pháp kỹ thuật ra đời như đổi hàng lấy
nguyên liệu cho sản xuất; liên kết với các đơn vị trong nước vừa khôi phục nhà máy, vừa
sản xuất và phân phối sản phẩm. Trong điều kiện đó, công ty vẫn đảm bảo một lượng hàng
nhất định để phục vụ người tiêu dùng, đối tượng chủ yếu là người già, người bệnh và trẻ em
. Ghi nhận thành tích trong giai đoạn này, năm 1986 công ty được Nhà nước tặng Huân
chương lao động hạng Ba .
Giai đoạn 1987 – 2005 :
Thời kỳ 1987 – 1996 : đây là gia đoạn khó khăn trong sản xuất kinh doanh nói chung của
đất nước, cơ chế tập trung quan liêu bao cấp còn khá nặng nề làm giảm nhịp độ phát triển
của nền kinh tế. Trước tình hình đó, Hội đồng Bộ trưởng ( nay là Chính Phủ ) ra nghị quyết

hàng ngàn tỷ đồng hiện đại hòa máy móc thiết bị - công nghệ; kim ngạch xuất khẩu đạt
444,7 triệu USD sản lượng sản xuất trung bình hàng năm đạt trên 560 ngàn tấn; thu mua
sữa tươi tăng hàng năm từ 10 – 17% sản lượng và giá trị; tổng vốn sở hữu chủ tăng hàng
năm đến nay ( 2011) đạt con số trên 11 ngàn tỷ đồng; thu nhập bình quân của người lao
động tăng 68%
-Về kinh doanh : công ty thực hiện chiến lược chiếm lĩnh 75% thị phần toàn quốc ; mở rộng
thị trường trong đó lấy thị trường nội địa làm trung tâm; Đẩy mạnh và phủ đều điểm bán lẻ
trên tất cả mọi vùng, địa bàn lãnh thổ của cả nước với mạng lưới rất mạnh bao gồm 183 nhà
phân phối, 94.000 điểm bán hàng phủ đều 64/64 tỉnh, thành phố. Đổi mới công tác tiếp thị
và các hoạt động Marketing có hiệu quả. Đối với thị trường ngoài nước, công ty tích cực
xúc tiến quan hệ đối ngoại, tìm kiếm thị trường mới để xuất khẩu đồng thời giữ vững thị
trường truyền thống .
Thành lập các trung tâm tư vấn dinh dưỡng sức khoẻ trên cả nước, khám và cung cấp sữa
miễn phí hàng năm cho hàng ngàn lượt trẻ em, học sinh tiểu học và đối tượng suy dinh
dưỡng. Công tác khoa học công nghệ luôn được coi là mũi nhọn đột phá làm tăng dần
chủng loại qua từng năm. Trong 5 năm nghiên cứu cho ra đời trên 30 sản phẩm mới, xét
duyệt nhiều sáng kiến làm lợi cho Nhà nước hàng trăm tỷ đồng, điển hình như sản phẩm
Dielac Anpha 1,2,3; sản phẩm sữa tươi 100%
-Về công tác nhân lực, những năm qua đã tuyển chọn trên 50 con, em cán bộ công ty và học
sinh giỏi qua các kỳ thi tuyển về công nghệ sữa làm nòng cốt lực lượng kế thừa trong tương
lai gửi đào tạo ở nước ngoài. Hơn 100 cán bộ khoa học, kỹ sư được cử đi tiếp thu công nghệ
ngắn ngày trong nước; 12 người theo học các lớp đào tạo giám đốc; 15 cán bộ được đào tạo
Lý luận chính trị cao cấp; 9 cán bộ theo các lớp đào tạo cán bộ Công đoàn.
-Những năm qua, Công ty tham gia tích cực và đều đặn công tác xã hội như đền ơn, đáp
nghĩa; phụng dưỡng suốt đời 20 Mẹ Việt Nam anh hùng tại 2 tỉnh Quảng Nam và Bến Tre;
xoá đói, giảm nghèo; cứu trợ nhân dân vùng bị bão lụt, đóng góp các quỹ : Vì Trường Sa
thân yêu; góp đá xây Trường Sa; Bảo trợ bệnh nhân nghèo, chất độc da cam; tài năng trẻ,
Vươn cao Việt Nam, chống suy dinh dưỡng ở trẻ em; Học bổng trẻ em vùng lũ Tài trợ
nhiều hoàn cảnh đặc biệt khó khăn và nhiều hoạt động khác trong 35 năm qua với kinh phí
của Công ty, các tập thể và cá nhân vận động được qua các phong trào – đặc biệt từ năm

a) Yếu tố dân số:
Tổng dân số: 85.789.573 người; Tỷ lệ tăng dân số: 1,2% (2009)
− Kết cấu dân số
+ Theo giới tính
Số nữ giới: 43.307.024 người
Tỷ số giới tính: 98,1 nam /100 nữ
+ Theo khu vực: khu vực thành thị: 25.374.262 người (chiếm 29,6% dân số cả nước).
+ Cơ cấu độ tuổi:
0.14 uổi: 29,4% (nam 12.524.098; nữ 11.807.763)
15.64 uổi: 65% (nam 26.475.156; nữ 27.239.543)
trên 65 tuổi: 5,6% (nam 1.928.568; nữ 2.714.390)
Tỷ lệ sinh: 19,58 sinh/1.000 dân
Với kết cấu dân số như vậy ta có thể dự báo khối lượng sữa tiêu thụ còn tăng cao hơn
nữa.
− Mức sống của người dân: Thu nhập bình quân đầu người: Theo thống kê từ Tổng
cục Thống kê, tính đến năm 2010 thu nhập của người dân Việt Nam đã đạt 1,387 triệu
đồng/người/tháng, tăng 39,4% so với năm 2008, tăng bình quân 18,1%/năm trong thời kỳ
2008-2010.Tuy nhiên thu nhập thực tế sau khi loại trừ yếu tố tăng giá của thời kỳ 2008-
2010 thì con số này chỉ còn lại 9,3%/năm, chỉ cao hơn mức tăng thực tế 8,4% của thời kỳ
2006-2008 và thấp hơn mức tăng thu nhập thực tế 10,7%/năm của thời kỳ 2002-2004.
Tổng cục Thống kê cũng cho biết thêm thu nhập bình quân của nhóm nghèo nhất chỉ đạt
369.000 đồng/tháng, thu nhập trung bình của nhóm giàu nhất lên tới trên 3,4 triệu đồng
 Nhìn chung mức sống của người dân có được cải thiện nhưng không đồng đều và còn
thấp (mức thu nhập bình quân đứng thứ 192 trên thế giới) , trong khi giá cả sữa trên thị
trường Việt Nam còn cao so với nhiều quốc gia trên thế giới từ 20-60%, cá biệt có trường
hợp còn cao hơn từ 100-150%. Nhu cầu về sữa vẫn còn ở mức thấp nhưng có tiềm năng
− Mức chi tiêu :
+ Phục vụ nhu cầu ăn uống: tỷ trọng chi ăn uống trong chi tiêu đời sống là một chỉ tiêu
đánh giá mức sống cao hay thấp, tỷ trọng này càng cao thì mức sống càng thấp và ngược
lại. Việt Nam là một nước còn nghèo nên tỷ trọng này còn cao nhưng đã có xu hướng

+ Giá thức ăn cao.
Người chăn nuôi bò sữa Việt Nam bán 1 lít sữa (trung bình thực nhận 6000đ) chỉ mua
được 1,1kg thức ăn (tỷ giá là 1,1). Tại Thái Lan tỷ giá này là 1,5; Mỹ 3,3 Hà Lan 2,1; Úc
1,6 (nguồn IFCN, 2007).
+ Sự gia tăng nguồn thức ăn và đồng cỏ không tương xứng với tốc độ tăng đàn bò sữa.
thức ăn cho bò sữa mà đặc biệt là thức ăn thô xanh không đủ về số l ượng , kém về chất
lượng, ước tính lượng cỏ xanh tự nhiên và cỏ trồng hiện nay mới đáp ứng khoảng 30%
nhu cầu thức ăn thô xanh của đàn bò sữa.
+ Giá bò giống, công lao động và mọi chi phí khác đều tăng cao.
+ Hiện tượng sữa có chứa chất melamin
Phát hiện đầu tiên vào ngày (24/11/2008) ở Trung Quốc.
Từ đó các công ty sữa không ngừng bị kiểm tra chất lượng vì sự phản ảnh của người dân
về sữa nhiễm chất độc Melamine. Ảnh hưởng đến hoạt động của nhiều công ty trong đó
có Vinamilk.
+ Ngành sữa trước sự thay đổi của khí hậu toàn cầu:
Khoảng nhiệt độ tối ưu đối với bò sữa là 20
0
– 22
0
C, theo Terry Mader của đại học
Nebraska-Lincoln, cứ mỗi một độ tăng lên trên với mức tối ưu này thì năng suất sữa sẽ
giảm khoảng 2%.
Người ta dự đoán rằng cùng với hiện tượng ấm lên của trái đất, thời tiết cũng khắc nghiệt
hơn, thiên tai xảy ra nhiều hơn và nhiệt độ trung bình sẽ cao hơn, đây là tin xấu cho những
người chăn nuôi gia súc ở Việt Nam và toàn thế giới: Trái đất ấm lên sẽ làm giảm lượng
cỏ, cây bụi và những loại cây thức ăn gia súc khác ở nhiều vùng và đồng thời cũng ảnh
hưởng trực tiếp đến sinh lý của bò sữa
d) Môi trường công nghệ:
Nền công nghệ trên thế giới hiện nay ngày càng phát triển vượt bậc đặc biệt là các công
nghệ chế biến từ khâu sản xuất, chế biến đến đóng gói và bảo quản.vinamilk đã đầu tư phát

tố đó chính trị và luật pháp là hai vấn đề đáng quan tâm. Sự thành công hay thất bại của
doanh nghiệp trong kinh doanh quốc tế phụ thuộc phần lớn vào doanh nghiệp có am hiểu
các chính sách, các luật lệ của nước sở tại hay không. Cho dù doanh nghiệp đóng ở đâu
cũng bị ảnh hưởng của hệ thống luật pháp và các chính sách của chính phủ nước đó. Các hệ
thống và chính sách đó là: kinh kế nhằm điều chỉnh hành vi kinh doanh, tiêu dùng, quan hệ
trao đổi thương mại.
 Tình hình an ninh chính trị, cơ chế điều hành của chính phủ:
Đây là yếu tố có tầm ảnh hưởng tới tất cả các ngành kinh doanh trên một lãnh thổ, các
yếu tố thể chế, luật pháp có thể uy hiếp đến khả năng tồn tại và phát triển của bất cứ ngành
nào. Khi kinh doanh trên một đơn vị hành chính, các doanh nghiệp sẽ phải bắt buộc tuân
theo các yếu tố thể chế luật pháp tại khu vực đó. Thể chế nào có sự bình ổn cao sẽ có thể
tạo điều kiện tốt cho việc hoạt động kinh doanh và ngược lại các thể chế không ổn định, xảy
ra xung đột sẽ tác động xấu tới hoạt động kinh doanh trên lãnh thổ của nó.
Dẫn chứng : Các rủi ro từ thị trường xuất khẩu không ổn định:
Hơn 90% doanh thu từ xuất khẩu của công ty là từ Iraq. Tình hình kinh tế và chính trị bất
ổn của quốc gia này đã ảnh hưởng xấu đến doanh thu từ xuất khẩu của Vinamilk. Vì vậy,
công ty đang mở rộng thị trường xuất khẩu sang Úc, Mỹ, Cana da, Thái Lan và các nước
khác.
 Hệ thống pháp luật và các văn bản pháp:
Để điều tiết nền kinh tế, các quốc gia đều ban hành một hệ thống các văn bản để quản lý
quá trình kinh doanh của doanh nghiệp. Hệ thống pháp luật điều tiết các hoạt động của
doanh nghiệp ở Việt Nam như:
o Sửa đổi hiến pháp
o Luật doanh nghiệp
o Luật đầu tư nước ngoài
o Luật chống độc quyền
o Các thông tư hướng dẫn
Tất cả các văn bản quy phạm đó nêu rõ lĩnh vực mà doanh nghiệp được phép kinh doanh và
lĩnh vực cấm kinh doanh cũng như quyền lợi và nghĩa vụ của doanh nghiệp. Các nhà
Maketing cần nghiên cứu và năm vững nhằm tận dụng những cơ hội tốt và hạn chế đến mức

của từng loại đối tượng để từ đó đưa ra các chính sách phù hợp.
Ngày 25-3 Hiệp hội Sữa VN chính thức được thành lập, quy tụ 68 thành viên gồm
các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình đang hoạt động trong lĩnh vực sản xuất, chế biến sữa trên
phạm vi toàn quốc.
Theo điều lệ hoạt động, Hiệp hội Sữa ra đời nhằm liên kết các hội viên hợp tác, hỗ trợ
về kỹ thuật sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, nâng cao giá trị chất lượng sản phẩm
f) Môi trường văn hóa:
− Thói quen uống sữa: Việt Nam không phải là nước có truyền thống sản xuất sữa, vì
vậy đại bộ phận dân chúng chưa có thói quen tiêu thụ sữa. Trẻ em giai đoạn bú sữa mẹ
trong cơ thể có men tiêu hóa đường sữa (đường lactose) . Khi thôi bú mẹ, nếu không được
uống sữa tiếp thì cơ thể mất dần khả năng sản xuất men này. Khi đó đường sữa không
được tiêu hóa gây hiện tượng tiêu chảy nhất thời sau khi uống sữa.Chính vì vậy nhiều
người lớn không thể uống sữa tươi(sữa chua thì không xảy ra hiên tượng này, vì đường
sữa đã chuyển thành axit lactic). Tập cho trẻ em uống sữa đều đặn từ nhỏ, giúp duy trì sự
sản sinh men tiêu hóa đường sữa, sẽ tránh được hiện tượng tiêu chảy nói trên. Thêm vào
đó so với các thực phẩm khác và thu nhập của đại bộ phận gia đình Việt Nam (nhất là ở
các vùng nông thôn) thì giá cả của các sản phẩm sữa ở Việt Nam vẫn còn khá cao. Còn ở
nhiều nước khác, với mức thu nhập cao, việc uống sữa trở thành một điều không thể thiếu
được trong thực đơn hàng ngày.Những nước có điều kiện kinh tế khá đã xây dựng chương
trình sữa học đường, cung cấp miễn phí hoặc giá rất rẻ cho các cháu mẫu giáo và học sinh
tiểu học. Điều này không chỉ giúp các cháu phát triển thể chất, còn giúp các cháu có thói
quen tiêu thụ sữa khi lớn lên.
2.Môi trường vi mô:
a. Công ty:
(Khi soạn thảo các kế hoạch marketing thì người lãnh đạo bộ phận marketing phải xét đến
lợi ích của các nhóm trong nội bộ công ty như ban lãnh đạo tối cao, đến các phòng điều
hành phát triển vùng nguyên liệu, phòng điều hành sản xuất và phát triển sản phẩm, chuỗi
cung ứng, phòng tài chính, điều hành dự án, phòng kinh doanh hay phòng hành chính nhân
sự bởi chính tất cả nhóm này sẽ tạo nên môi trường vi mô của công ty. )


và chất lượng tốt.
+ Vinamilk đã đầu tư 11 tỷ đồng xây dựng 60 bồn sữa và xưởng sơ chế có thiết bị
bảo quản sữa tươi
Ông Nguyễn Quốc Khánh, Giám Đốc Điều Hành Công ty Vinamilk cho biết thêm: “Để đáp
ứng nhu cầu nguyên liệu, Vinamilk đang triển khai dự án đầu tư trị giá trên 400 triệu USD
(khoảng 8.000 tỷ đồng) trong vòng 3 năm để đưa đàn bò vắt sữa của các trang trại Vinamilk
lên tới 80.000 con, mỗi ngày cung cấp trên 1,3 triệu lít sữa, nhằm phục vụ cho nhu cầu của
Vinamilk.
− Ngoài ra Vinamilk cũng nhập khẩu sữa bột từ Úc, New Zealand để đáp ứng nhu cầu
sản xuất cả về số lượng lẫn chất lượng. Hai nhà cung ứng sữa bột lớn của Vinamilk
hiện nay là : Fonterra, Hoogwegt Internationnal.
+ Fonterra là một tập đoàn đa quốc gia hàng đầu trên thế giới trong lĩnh vực về
sữa và xuất khẩu các sản phẩm sữa, tập đoàn này nắm giữ 1/3 khối lượng mua
bán trên toàn thế giới. Đây chính là nhà cung cấp chính bột sữa chất lượng cao
cho nhiều công ty nổi tiếng trên thế giới cũng như Công ty Vinamilk.
+ Hoogwegt International đóng vai trò quan trên thị trường sữa thế giới và được
đánh giá là một đối tác lớn chuyên cung cấp bột sữa cho nhà sản xuất và người
tiêu dùng ở Châu Âu nói riêng và trên toàn thế giới nói chung. Với hơn 40 năm
kinh nghiệm, Hoogwegt có khả năng đưa ra những thông tin đáng tin cậy về lĩnh
vực kinh doanh các sản phẩm sữa và khuynh hướng của thị trường sữa ngày nay.
Danh sách một số nhà cung cấp lớn của Công ty Vinamilk
Nhà cung cấp Sản phẩm cung cấp
· Fonterra (SEA) Pte Ltd Sữa bột
· Hoogwegt International BV Sữa bột
· Perstima Binh Duong Hộp
· Tetra Pak Indochina Thùng carton và máy đóng gói
Như vậy, nguồn cung cấp nguyên vật liệu chính khá ổn định trong tương lai, ngành sữa Việt
Nam sẽ dần giảm tỷ trọng sữa nguyên liệu nhập khẩu, thay thế vào đó là nguồn nguyên liệu
sữa bò tươi, đảm bảo chất lượng sản phẩm sữa cho người tiêu dùng và góp phần thúc đẩy
các ngành hỗ trợ trong nước.

- Vận chuyển :
Chủ yếu bằng ôto tuy nhiên để hàng tới phân phối cấp dưới nữa thì một số ôto còn thiếu hệ
thống bảo quản lạnh
 Các tổ chức dịch vụ marketing
− Quảng cáo: bằng các phương tiện truyền thông như truyền hình, báo chí, quảng cáo
ngoài trời
Vinamilk nhằm giúp cho người tiêu dùng hiểu được lợi ích “tươi, thuần khiết, đến trực
tiếp từ thiên nhiên” thông qua việc nhân hóa hình ảnh chú bò sữa vui khỏe và năng động
− Tham gia vào các chương trình nhân đạo của xã hội:
Quỹ học bổng :” Vinamilk ưu mầm tài năng trẻ”
Chương trình: 6 triệu ly sữa miễn phí cho trẻ em nghèo Việt Nam
VINAMILK còn tích cực mang tới cho cộng đồng niềm vui và những kiến thức xã hội
có ích trong cuộc sống. Thông qua các chương trình trò chơi truyền hình và một số hoạt
động khác : “Cup Vinamilk”; chương trình trò chơi truyền hình “Vui cùng Hugo”,
“Vượt lên chính mình”, “Chuyện không của riêng ai”, “Bản tin Dự báo thời tiết”, “Hãy
chọn giá đúng”, “Tam sao thất bản”, “Phim Việt cuối tuần”…
Công ty đã thể hiện sự quan tâm tới cộng đồng bằng những hoạt động thiết thực và cụ
thể như: quỹ nạn nhân chất độc da cam; ủng hộ đồng bào bị lũ lụt, nạn nhân sóng thần,
nạn nhân mỏ than Mạo Khê (Quảng Ninh); xây dựng Khu di tích Bến Dược (Củ Chi),
Trung tâm Cứu trợ Trẻ em tàn tật Nam Định, xây dựng cầu vượt sông cho các em học
sinh đi học tại Quảng Nam; chương trình chống suy dinh dưỡng trẻ em trên toàn quốc;
hỗ trợ tiền phẫu thuật hở môi, hàm ếch cho trẻ em dị tật…
 Các tổ chức tài chính- tín dụng:
− Gồm các công ty tín dụng, ngân hàng, bảo hiểm và các tổ chức khác hỗ trợ cho công
ty đầu tư cho các thương vụ và bảo hiểm rủi ro lien quan đến việc mua bán hàng .
− Doanh thu của Vinamilk (Năm 2010) đạt 16.000 tỷ đồng vào năm 2010 được xem là
năm có nhiều bất ổn về kinh tế vĩ mô
− Thương hiệu Vinamilk trên thị trường chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh đạt 2 tỷ
USD xếp thứ tư trên 200 công ty niêm yết.
Việc tăng giá hay thu hẹp khả năng tín dụng có thể làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến hiệu

-Vinamilk Diecerna : dành cho người bệnh tiểu đường và những người có nguy cơ mắc
bệnh cao.
-Sữa giảm cân Vinamilk : giúp người thừa cân, béo phì kiểm soát cân bặng thông qua chế
độ ăn kiêng, giảm ngưỡng no và hoàn toàn duy trì dinh dưỡng cho sinh hoạt hàng ngày.
-Hệ thống phân phối của công ty: luôn được củng cố và duy trì. Thị trường nội địa vãn là
thị trường chính, đóng góp khoảng 90% tổng doanh thu, thị trường xuất khẩu đóng góp
10% doanh số và chủ yếu xuất khẩu sang các nước thuộc khu vực Trung Đông, Campuchia,
Lào, Philipines.Hiện tại công ty có trên 240 NPP trên hệ thống phân phối sản phẩm
Vinamilk và có trên 140.000 điểm bán hàng trên hệ thống toàn quốc. Bán hàng qua tất cả
các hệ thống Siêu thị trong toàn quốc.
-Công ty đưa ra nhiều dòng sản phẩm với giá cả cũng khác nhau phục vụ nhu cầu đa dạng
của người tiêu dùng.Ta có bảng tổng hợp sản phẩm của công ty như sau
e. Đối thủ cạnh tranh:
NHÃN
HIỆU
CÔNG
TY
SỮA
VINA-
MILK
VINAMILK
DIELAC
RIDIELAC
V-FRESH
SỮA ĐẶC
Sữa tươi, sữa chua (ăn, uống,men
sống ),kem, phô mai
Dielac mama, dielac alpha, dielac
sure, vinamilk Canxi
Dành cho trẻ em

để gia nhập ngành các công ty mới phải có tiềm lực vốn và năng lực đủ mạnh để vượt qua
các rào cản gia nhập ngành bước vào kinh doanh sữa.
Các rào cản gia nhập ngành: kỹ thuật, vốn, nguyên liệu, các yếu tố thương mại, khách
hàng, thương hiệu, kênh phân phối…
 Ngành sữa hiện nay có tiềm năng phát triển rất lớn. tuy nhiên các rào cản của ngành
không nhỏ đối với các công ty đặc biệt về vốn và kỹ thuật chế biến. Trong tương lai công
ty Vinamilk cũng có thể đối mặt với nhiều đối thủ mới đến từ nước ngoài do nền kinh tế
thị trường và sự vượt trội về kỹ thuật, vốn và nguồn nguyên liệu đầu vào. Do đó cường độ
cạnh tranh sẽ tăng từ các đối thủ tiềm năng mới.
f. Công chúng:
Là một nhóm bất kì tỏ ra quan tâm thực sự hay có thể sẽ quan tâm đến những tổ chức hay
có ảnh hưởng đến khả năng đạt tới những mục tiêu dề ra nó. Đó là những nhóm công chúng
tích cực(quan tâm đến công ty với thái độ thiện chí), nhóm công chúng tìm kiếm( là những
nhóm mà công ty đang tìm kiếm sự quan tâm của họ chẳng hạn như giới phương tiện truyền
thông), công chúng không mong muốn( những nhóm người có ý định tẩy chay hàng hóa).
Đứng trên góc độ khách quan, nhìn nhận các vấn đề lien quan tới môi trường công chúng
của công ty như sau:
-Giới tài chính:với sự lớn mạnh không ngừng của công ty cổ phần sữa Vinamilk, đã có rất
nhiều nhà đầu tư lớn và chuyên nghiệp trên thế giới đến tham quan và tìm hiểu về công ty
và nhiều nhà sau đó đã trở thành cổ đông
-Giới phương tiên truyền thông nhằm đưa ra những thông tin về sản phẩm sữa.
-Quần chúng đông đảo: Với thị phần đứng đầu trong ngành sữa Việt Nam, cho thấy phần
đông người ưa chuộng , ủng hộ mặt sản phẩm của công ty.Hơn nữa, công ty Vinamilk để lại
hình ảnh tương đối tốt với người tiêu dùng trên toàn quốc thông qua các chương trình như:
qũy học bổng Vinamilk- Ươm mầm tài năng trẻ Việt Nam, Quỹ sữa vươn cao Việt Nam,
quỹ học bổng Vừ A Dính…
-Trách nhiệm, quan hệ với các cấp chính quyền, cơ quan nhà nước:
+áp dụng các quy trình công nghệ nhằm tiết kiệm nhiên liệu, giảm thiểu lượng khí thải:
(theo báo cáo thường niên năm 2010)
-Tích cực tham gia cải tạo cảnh quan xanh – sạch – đẹp quanh nhà máy. Ban giám đốc

lược dựa trên ưu thế của của công ty để tránh các nguy cơ của thị trường. (4) WT (Weaks
- Threats): các chiến lược dựa trên khả năng vượt qua hoặc hạn chế tối đa các yếu điểm
của công ty để tránh các nguy cơ của thị trường.
Phân tích mô hình SWOT đối với công ty cổ phần vinamilk
− Điểm mạnh:
+ Vinamilk là công ty sữa hàng đầu tại Việt am đưuọc hỗ trợ bởi truyền thống hoạt
động,uy tín, cũng như thương hiệu được xây dựng tốt.Kể từ khi hoạt động vào năm 1976,
vnm đã xay dựng một thương hiệu mạnh cho sản phẩm tại thị trường việt nam, và nay đã
trở thành một thương hiệu sữa được biết đến rộng rãi.
+ Việc tập trung quảng cáo, tiếp thị và không ngừng đổi mới sản phẩm và đảm bảo
chất lượng. Với bề dày lịch sử có mặt trên thị trường Việt Nam, vnm có khả năng xác
định và am hiểu xu hướng và thị hiếu tiêu dùng, điều này giúp vnm tập trung những nỗ
lực phát triển để xác định đặc tính sản phẩm do người tiêu dùng đánh giá. Chẳng hạn, sự
am hiểu sâu sắc và nỗ lực của mình đã giúp dòng sản phẩm Vinamilk Kid của vnm trở
thành một trong những sản phẩm sữa bán chạy nhất dành cho khúc thị trường trẻ em từ 6
đến 12 tuổi tại Việt Nam trong năm 2007.
+ Vinamilk có danh mục sản phẩm đa dạng thích hợp cho các độ tuổi, đáp ứng các nhu
cầu khác nhauvà có các dòng sản phẩm nhắm đến một số khách hàng mục tiêu chuyên
biệt như trẻ nhỏ, người lớn và người già cùng với các sản phẩm dành cho hộ gia đình và
các cở sở kinh doanh như quán café. Bên cạnh đó, thông qua việc cung cấp các sản phẩm
đa dạng đến người tiêu dùng với các kích cỡ bao bì khác nhau, VNM mang đến cho
khách hàng tại thị trường Việt Nam các sản phẩm sữa tiện dụng có thể mang theo dễ dàng.
Đây là lợi thế không phải công ty nào cũng có được.
+ Vinamilk có mạng lưới phân phối và bán hàng trải rộng trên cả nước. Các đâị lý của
vinamilk cũng được trang bị hệ thoongs tủ đông để bảo quản sản phẩm dến tay người tiêu
dùng. đã bán sản phẩm thông qua 240 nhà phân phối cùng với hơn 140.000 điểm bán
hàng tại toàn bộ 64 tỉnh thành của cả nước. Đội ngũ bán hàng nhiều kinh nghiệm gồm
1.787 nhân viên bán hàng trên khắp đất nước đã hỗ trợ cho các nhà phân phối phục vụ tốt
hơn các cửa hàng bán lẻ và người tiêu dùng, đồng thời quảng bá sản phẩm của chúng tôi.
Đội ngũ bán hàng còn kiêm nhiệm phục vụ và hỗ trợ các hoạt động phân phối đồng thời


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status