LỜI NÓI ĐẦU
Luật đất đai năm 93, sửa đổi bổ sung năm 1998 và năm 2001 của
nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đã khẳng định “ Đất đai là
nguồn tài nguyên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành
phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu
dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng.
Trải qua nhiều thế hệ, nhân dân ta đã tốn bao công sức, sương máu mới tạo
lập, bảo vệ được vốn đất đai như hiện nay”. ở nước ta, đất đai thuộc sở hữu
toàn dân, Nhà nước thống nhất quản lý, Nhà nước giao đất cho tổ chức, hộ
gia đình, cá nhân (gọi chung là người sử dụng đất)sử dụng ổn định, lâu dài.
Cùng với quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước và đặc biệt trong
những năm đổi mới các mối quan hệ trong quản lý và sử dụng đất đai cũng
luôn biến động. Sự biến động này tác đồng đến quyền, lợi ích hợp pháp của
người sở hữu cũng như người sử dụng đất đai. Điều đó cùng là nguyên
nhân gây ra nhiều khiếu kiện vê đất đai.
Trong những năm vừa qua, đặc biệt là từ những năm 1997 trở lại
đây, tình hình khiếu kiện về đất đai diễn biến ngày càng phức tạp và gay
gắt, nhiều địa phương phát sinh khiếu kiện gay gắt và trở thành “điểm
nóng” gây ảnh hưởng rất lớn đến an ninh trật tự chính trị và xã hội. Tình
hình khiếu kiện đông người vượt cấp lên trên Trung ương mà nội dung
khiếu kiện phần lớn là liên quan đến đất đai diễn ra khá phổ biến. Đây đã
và đang trở thành vấn đề nhức nhối của xã hội, làm đau đầu các ban ngành
chức năng.
Trước tình hình trên, Trung ương Đảng, Quốc hội, Chính phủ đã
thường xuyên quan tâm, đề ra nhiều chủ trương, chính sách, giải pháp chỉ
đạo các cấp, các ngành xử lý giải quyết. Hàng năm các bộ, ngành, địa
phương đã tâp trung giải quyết trên dưới 80% tổng số vụ khiếu kiện nói
1
chung và khiếu kiện vê đất đai nói riêng, bảo vệ lợi ích chính đáng, hợp
pháp của Nhà nước, tập thể và cá nhân; thu hồi cho Ngân sách Nhà nước và
trả lại cho công nhân hàng trăm triệu đồng và hàng trăm ha đất; xử lý
các bạn nhằm hoàn thiện hơn nữa đề tài này.
Em xin chân thành cảm ơn Th. S Vũ Thị Thảo và toàn thể cán bộ
thuộc Phòng Tổng Hợp trực thuộc Thanh tra Nhà nước đã tận tình giúp đỡ
em trong quá trình nghiên cứu đề tài này.
Hà nội tháng 5/ 2004
CHƯƠNG I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ
CÁO VỀ ĐẤT ĐAI
3
I. CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN
1. Khiếu nại và giải quyết khiếu nại
Ở đây chúng ta chỉ đề cập đến khiếu nại các quyết định hành chính
và hành vi hành chính trong quá trình quản lý và sử dụng đất đai.
a. Theo luật khiếu nại, tố cáo thì : “Khiếu nại là việc công dân, cơ
quan, tổ chức hoặc cán bộ đề nghị cơ quan Nhà nước, tổ chức, cá nhân có
thẩm quyền xem xét lại các quyết định hành chính, hành vi hành chính của
các cơ quan này khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái
pháp luật, nhằm bảo về quyền, lợi ích hợp pháp của mình.
Vậy khiếu nại liên quan đến đất đai đai là việc công dân, tổ chức, cơ
quan đề nghị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xem xét lại các quyết định,
hành vi hành chính của các cơ quan đó trong quá trình quản lý sử dụng đất
đai.
b. Giải quyết khiếu nại là việc cơ quan Nhà nước, cá nhân có thẩm
quyền tiếp nhận, xem xét đơn, thư khiếu nại của công dân về quyết định
hành chính hay hành vi hành chính của cơ quan đó. Sau đó tổ chức Thanh
tra, kiểm tra, thu thập chứng cứ, đối thoại với các bên có liên quan và đi
đến kết luận cuối cùng về tính đúng, sai của quyết định hay hành vi hành
chính đó và bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của các bên có liên
quan, xác định rõ trách nhiệm thuộc về ai một cách hợp tình, hợp lý, đảm
bảo được yêu cầu của công tác quản lý.
2. Tố cáo và giải quyết tố cáo
- Khiếu nại vè việc thu thuế, lệ phí và về quản lý sử dụng đất đai.
5
- Khiếu nại về giải toả đền bù quyền sử dụng đất đai khi Nhà nước
thu hồi đất.
Ngoài ra còn rất một số dạng khiếu nại khác.
Tố cáo về các hành vi vi phạm pháp luật trong quản lý và sử dụng
đất đai bao gồm:
- Tố cáo chính quyền địa phương để lại đất công ích vượt quá tỉ lệ
quy định.
- Quản lý, sử dụng đất công ích không đúng, có biểu hiện tham
nhũng, đấu thầu sai thẩm quyền, sai trình tự thủ tục, thời gian thầu quá dài,
…
- Giao đất kinh doanh cơ sở hạ tầng, tạo điều kiện làm giàu cho một
số người trên chính mảnh đất của người dân lao động.
- Sử dụng tiền bán đất, cac khoản khác thu từ đất đai không đúng
quy định của pháp luật.
- Thực hiện các quyết định giao, cấp đất đai không đúng, không
khách quan.
Từ tố cáo về đất đai chuyển sang tố cáo về tham nhũng của cán bộ cơ
sở thông qua việc sử dụng kinh phí thu từ bán đất, kinh tế hợp tác xã, …
4. Vai trò của việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai trong
công tác quản lý Nhà nước về đất đai
Đất đai là một nguồn tài nguyên vô cùng quý giá đối với mọi quốc
gia. Đó là nguồn lực chủ quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế, xã
hội. Đó cũng là mục đích và nguyên nhân của mọi cuộc chiến tranh trên thế
giới vì vậy đất đai luôn gắn liền với vấn đề chính trị. Chính vì vậy quản lý
tốt việc sử dụng đất đai không những có ý nghĩa trong việc phát triển kinh
tế, xã hội mà còn có ý nghĩa rất quan trọng về mặt chính trị.Song hiện nay,
tình hình khiếu kiện về đất đai diễn ra vô cùng gay gắt và phức tạp, số vụ
6
- Người khiếu nại phải là người có đủ năng lực hành vi theo quy định
của Bộ Luật dân sự hoặc là người chưa có năng lực hành vi đầy đủ nhưng
theo quy định của pháp luật có quyền khiếu nại; trường hợp thông uqan
người đại diện hợp pháp theo pháp luật để thực hiện quyền khiếu nại phải
có giấy tờ chứng minh quyền đại diện hợp pháp đó.
- Những người già yếu hay vì một lý do khách quan nào đó mà
không thể tự mình thực hiện khiếu nại thì có quyền uỷ quyền cho người đại
diện là cha, mẹ, anh chị em ruột, vợ, chồng, con đã thành niên để thực hiện
việc khiếu nại; việc uỷ quyền phải được lập văn bản và có xác nhận của
UBND xã nơi người uỷ quyền hoặc người được uỷ quyền cư trú.
Đối với trường hợp cơ quan thực hiện khiếu nại thì phải thông quan
người đại diện là thủ trưởng cơ quan đó. Tổ chức thực hiện quyền khiếu nại
phải thông qua người đại diện là người đứng đầu tổ chức được quy định
trong quyết định thành lập tổ chức hoặc điều lệ của tổ chức.
- Người khiếu nại phải làm đơn khiếu nại gửi đến cơ quan Nhà nước
có thẩm quyền trong thời hiệu, thời hạn theo quy định của Luật khiếu nại,
tố cáo.
- Việc khiếu nại phải chưa có quyết định giải quyết khiếu nại cuối
cùng.
- Việc khiếu nại chưa được toà án thụ lý để giải quyết.
1.2. Thẩm quyền thụ lý và giải quyết đơn khiếu nại về đất đai
1.2.1. Thẩm quyền giải quyết khiếu nại của các cơ quan hành chính
Nhà nước
Luật khiếu nại, tố cáo quy định khiếu nại thuộc thẩm quyền giải
quyết của các cơ quan hành chính Nhà nước là khiếu nại của các cá nhân,
8
cơ quan, tổ chức theo thủ tục do Luật khiếu nại, tố cáo và các luật khác quy
định đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại các quyết
định hành chính, hành vi hành chính khi cuả chính cơ quan đó khi có căn
cứ cho rằng quyết định hay hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm đến
định của Luật khiếu nại, tố cáo.
Nếu thấy vụ việc khiếu nại có nội dung rõ ràng, có đủ căn cứ để giải
quyết thì Chủ tịch UBND cấp xã ra quyết định giải quyết ngay. Ngược lại,
nếu thấy vụ việc khiếu nại có nội dung chưa rõ ràng, chưa đủ căn cứ để giải
quyết thì Chủ tịch UBND cấp xã phải tiến hành thẩm tra, xác minh, gặp gỡ
trực tiệp người khiếu nại, người bị khiếu nại, người có quyền lợi liên quan
để làm rõ nội dung khiếu nại, yêu cầu của người khiếu nại trước khi ra
quyết định giải quyết khiếu nại. Căn cứ vào kết quả thẩm tra, xác minh và
quy định của pháp luật, Chủ tịch UBND cấp xã ra quyết định giải quyết
khiếu nại trong thời hạn quy định.
- Chủ tịch UBND cấp xã có trách nhiệm gửi quyết định giải quyết
khiếu nại cho người khiếu nại, người bị khiếu nại, người có quyền lợi liên
quan (sau đây gọi chung là những bên có liên quan) và Chủ tịch UBND cấp
huyện; khi cần thiết thì công bố công khai quyết định giải quyết khiếu nại.
- Chủ tịch UBND cấp xã có trách nhiệm thi hành, tổ chức thi hành
quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lự pháp luật trong phạm vi trách
nhiệm của mình.
b, Chủ tịch UBND quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh
(sau đây gọi chung là cấp huyện)
Chủ tịch UBND cấp huyện có trách nhiệm giải quyết:
- Khiếu nại đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của mình.
10
- Khiếu nại mà Chủ tịch UBND cấp xã, Thủ trưởng các phòng ban
chuyêm môn thuộc UBND cấp huyện đã giải quyết nhưng còn có khiếu
nại.
Căn cứ vào báo cáo xác minh, kết luận, kiến nghị việc giải quyết
khiếu nại, Chủ tịch UBND cấp huyện ra quyết định giải quyết khiếu nại
trong thời hạn quy định.
- Chủ tịch UBND cấp huyện có trách nhiệm thông báo cho các bên
liên quan về quyết định giải quyết khiếu nại; khi cần thiết phải công bố
chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh hoặc Chánh Thanh tra tỉnh xem xét, kết
luận và kiến nghị việc giải quyết.
- Khiếu nại mà Chủ tịch UBND cấp huyện đã giải quyết nhưng còn
khiếu nại, khiếu nại mà Giám đốc Sở đã giải quyết nhưng còn khiếu nại mà
nội dung thuộc phạm vi quản lý của mình. Trường hợp này, Chủ tịch
UBND cấp tỉnh giao cho Chánh Thanh tra tỉnh tiến hành xác minh, kết luận
và kiến nghị việc giải quyết.
Căn cứ vào báo cáo xác minh, kết luận và kiến nghị giải quyết của
Thủ trưởng các cơ quan chuyên môn hoặc Chánh Thanh tra tỉnh, Chủ tịch
UBND cấp tỉnh ra quyết định giải quyết khiếu nại hoặc uỷ quyền cho
Chánh Thanh tra tỉnh ra quyết định giải quyết.
Đối với trường hợp giải quyết đối với khiếu nại hành vi hành chính,
quyết định hành chính của chính Chủ tịch UBND tỉnh là quyết định giải
quyết khiếu nại lần đầu, còn trường hợp giải quyết khiếu nại mà cấp sở đã
12
giải quyết nhưng còn khiếu nại thì đây là quyết định giải quyết khiếu nại
cuối cùng.
Đối với những vụ việc phức tạp thì trước khi ký quyết định giải
quyết khiếu nại cuối cùng, Chủ tịch UBND cấp tỉnh phải tham khảo ý kiến
của Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ về những nội dung có
liên quan đén chức năng quản lý của bộ, ngành đó. Khi tham khảo ý kiến
phải nêu rõ nội dung vụ việc và những nội dung cần tham khảo ý kiến. Bộ,
cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ nhận được đề nghị tham khảo
ý kiến có trách nhiệm trả lời trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được
đề nghị.
- Chủ tịch UBND cấp tỉnh hoặc Chánh Thanh tra tỉnh được uỷ quyền
ra quyết định giải quyết ln có trách nhiệm gửi quyết định giải quyết khiếu
nại cho các bên có liên quan; nếu là quyết định giải quyết cuối cùng thì gửi
cho Tổng Thanh tra Nhà nước; nếu là quyết định giải quyết lần đầu thì gửi
cho Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan nganh bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc
tra cùng cấp tiến hành xác minh, kết luận, kiến nghị việc giải quyết.
Căn cứ vào báo cáo xác minh, kết luận, kiến nghị giải quyết của Thủ
trưởng cục, vụ, đơn vị chức năng hoặc Chánh Thanh tra bộ, Bộ trưởng ra
quyết định giải quyết khiếu nại. Đối với trường hợp giải quyết khiếu nại
đối với hành vi, quyết định hành chính của Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan
ngang bộ, thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ là quyết định giải quyết
khiếu nại lần đầu; còn đối với trường hợp giải quyết tái khiếu thì đây là
quyết định giải quyết cuối cùng.
14
- Bộ trưởng có trách nhiệm gửi quyết định giải quyết khiếu nại cho
các bên liên quan và Tổng Thanh tra Nhà nước; khi cần thiết thì công bố
công khai quyết định giải quyết đó.
- Bộ trưởng có trách nhiệm thi hành, tổ chức thi hành quyết định giải
quyết khiếu nại có hiệu lực pháp luật trong phạm vi trách nhiệm của mình;
kiểm tra, đôn đốc cơ quan đơn vị thuộc thẩm quyền quản lý của mình trong
việc thi hành quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật.
f. Thẩm quyền giải quyết khiếu nại của Thủ tướng Chính phủ
Thủ tướng Chính phủ có thẩm quyền giải quyết cuối cùng đối với:
- Khiếu nại mà Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ , cơ quan thuộc
Chính phủ đã giải quyết nhưng còn khiếu nại, trừ khiếu nại đã có quyết
định giải quyết cuối cùng.
- Khiếu nại đặc biệt phức tạp, liên quan đến nhiều địa phương, nhiều
lĩnh vực quản lý Nhà nước.
Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo việc giải quyết hoặc ra quyết định giải
quyết khiếu nại khi có kiến nghị của Tổng Thanh tra Nhà nước, hay khi
phát hiện quyết định giải quyết khiếu nại cuối cùng có vi phạm pháp luật
gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công
dân, cơ quan, tổ chức thì Thủ tướng Chính phủ ra quyết định giải quyết
hoặc giao cho Tổng Thanh tra Nhà nước, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan
ngang bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ xem xét, báo cáo để Thủ
- Tổng Thanh tra Nhà nước được uỷ quyền để giải quyết khiếu nại
thuộc thẩm quyền giải quyết của Thủ tướng Chính phủ; trường hợp có ý
kiến khác nhau giữa Tổng Thanh tra Nhà nước và Bộ trưởng, Thủ trưởng
cơ quan ngang bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ về việc giải quyết
16
thì Tổng Thanh tra Nhà nước báo cáo với Chính phủ để chỉ đạo việc giải
quyết hoặc kiến nghị Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo việc giải quyết, ra quyết
định giải quyết.
- Tổng Thanh tra Nhà nước có thẩm quyền thanh tra, kiểm tra việc
chấp hành về khiếu nại, tố cáo. Nếu phát hiện quyết định giải quyết khiếu
nại cuối cùng có vi phạm pháp luật gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước,
quyền và lợi ích của công dân, cơ quan, tổ chức thì yêu cầu người đã ra
quyết định xem xét lại quyết định giải quyết đó, trong thời hạn 15 ngày,
nếu yêu cầu đó không được thực hiện thì áp dụng các biện pháp theo thẩm
quyền để yêu cầu đó được thực hiện hoặc kiến nghị Thủ tướng Chính phủ
xem xét giải quyết.
- Thanh tra Nhà nước có Thẩm quyền ra quyết định giải quyết khiếu
nại cuối cùng đối với khiếu nại đã được Thủ trưởng các cơ quan thuộc
Chính phủ giải quyết nhưng còn khiếu nại, trừ khiếu nại đã có quyết định
giải quyết của Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ là Bộ trưởng.
1.4. Trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại về đất đai
1.4.1. Tiếp dân và tiếp nhận đơn, thư khiếu nại
Người khiếu nại làm đơn khiếu nại gửi đến các cơ quan Nhà nước có
thẩm quyền. Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền tổ chức tiếp công dân tại
các trụ sở tiếp công dân và tiệp nhận đơn thư khiếu nại.
Cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ,
quyền hạn của mình có trách nhiệm tiếp công dâu đến khiếu nại, tố cáo,
kiến nghị, phản ánh, tiếp nhận và giải quyết kịp thời, đúng pháp luật khiếu
nại, tố cáo của công dân.
Các cán bộ tại trụ sở tiếp dân phải hướng dẫn người khiếu nại thực
18
+ Quyết định hay hành vi hành chính bị khiếu nại không liên quan
đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khiếu nại;
+ Người không có đủ năng lực hành vi dân sự mà không có người
đại diện hợp pháp, trừ trường hợp có quy định khác;
+ Người đại diện không hợp pháp;
+ Thời hiệu khiếu nại, thời hạn khiếu nại tiếp theo đã hết;
+ Việc khiếu nại đã có quyết định giải quyết cuối cùng;
+ Việc khiếu nại đã được toà án thụ lý để giải quyết hoặc đã có bản
án, quyết định của toà án.
1.4.3. Giải quyết khiếu nại
a. Giải quyết khiếu nại lần đầu
Sau khi thụ lý đơn thư khiếu nại, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền
giải quyết tổ chức thẩm tra, xác minh, thu thập chứng cứ, kết luận; kết quả
giám định phải được lập thành văn bản.
Hoạt động thu thập chứng cứ, xác minh chứng cứ là một khâu vô
cùng quan trọng trong quá trình giải quyết khiếu nại, tố cáo. Nó đóng vai
trò quyết định đến chất lượng công tác giải quyết khiếu nại. Nhằm làm rõ
các tình tiết của vụ việc, làm căn cứ để đi đến kết luận về tính hợp pháp của
quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khiếu kiện.
Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo cử các
cán bộ chuyên môn, thanh tra viên hay các đoàn thanh tra thực hiện công
tác này. Hoạt động này được bắt đầu từ khi vụ việc khiếu nại được thụ lý
kết thúc khi có kết luận vụ việc và kiến nghị người có thẩm quyền ban hành
quyết định giải quyết khiếu nại.
- Phải xác định đối tượng chứng minh trong giải quyết khiếu nại,
chính là phải chứng minh những nội dung và các tình tiết có liên quan đến
19
quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khiếu nại, cần phải xác định
các nội dung sau:
dài hơn nhưng không quá 60 ngày, kể từ ngày thụ lý giải quyết.
- Căn cứ vào kết luận thẩm tra, xác minh chứng cứ, kiến nghị của
cán bộ chuyên môn, thanh tra viên, đoàn thanh tra, cơ quan Nhà nước có
thẩm quyền giải quyết khiếu nại ra quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu
bằng văn bản và phải gửi quyết định này cho những người liên quan; khi
cần thiết phải công bố công khai quyết định giải quyết khiếu nại.
b. Giải quyết tái khiếu
Theo quy định của Luật khiếu nại, tố cáo, trong thời hạn 30 ngày, kể
từ ngày hết hạn giải quyết khiếu nại (30 ngày) mà khiếu nại không được
giải quyết hoặc kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết lần đầu mà
người khiếu nại không đồng ý thì có quyền khiếu nại đến người có thẩm
quyền giải quyết khiếu nại tiếp theo hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại toà
án theo quy định của pháp luật; đối với vùng sâu, vùng xa đi lại khó khăn
thì thời hạn nói trên có thể dài hơn nhưng không quá 45 ngày.
Trong trường hợp tiếp tục khiếu nại, thì người khiếu nại phải gửi đơn
kèm theo bản sao quyết định giải quyết khiếu nại trước đó và các tài liệu
khác có liên quan cho người giải quyết khiếu nại tiếp theo.
- Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được khiếu nại thuộc
thẩm quyền giải quyết của mình, người giải quyết khiếu nại tiếp theo phải
thụ lý giải quyết và thông báo bằng văn bản cho cho các bên có liên quan,
trường hợp không thụ lý cũng phải nêu rõ lý do.
- Trong quá trình giải quyết khiếu nại các lần tiếp theo, nếu xét thấy
việc thi hành quyết định hành chính bị khiếu nại, quyết định giải quyết
21
trước đó sẽ gây hậu quả khó khắc phục, thì người giải quyết khiếu nại phải
ra quyết định hoặc kiến nghị cấp có thẩm quyền ra quyết định tạm đình chỉ
việc thi hành quyết định đó nhưng thời hạn tạm đình chỉ không vượt quá
thời gian còn lại của thời giải quyết và phải báo ngay cho các bên liên
quan.
- Thời hạn giải quyết mỗi lần tiếp theo không quá 45 ngày, kể từ
- Rút đơn khiếu nại trong bất kỳ giai đoạn nào của quá trình giải
quyết.
Người khiếu nại có nghĩa vụ sau:
- Khiếu nại đến đúng người có thẩm quyền.
- Trình bầy trung thực sự việc, cung cấp thông tin, tài liệu cho người
giải quyết khiếu nại, chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung trình bầy
và việc cung cấp các thông tin, tài liệu đó.
- Chấp hành nghiêm chỉnh quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu
lực pháp luật.
b. Quyền và nghĩa vụ của người bị khiếu nại
Người bị khiếu nại có các quyền sau:
- Đưa ra bằng chứng về tính hợp pháp của quyết định hành chính,
hành vi hành chính bị khiếu nại.
- Được nhận quyết định giải quyết khiếu nại của người giải quyết
khiếu nại tiếp theo đối với khiếu nại mà mình đã giải quyết nhưng người
khiếu nại vẫn tiếp tục khiếu nại.
Người bị khiếu nại có các nghiã vụ sau:
- Tiếp nhận, giải quyết khiếu nại đối với quyết định hành chính, hành
vi hành chính bị khiếu nại, thông báo bằng văn bản về việc thụ lý giải
23
quyết, gửi quyết định giải quyết cho các bên có liên quan và phải chịu trách
nhiệm trước pháp luật về việc giải quyết của mình. Trong trường hợp khiếu
nại do cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm chuyển đến thì phải thông
báo về việc giải quyết hoặc kết quả giải quyết cho cơ quan, tổ chức, cá
nhân đó theo quy định của Luật khiếu nại, tố cáo.
- Giải trình về quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khiếu
nại, cung cấp các thông tin, tài liệu liên quan khi cơ quan, tổ chức, cá nhân
có thẩm quyền giải quyết khiếu nại yêu cầu.
- Chấp hành nghiêm chỉnh quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu
lực pháp luật.
cáo thuộc thẩm quyền của Thủ trưởng cơ quan cùng cấp khi được giao.
+ Xem xét kết luận nội dung tố cáo mà thủ trưởng cơ quan cấp dưới
trực tiếp của Thủ trưởng cơ quan cùng cấp đã giải quyết nhưng có vi phạm
pháp luật. Trong trường hợp kết luận việc giải quyết tố cáo có vi phạm
pháp luật thì kiến nghị người đã giải quyết xem xét, giải quyết lại.
- Thẩm quyền của Tổng Thanh tra Nhà nước trong việc giải quyết
tố cáo:
+ Xác minh, kết luận nội dung tố cáo, kiến nghị biện pháp xử lý tố
cáo thuộc thẩm quyền giải quyết của Thủ tướng Chính phủ khi được giao.
- Xem xét, kết luận nội dung tố cáo mà Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ
quan ngang bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch UBND cấp
tỉnh đã giải quyết nhưng có vi phạm pháp luật. Trong trường hợp kết luận
việc giải quyết tố cáo có vi phạm pháp luật thì kiến nghị người đã giải
quyết xem xét, giải quyết lại.
2.3. Giải quyết tố cáo
25