BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
TRƯỜNG QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ ÁN NGHIÊN CỨU CẤP BỘ Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về mô hình tổ chức
và cơ chế hoạt động của Học viện Quản lý khoa học và công nghệ Cơ quan chủ trì
Trường Quản lý Khoa học và Công nghệChủ nhiệm
1.3 Phương pháp tiếp cận và quy trình triển khai thực hiện đề án 6
II. Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc thành lập Học viện Quản lý KH&CN 8
2.1 Thực trạng hoạt động quản lý KH&CN và đội ngũ cán bộ quản lý 8
2.1.1 Hoạt động quản lý KH&CN 8
2.1.2 Đội ngũ cán bộ quản lý KH&CN 13
2.1.3 Nhu cầu nhân lực trong quản lý KH&CN 16
2.2 Thực trạng hoạt động đào tạo quản lý KH&CN 22
2.2.1 Hoạt động đào tạo quản lý KH&CN trong nước 22
2.2.2 Chương trình đào tạo về quản lý KH&CN ở nước ngoài 29
2.3 Nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý KH&CN 32
III. Lựa chọn mô hình và cơ chế hoạt động của Học viện Quản lý KH&CN 38
3.1 Nghiên cứu về mô hình Học viện Quản lý KH&CN 38
3.1.1. Sự khác nhau giữa Học viện và Đại học: 38
3.1.2. Tham khảo các mô hình Học viện quốc tế 38
3.1.3 Tham khảo các mô hình Học viện tương tự hiện có của nước ta 42
3.1.4 Lựa chọn mô hình và phương án Học viện Quản lý KH&CN 44
3.2 Xác định đặc thù của Học viện Quản lý KH&CN 49
3.2.1 Mục tiêu thành lập học viện 49
3.2.2 Những đặc điểm chính của Học viện 50
3.2.3 Tên và địa điểm 52
3.2.4 Chức năng, nhiệm vụ của Học viện 52
3.2.5 Cơ cấu tổ chức 56
3.2.6 Chức năng, nhiệm vụ của các đơn vị trong Học viện 57
3.3. Hoạt động đào tạo của học viện 74
3.3.1 Đối tượng đầu vào, đầu ra 74
3.3.2 Chất lượng đào tạo, bồi dưỡng 78
3.3.2.1 Đội ngũ giảng viên của Học viện 78
3.3.2.2 Về tiêu chuẩn chất lượng đào tạo, bồi dưỡng 79
3.3.2.3 Văn bằng chứng chỉ 80
3.4 Chương trình đào tạo 80
Mục lục bảng biểu
Bảng 2.1: Trình độ đào tạo của đội ngũ cán bộ quản lý KH&CN 13
Bảng 2.2: Một số chỉ tiêu chủ yếu phát triển nhân lực thời kỳ 2011-2020 18
Bảng 2.3: Đội ngũ giảng dạy tại một số cơ sở đào tạo quản lý KH&CN 25
Bảng 2.4: Mức độ chú trọng vào các hình thức giảng dạy 26
Bảng 2.5: Nhu cầu đào tạo theo các loại hình đào tạo theo thời gian 34
Bảng 3.1: Số liệu thống kê công tác đào tạo của Trường năm 2010 48
Bảng 3.2: Khối kiến thức chung cho các chuyên ngành 85
Bảng 3.3: Chương trình đào tạo chuyên ngành Quản trị công nghệ 85
Bảng 3.4: Chương trình đào tạo chuyên ngành Chính sách KH&CN 86
Bảng 3.5: Chương trình đào tạo chuyên ngành Quản lý KH&CN 87
Bảng 3.6: Mô đun 1 89
Bảng 3.7: Mô đun 2 90
Bảng 3.8: Mô đun 3 91
Bảng 3.9: Mô đun 4 91
Bảng 3.10: Tổng hợp nhu cầu vốn đầu tư xây dựng Học viện 94
Bảng 3.11: Dự kiến phân bổ vốn thực hiện đầu tư (tr.đồng) 95
Bảng 3.12: Dự kiến nhu cầu kinh phí bảo đảm hoạt động hàng năm (tr.đồng) 96
Bảng 3.13: Nhu cầu đất xây dựng Học viện 98
iv
Danh mục các từ, cụm từ viết tắt và ký hiệu
Viết tắt Nghĩa từ hoặc cụm từ
CBCCVC Cán bộ, công chức, viên chức
CGCN Chuyển giao công nghệ
CHDCND Cộng hòa dân chủ nhân dân
XHCN Xã hội chủ nghĩa
CHLB Cộng hòa liên bang
WTO Tổ chức thương mại thế giới (World Trade Organization)
TSKH Tiến sỹ Khoa học
CHLB Cộng hòa Liên bang
SĐH Sau đại học 1
Lời nói đầu
Nguồn nhân lực hiện nay của Việt Nam chưa đáp ứng được yêu cầu của
phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế, chưa có những đóng góp lớn để
nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm. Chất lượng lao động còn rất
thấp, yếu kém, bất hợp lý về cơ cấu ngành, nghề. Để giải quyết vấn đề nhân lực
ch
ất lượng cao ở Việt Nam, phải tính đến tố chất lãnh đạo, tố chất quản lý, tố
chất chuyên gia, tố chất chuyên môn. Tố chất người lãnh đạo, quản lý là rất quan
trọng. Cơ quan, đơn vị, tổ chức tốt hay kém, chủ yếu phụ thuộc vào tố chất của
người lãnh đạo, quản lý.
Theo số liệu của Viện Khoa học Lao động - Xã hội, Bộ Lao động, Thươ
ng
binh và Xã hội, đến cuối năm 2007, tổng số lao động trong lĩnh vực KH&CN
bao gồm những người lao động trực tiếp trong lĩnh vực nghiên cứu và phát triển,
các viện, các trung tâm nghiên cứu và phát triển ứng dụng KH&CN của cả nước
là gần 40.000 người. Ngoài ra, còn một lực lượng nhất định trong tổng số gần
49.000 giảng viên trong các trường đại học, cao đẳng và các chuyên gia, kỹ sư
làm việc trong các doanh nghiệp cũng
được thu hút vào các hoạt động KH&CN.
Hiện nay, lực lượng này phân bố rất không đều giữa các vùng miền trong cả
nước. Có tới 92,2% cán bộ có trình độ TS và TSKH tập trung ở các cơ quan
trung ương và hai thành phố lớn là Hà Nội và thành phố HCM (Hà Nội có
63,8% TS và 75,9% TSKH), (thành phố HCM có 19,33% TS và 17,11%
bộ giảng dạy chuyên nghiệp về quản lý KH&CN còn chưa đáp ứng
được nhu
cầu học tập của xã hội và nâng cao trình độ của đội ngũ cán bộ làm công tác
quản lý KH&CN.
Hiện nay, toàn quốc có khoảng 53.000 cán bộ KH&CN, trong đó số cán bộ
làm công tác quản lý KH&CN đa phần cũng chưa được đào tạo bài bản, chưa
được đào tạo chuyên sâu về quản lý KH&CN. Nếu tỷ lệ cán bộ này cần thay thế
do nguyên nhân tự nhiên khách quan (nghỉ hưu, chuyển công tác ) hàng năm
trung bình chỉ là 1%, thì tổng nhu cầ
u bổ sung để thay thế của toàn hệ thống này
cũng lên đến 530 người năm. Mặt khác, nếu mỗi huyện cần có 01 cán bộ quản lý
KH&CN chuyên trách thì nhu cầu đào tạo cán bộ quản lý KH&CN hàng năm sẽ
khoảng trên 1.000 người. Như vậy, nhu cầu đào tạo mới và đào tạo lại nhằm
nâng cao trình độ nguồn lực tham gia hoạch định và tổ chức thực hiện chính
sách, xây dựng
chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển KH&CN ngang
tầm với các nước trong khu vực và quốc tế là rất lớn.
Chương trình hành động của Bộ KH&CN triển khai thực hiện Chiến lược
phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011 - 2020 (ban hành kèm theo Quyết định
số 809/QĐ-BKHCN ngày 25/3/2011) cũng đã đặt ra mục tiêu: “Phát triển nhân
lực KH&CN có trình độ cao, các kỹ sư trưởng, tổng công trình sư và các tập thể
khoa học m
ạnh; đến năm 2020 tỷ lệ cán bộ nghiên cứu - phát triển trong các tổ
chức KH&CN đạt 12 người trên 10.000 dân; hình thành hệ thống 10.000 doanh
nghiệp KH&CN đi tiên phong trong hoạt động nghiên cứu, phát triển sản phẩm,
công nghệ mới”. Để thực hiện được mục tiêu này thì công tác đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ KH&CN trong đó, đặc biệt là đội ngũ cán bộ quản lý KH&CN
cần được phát triển về số lượng để
đáp ứng được quy mô phát triển KH&CN và
động riêng so với nhiều lĩnh vực xã hội khác. Riêng ở Việt Nam, không phải ai
cũng hiểu đúng về vai trò của cán bộ quản lý KH&CN. Bởi trên thự
c tế ở Việt
Nam hiện nay chưa coi quản lý KH&CN là một nghề, cho rằng người quản lý
không nhất thiết phải là người được đào tạo một cách chính quy và cũng chưa có
một hệ thống tiêu chuẩn đánh giá về người quản lý KH&CN. Đại bộ phận cán
bộ làm công tác quản lý KH&CN từ trước tới nay chủ yếu được lựa chọn từ
những cán bộ chuyên môn công tác lâu năm, hoạt độ
ng chủ yếu dựa vào năng
4
lực bản thân và tích lũy kinh nghiệm qua thực tiễn hoạt động mà không được
đào tạo chính quy, bài bản về nghiệp vụ, kỹ năng quản lý KH&CN. Theo yêu
cầu và xu thế thời đại hiện nay, người quản lý KH&CN phải được đào tạo cơ
bản về trình độ và kỹ năng quản lý. Hoạt động quản lý, trong đó có quản lý
KH&CN đang trở thành một nghề hấp dẫn và nhận đượ
c sự quan tâm đặc biệt
của xã hội trong xu thế phát triển của thời đại.
Bản chất của hoạt động quản lý KH&CN là sự vận dụng có ý thức các quy
luật và đặc điểm của sự vận động phát triển nội tại của KH&CN, tác động qua
lại giữa nó với các hoạt động khác nhằm tạo môi trường tốt hơn cho sự phát
triển KH&CN. Quản lý KH&CN là một lĩ
nh vực có tính chất liên ngành, dựa
trên sự vận dụng tổng hợp lý luận và phương pháp của nhiều môn khoa học như:
Triết học, Khoa học quản lý, Kinh tế học, Lôgíc học, Xã hội học, Tâm lý học,
Điều khiển học, Lý thuyết thông tin, Lý thuyết hệ thống, Đồng thời, khoa học
về quản lý KH&CN cũng hình thành một hệ thống khái niệm, nội hàm riêng của
mình. Việc quản lý các hoạt động KH&CN
ở mọi cấp đều sử dụng kiến thức, kỹ
năng chuyên môn về quản lý KH&CN, mà những kiến thức và kỹ năng chuyên
đầu cách đây hơn 50 năm, chủ yếu ở các nước Bắc Mỹ, Châu Âu và Liên Xô cũ
(theo các nhà nghiên cứu, chương trình đầu tiên đào tạo có hệ thống về quản lý
công nghệ được biết đến từ năm 1949). Trong hệ thống đào tạo của nhiều nước
phương Tây, ngành học này thường có tên chung là “Technology Management”,
tứ
c là quản lý công nghệ. Quản lý công nghệ bao quát tất cả các giai đoạn của
vòng đời công nghệ cho nên có phạm vi sâu rộng, từ nghiên cứu đổi mới công
nghệ đến khai thác vận hành kinh tế trong sản xuất kinh doanh. Công nghệ lại có
yếu tố con người, tổ chức nên đối với quản lý công nghệ, người ta chú ý cả
những khía cạnh xã hội, nhân văn. Thực tế đã cho thấy: Quản lý công nghệ là
một ngành họ
c mới hình thành do thực tiễn công cuộc phát triển đòi hỏi, là sự
giao thoa của KHXH&NV như quản lý, kinh tế học, chính trị học, xã hội học và
các hệ thống kỹ thuật với hạt nhân là khoa học kỹ thuật.
Những nội dung nêu trên cho thấy vị trí, vai trò và tầm quan trọng của công
tác quản lý KH&CN ở Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh
tế quốc tế. Đồng thời cũng đề cập đến ý nghĩa và yêu cầu cấp bách của việc đào
tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực quản lý KH&CN, tạo nền tảng và động lực cho
CNH, HĐH, phát triển nhanh, bền vững đất nước, hướng t
ới mục tiêu nước ta cơ
bản là một nước công nghiệp vào năm 2020 như Nghị quyết Đại hội XI nêu ra.
1.2 Mục tiêu của đề tài
Nghiên cứu khảo sát nhận dạng nhu cầu và xây dựng các chương trình
khung đào tạo các chuyên ngành đại học và cao học về quản lý KH&CN. Xây
dựng đề án phát triển Trường Quản lý KH&CN thành Học viện Quản lý
KH&CN đáp ứng nhu cầu cán bộ quản lý KH&CN cho phát triển của đất n
ước
trong giai đoạn CNH, HĐH và hội nhập quốc tế.
tượng này. Nhóm nghiên cứu đã khai thác cơ sở dữ liệu của đề tài “Điều
tra đánh giá hiện trạng trình độ công nghệ, xây dựng cơ sở dữ liệu và
định hướng giải pháp đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp trên
địa bàn các tỉnh, thành phố
: Đồng Nai, Hải Phòng, Quảng Bình,
Bình Định, Quảng Ngãi, Thái Nguyên, Sơn La” của Trường Đại học
Bách Khoa Hà Nội thực hiện trong các năm từ 2003 đến 2010.
• Trong nội dung thứ ba, nhóm nghiên cứu tiến hành khảo sát các chương
trình đào tạo hiện có của trường Quản lý KH&CN, các cơ sở đào tạo
7
trong nước có đào tạo sau đại học, đại học và bồi dưỡng ngắn hạn cho
đội ngũ làm công tác quản lý KH&CN. Thông qua nghiên cứu này,
nhóm nghiên cứu sẽ thu thập các thông tin về các chương trình đào tạo
dài hạn và ngắn hạn, các môn học có liên quan đang được triển khai,
nhận dạng các cơ sở đào tạo có thể tham gia vào đề án và xác định danh
sách đội ngũ giảng viên,…
• Nội dung nghiên cứu thứ tư được triể
n khai là nghiên cứu kinh nghiệm
triển khai công tác đào tạo đội ngũ cán bộ và chuyên gia về quản lý
KH&CN của các nước. Mục tiêu của nghiên cứu là tham khảo các
chương trình đào tạo cho từng đối tượng cán bộ quản lý và thông qua đó
thiết lập mối quan hệ hợp tác quốc tế trong lĩnh vực đào tạo. Học hỏi
kinh nghiệm, trao đổi cán bộ và đào tạo các chuyên gia đầu ngành là các
nội dung sẽ được th
ể hiện trong đề án.
• Nội dung thứ năm được triển khai là xây dựng chương trình khung các
chuyên ngành đào tạo đại học, cao học, bồi dưỡng ngắn hạn và các
chương trình hoạt động của Học viện Quản lý KH&CN cùng dự thảo Đề
án thành lập “Học viện Quản lý KH&CN”.
trào lưu hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực, nhiều doanh nghiệp đã nhận thức
được chỉ có đổi mới công nghệ mới đủ sức cạnh tranh và tồn tại được trong nền
kinh tế thị trường. Chủ trương đó
đã thúc đẩy và tạo điều kiện để các ngành các
cấp, các tầng lớp trí thức, sinh viên, doanh nhân, kể cả nông dân, nghệ nhân, chủ
trang trại,… nghiên cứu ứng dụng tri thức khoa học, kỹ thuật, tiếp nhận CGCN
với tinh thần làm giàu cho mình, cho quê hương, cải thiện điều kiện lao động,
tạo sản phẩm mới có giá trị cao, phục vụ tiêu dùng và xuất khẩu. Doanh nghiệp
9
đã trở thành chủ thể của đổi mới công nghệ, nhân tố quan trọng trong hệ thống
đổi mới quốc gia (National Innovation System).
Trong công tác đào tạo, với sự quan tâm đầu tư của Đảng và Nhà nước,
trong nhiều thập kỷ qua, Việt Nam đã đào tạo được trên 3,6 triệu cán bộ có trình
độ đại học và cao đẳng trở lên với trên 54 nghìn người có trình độ trên đại học
(trên 18 nghìn tiến sỹ và 36 nghìn thạc sỹ) và kho
ảng hơn 2 triệu công nhân kỹ
thuật, trong đó, có khoảng 75 nghìn người đang làm việc trực tiếp trong lĩnh vực
KH&CN thuộc khu vực Nhà nước (Chiến lược phát triển KH&CN giai đoạn
2011 - 2020). Đây là nguồn lực quan trọng cho hoạt động KH&CN của đất
nước. Thực tế cho thấy lực lượng này tiếp thu tương đối nhanh và làm chủ được
tri thức, công nghệ hiện đại trong một số ngành và l
ĩnh vực. Trong đó, đội ngũ
quản lý KH&CN các cấp, các ngành và địa phương hiện nay có khoảng 4.000
người (chưa kể số cán bộ quản lý KH&CN tại các doanh nghiệp, tổ chức kinh
tế, tập đoàn kinh tế và khối trường đại học, viện nghiên cứu - số liệu thống kê
năm 2010, Bộ KH&CN).
Về phát triển các tổ chức KH&CN: Thời gian qua, đã xây dựng được
một mạng l
ưới các tổ chức KH&CN với trên 1.500 tổ chức nghiên cứu và phát
góp phần nâng cao năng lực nội sinh trong một số lĩnh vực công nghệ tiên tiến,
nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả của nhiều ngành kinh tế. Đặc biệt
các ngành công nghệ thông tin, bưu chính viễn thông của nướ
c ta đã có những
bước phát triển vượt bậc và đạt trình độ cao, phục vụ ngày càng nhiều, có hiệu
quả cho phát triển sản xuất, nâng cao đời sống của nhân dân.
Nhìn chung, các định hướng, nội dung, nhiệm vụ KH&CN đã bám sát
Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Kết quả hoạt động KH&CN
đã đáp ứng tốt hơn, kịp thời hơn nhu cầu phát triển kinh tế - xã h
ội, nhất là phục
vụ trực tiếp quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế (tái cấu trúc nền kinh tế và
chuyển đổi mô hình tăng trưởng) và hội nhập quốc tế.
Theo báo cáo của Bộ KH&CN, trong công tác quản lý, Bộ KH&CN đã xây
dựng và hoàn thiện về cơ bản hệ thống văn bản pháp qui đầy đủ, đồng bộ, tạo
hành lang pháp lý và môi trường thuận lợi cho hoạt động KH&CN cũng như ti
ếp
cận về cơ chế, chính sách, các mô hình quản lý hiện đại phù hợp với thông lệ
quốc tế, đặc biệt thành công ở nhiều nước có nền khoa học phát triển như: Hoa
Kỳ, Nhật Bản, CHLB Đức, Hàn Quốc, Trung Quốc.
Như vậy, có thể khẳng định là KH&CN nước ta, dù mới phát triển và
không khỏi chập chững trong những bước đi ban đầu nhưng đã thực sự góp phần
đáng kể vào đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đặc biệt trong
những năm gần đây. Hệ thống các tổ chức KH&CN được củng cố và nâng cao
hiệu quả theo hướng chuyển sang hoạt động theo cơ chế tự chủ hoặc chuyển
sang doanh nghiệp. Hoạt động hợp tác, đầu tư với nước ngoài được khuyến
khích. Đã triển khai nhiều chươ
ng trình, đề án lớn về: đổi mới cơ chế quản lý
KH&CN, phát triển công nghệ quốc gia; nâng cao năng suất, chất lượng sản
phẩm hàng hóa của doanh nghiệp Việt Nam; hỗ trợ phát triển tài sản trí tuệ; ứng
p. Phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị tổng kết năm 2011 và phương
hướng nhiệm vụ năm 2012 (ngày 10/01/2012), thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cho
rằng, chất lượng đội ngũ cán bộ khoa học hiện nay còn chưa đáp ứng được yêu
cầu đặt ra; việc triển khai một số chương trình, dự án, đề án lớn về KH&CN còn
chậm; các phòng thí nghiệm được đầu tư kinh phí lớn song ch
ưa được khai thác
hết công suất… là những hạn chế mà Bộ KH&CN cần lưu ý và từng bước khắc
phục.
Nhiều nhà quản lý ở các cấp, các ngành và bản thân các nhà khoa học chưa
nhận thức được hết đặc tính và sự khác biệt giữa hai quá trình nghiên cứu khoa
học và thương mại hóa kết quả nghiên cứu cũng như tác động qua lại hữu cơ của
12
hai quá trình này trong một chu trình thống nhất, từ đó có những nhận định,
đánh giá khác nhau về quá trình nghiên cứu, việc thương mại hoá các kết quả
nghiên cứu, có khi còn mâu thuẫn lẫn nhau. Bên cạnh đó, tình trạng quan liêu ỷ
lại vào sự bao cấp của Nhà nước đã ăn sâu vào tâm thức nhiều tổ chức nghiên
cứu, nhà khoa học; tinh thần làm việc của một bộ phận nhà khoa học còn thiếu
nhiệt huyết và cảm hứng sáng t
ạo, thiếu chủ động để vượt qua khó khăn, thách
thức
So sánh với các nước trong khu vực và trên thế giới, nước ta còn khoảng
cách rất lớn về tiềm lực và kết quả hoạt động KH&CN. Tỷ lệ cán bộ nghiên cứu
trong dân số và mức đầu tư cho NCKH theo đầu người thấp, các kết quả nghiên
cứu – phát triển theo chuẩn mực quốc tế rất ít. Nhìn chung, năng lực KH&CN
nước ta thấ
p, chậm giải đáp kịp thời nhiều vấn đề của thực tiễn đổi mới, chưa
gắn kết chặt chẽ và đáp ứng được yêu cầu của phát triển kinh tế - xã hội. Trình
độ công nghệ của nhiều ngành sản xuất lạc hậu.
Ngoài những công nghệ tiên tiến được đầu tư mới trong một số ngành, lĩnh
a thực sự gắn kết
chặt chẽ với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Công tác đánh giá nghiệm thu
kết quả nghiên cứu chưa tương hợp với chuẩn mực quốc tế. Cơ chế quản lý các
tổ chức KH&CN không phù hợp với đặc thù của lao động sáng tạo và thể chế
kinh tế thị trường định hướng XHCN. Chưa có những chính sách hữu hiệu tạo
động l
ực đối với cán bộ KH&CN và chính sách thu hút, trọng dụng nhân tài. Cơ
chế quản lý tài chính trong hoạt động KH&CN chưa tạo thuận lợi cho nhà khoa
học, chưa huy động được nhiều nguồn vốn ngoài ngân sách Nhà nước; cơ chế tự
chủ về tài chính của các tổ chức KH&CN chưa đi liền với tự chủ về quản lý
nhân lực nên hiệu quả còn hạn chế. Thị trường KH&CN chậm phát triển.
Tóm l
ại, công tác QLNN về KH&CN còn chưa đổi mới kịp so với yêu cầu
của nền kinh tế thị trường. Nhân lực KH&CN và đội ngũ cán bộ quản lý
KH&CN còn thiếu và yếu trong chuyên môn và nghiệp vụ, đặt ra sự cần thiết và
nhu cầu rất lớn về đào tạo và đào tạo lại lực lượng này. Việc đổi mới quản lý
KH&CN ở nước ta trong giai đoạn hiện nay là một công tác vừa mang t
ầm chiến
lược, vừa là khâu đột phá để nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động
KH&CN.
2.1.2 Đội ngũ cán bộ quản lý KH&CN
Theo số liệu thống kê năm 2010 của Vụ Tổ chức cán bộ - Bộ KH&CN,
tổng số cán bộ hiện đang làm công tác quản lý KH&CN tại các Bộ, ngành Trung
ương và tại Sở KH&CN các tỉnh, thành phố trên phạm vi cả nước là 3.934
người, trong đó có 796 cán bộ thuộc các Bộ, ngành Trung ươ
ng và 3.138 cán bộ
thuộc các Sở KH&CN địa phương. Về trình độ đào tạo của đội ngũ cán bộ quản
lý KH&CN hiện nay đã được nâng lên rõ rệt (xem Bảng 2.1).
Bảng 2.1: Trình độ đào tạo của đội ngũ cán bộ quản lý KH&CN
Trình độ đào tạo
491
(13%)
3.015
(77%)
284
(7%)
Nguồn: Thống kê 2010
Cán bộ quản lý KH&CN có 16% trình độ từ thạc sỹ trở lên và 77% trình độ
đại học; cán bộ quản lý KH&CN ở các địa phương có 84% trình độ đại học.
Như vậy, chất lượng của đội ngũ cán bộ quản lý KH&CN cần được xem xét một
cách nghiêm túc.
Tỷ lệ cán bộ quản lý KH&CN có 4 người trên 100.000 dân và có 2 người
trên 1000 cán bộ hoạt động trong lĩnh vực KH&CN. Đây là một tỷ lệ rất thấp so
vớ
i các nước trong khu vực. Đặc biệt, hiện nay rất nhiều huyện trên cả nước vẫn
chưa có cán bộ quản lý KH&CN chuyên trách và đa phần là kiêm nhiệm.
Mặc dù có đến 93% số cán bộ, công chức, viên chức ngành KH&CN đã tốt
nghiệp đại học trở lên, song thực chất kiến thức và năng lực về nghiên cứu
hoạch định chính sách, quản lý KH&CN còn thiếu và yếu. Đại bộ phận số cán
bộ quả
n lý KH&CN này chưa được đào tạo bài bản và có bằng cấp chính quy về
khoa học quản lý mà chủ yếu được lựa chọn, bổ nhiệm từ những cán bộ công tác
lâu năm hoặc từ những cán bộ đã tốt nghiệp đại học và cao đẳng, sau đó qua lớp
bồi dưỡng nghiệp vụ ngắn ngày để có thể đáp ứng theo tiêu chuẩn ngạch, bậc
công chức Nhà nước. Về công tác chuyên môn, theo k
ết quả khảo sát của nhóm
nghiên cứu thì vẫn có nhiều ý kiến được hỏi cho rằng chưa có sự phù hợp giữa
vị trí công việc đảm trách và chuyên môn được đào tạo, trong đó với cán bộ
phòng ban là 7,1% khẳng định hoàn toàn không đồng ý và 7,1% cho rằng không
đồng ý; và đối với cán bộ chuyên môn thì 71,% hoàn toàn không đồng ý, 2,4%
chính chỉ có tính chất đối phó. Bên cạnh đó, tính năng động, kỹ năng giao tiếp
và khả năng xử lý thông tin của cán bộ quản lý KH&CN còn yếu và có khi còn
gây cản trở đối với việc đổi mới và phát triển KH&CN. Một số cán bộ quản lý
KH&CN ở các địa phương bị động, trông chờ vào sự “cầm tay chỉ việc” củ
a cấp
trên, chậm trễ và khó khăn trong việc phát hiện và giải quyết các vấn đề thực
tiễn đặt ra từ cơ sở do thiếu kiến thức và kỹ năng quản lý hoạt động KH&CN.
Mặt khác, nếu nhìn từ góc độ bao quát hơn có thể thấy, ở Việt Nam hoạt
động nghiên cứu phát triển lý luận và phương pháp luận của Khoa học quản lý
và quản lý KH&CN chưa được chú ý. Lý luận về khoa h
ọc quản lý phát triển
chậm so với khu vực và thế giới, chưa có tác dụng lớn, định hướng cho hoạt
động thực tiễn. Việc nghiên cứu hệ thống quản lý KH&CN cũng như các chính
sách công tương ứng chưa được quan tâm đúng mức và thiếu tính chuyên
nghiệp.
Để khắc phục tình trạng trên đây, một mặt phải có cách làm hệ thống hơn
và mới hơn trong việc xác định tiêu chuẩn và phươ
ng thức tuyển chọn người
làm nghề quản lý KH&CN và công chức ngành KH&CN. Mặt khác, phải tổ
16
chức hệ thống nhà trường đào tạo cán bộ quản lý ở trình độ cao, đảm bảo có
kiến thức và phương pháp quản lý hiện đại. Do đó, việc thành lập một Học viện
Quản lý KH&CN tương tự như Học viện Quản lý KH&CN Trung Quốc tại
Thượng Hải (được trình bày ở phần sau) có thể được coi là phù hợp nhất.
Tóm lại, tầm quan trọng của hoạt động qu
ản lý KH&CN và đội ngũ cán bộ
quản lý thể hiện rõ ở vị trí trọng tâm và vai trò quyết định trong phát triển KT-
XH nước ta. Để làm tốt công tác quản lý KH&CN, trước hết phải đổi mới cơ chế
quản lý KH&CN, đổi mới cơ bản về tư duy và phương thức quản lý KH&CN,
2.1.3.1 Quan điểm chung về phát triển nhân lực Việt Nam giai đoạn 2011-2020
Theo tính toán của Chính phủ, hiện nay nhân lực chất lượng cao lĩnh vực
Công nghệ thông tin (CNTT) đang dừng ở con số 180.000 người. Sau 4 năm
nữa, con số này phải tăng lên 350.000 người. Và năm 2020, nhân lực chất lượng
cao lĩnh vực này cần phải có là 550.000 người.
Tiếp đến là chỉ tiêu phát triển nhân lực giảng viên các trường đại học, cao
đẳng
. Cụ thể, đến năm 2015 nhân lực trình độ cao trong lĩnh vực này phải đạt
mốc 100.000, và đến 2020 phải đạt là 160.000 người.
Lĩnh vực được xác định cần nhân lực chất lượng cao kế tiếp đó là Tài chính
- Ngân hàng. Mục tiêu đưa ra đến năm 2015, phải có 100.000 người và tăng
thêm 20.000 trong 5 năm tiếp theo.
Lĩnh vực Khoa học - Công nghệ đứng thứ tư với chỉ tiêu đến năm 2015 c
ần
có 60.000 người, và đến năm 2020 tăng lên 80.000 người.
Lĩnh vực Y tế - chăm sóc sức khỏe cũng nằm trong "tốp 6" cần nhân lực
trình độ cao. Theo đó, đến năm 2015, nhân lực ngành Y phải đạt 70.000 người
và đến năm 2020 tăng lên 80.000.
Đáng lưu ý, nhân lực quản lý Nhà nước, hoạch định chính sách và luật
quốc tế đến năm 2015 là 18.000 người và đến năm 2020 là 20.000 người.
Chiến lược của Chính ph
ủ cũng đề ra đến năm 2015 thì số trường dạy nghề
đạt đẳng cấp quốc tế phải đạt là 5 trường và đến năm 2020 phải có trên 10
trường. Số trường đại học xuất sắc trình độ quốc tế đến năm 2020 phải đạt trên 4
trường.
Tỷ lệ lao động qua đào tạo đến năm 2015 là 55%, đến năm 2020 phải đạt
70%. Tương tự, tỷ
lệ lao động qua đào tạo nghề phải đạt 40% (năm 2015) và
55% (năm 2020).
Chiến lược phát triển nhân lực Việt Nam thời kỳ 2011 - 2020 là chiến lược
viên)
200 300 400
4. Số trường dạy nghề đạt đẳng cấp quốc tế
(trường)
-5 >10
5. Số trường ĐH xuất sắc trình độ quốc tế
(trường)
>4
6. Nhân lực có trình độ trong các lĩnh vực đột
phá (người)
- Quản lý nhà nước, hoạch định chính sách và
luật quốc tế
15.000 18.000 20.000
- Giảng viên ĐH, CĐ 77.500 100.000 160.000
- Khoa học - Công nghệ 40.000 60.000 100.000
- Y tế, chăm sóc sức khỏe 60.000 70.000 80.000
- Tài chính - Ngân hàng 70.000 100.000 120.000
- Công nghệ thông tin 180.000 350.000 550.000
Nguồn: Chiến lược phát triển nhân lực Việt Nam thời kỳ 2011-2020
Để triển khai Chiến lược quan trọng này, Chính phủ đã ban hành nhiều văn
bản hướng dẫn và tổ chức thực hiện việc quy hoạch phát triển nhân lực, bắt đầu
bằng việc thí điểm xây dựng quy hoạch nhân lực tại một số Bộ, ngành, địa
phương đến việc xây dựng Quy hoạch nhân lực Việt Nam đến năm 2020 mà nội
dung các văn bản này có thể khai thác vận dụ
ng trong việc xây dựng Đề án
thành lập Học viện Quản lý KH&CN.
19
Trong giai đoạn của 2000 - 2010 Chính phủ đã có các văn bản chỉ đạo
phương cần phối hợp chặt chẽ với Bộ Giáo dục và Đào tạo để lập Bản đồ quy
hoạch các cơ sở đào tạo cho ngành mình, địa phương mình, bao gồm các cơ sở
hiện có, các cơ sở dự kiến xây dựng mới (các cơ sở thuộc quản lý trực tiếp của
các Bộ và địa phương khác nhau); đồng thời phối hợp v
ới Bộ Kế hoạch và Đầu
tư để xác định nhu cầu và nguồn vốn đầu tư xây dựng các cơ sở đào tạo công
lập. Đi cùng với Bản đồ quy hoạch này là Dự báo nhu cầu phát triển đội ngũ
giáo viên cho ngành mình, địa phương mình.”.