VIỆN NGHIÊN CỨU CƠ KHÍ BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI
NGHIÊN CỨU CHẾ TẠO CÁC THANH ĐIỆN CỰC PHÓNG
TRONG CÁC TRƯỜNG LỌC BỤI TĨNH ĐIỆN TRÊN CƠ SỞ CÁC
ỐNG KIM LOẠI ĐỊNH HÌNH KHÔNG HÀN CNĐT: PHẠM VĂN QUẾ
9709
2.3.1 Lọc bụi tĩnh điện loại UG 26
2.3.2 Lọc bụi tĩnh điện loại EGA 27
2.3.3 Lọc bụi tĩnh điện loại UGT 27
2.4 Ảnh hưởng của các thành phần cấu tạo đến hoạt động
của lọc bụi tĩnh điện
28
2.4.1 Mô tả nguyên lý 28
2.4.2 Ảnh hưởng của các tấm điện cực lắng 29
2.4.3 Ảnh hưởng của các thanh điện cực phóng 31
Kết luận chương 2 36
Chương 3 - Cơ sở lý thuyết chế tạo thanh cực phóng
trên cơ sở ống kim loại định hình không hàn
37
(1) (2) (3)
3.1 Quá trình uốn kim loại 37
3.1.1 Khái niệm 37
3.1.2 Đặc điểm qua trình uốn 37
3.1.3 Bán kính uốn lớn nhất và bán kính uốn nhỏ nhất cho
phép
40
3.1.4 Tính đàn hồi khi uốn 41
3.2 Cán uốn tạo hình và những đặc điểm trong qua trình
chế tạo
45
3.2.1 Những đặc trưng cơ bản của công nghệ cán uốn 45
3.2.2 Những yêu cầu cơ bản khi thực hiện công nghệ cán uốn 48
3.2.3 Phôi dùng cho cán uốn 49
3.2.4 Điều kiện kỹ thuật của sản phẩm cán uốn 53
3.3 Công nghệ cán uốn 53
Nâng cao tỷ suất nội địa hoá thiết bị nhà máy nhiệt điện đốt than là
nhiệm vụ quan trọng trong chiến lược phát triển ngành sản xuất nhiệt diện
giai đoạn 2010 đến năm 2020 của Chính phủ.
Nhằm tạo ra bước chuyển biến tích cực về công tác nghiên cứu thiết kế, chế
tạo thiết bị cho ngành nhiệt điện, tạo điều kiện để chúng ta t
ừng bước làm chủ
dây chuyền công nghệ sản xuất nhiệt điện.
Đề tài: “Nghiên cứu chế tạo các thanh điện cực phóng trong các trường
lọc bụi tĩnh điện trên cơ sở các ống kim loại định hình không hàn”, đi sâu
nghiên cứu tính toán thiết kế và công nghệ chế tạo một trong số những sản
phẩm quan trọng của thiết bị lọc bụi tĩnh điệ
n cho dây chuyền nhà máy nhiệt
điện đốt than công suất 55÷300MW, lưu lượng khí thải đến 200.000m
3
/h và
làm cơ sở cho công tác nghiên cứu thiết kế, chế tạo thiết bị lọc bụi có công
suất lớn hơn trong và ngoài ngành sản xuất nhiệt điện.
Trong khuôn khổ báo cáo này chúng tôi chỉ giới hạn ở nội dung báo
cáo kết quả nghiên cứu chế tạo các thanh điện cực phóng trong các trường lọc
bụi tĩnh điện trên cơ sở các ống kim loại định hình không hàn trong dây
chuyền nhà máy nhiệt đi
ện đốt than công suất 55÷300MW, lưu lượng khí thải
đến 200.000m
3
/h.
Báo cáo gồm 4 phần:
- Tổng quan
- Nghiên cứu thiết bị lọc bụi tĩnh điện (LBTĐ)
- Cơ sở lý thuyết chế tạo ống kim loại định hình không hàn
Đềtài:“Nghiêncứuchếtạocácthanhđiệncựcphóngtrongcáctrườnglọcbụitĩnhđiệntrêncơ
sởcácốngkimloạiđịnhhìnhkhônghàn”
- 3 -
CHƯƠNG 1 - TỔNG QUAN
1.1. Đặt vấn đề
Xây dựng các nhà máy nhiệt điện đốt than đã được Chính phủ phê duyệt
nằm trong chiến lược phát triển công nghiệp điện năng đến năm 2015 và định
hướng phát triển cho đến năm 2020. Mục tiêu phát triển của ngành công
nghiệp điện là đáp ứng đủ nhu cầu sử dụng năng lương của thị trường trong
nước và có thể xuất khẩ
u, phấn đấu đưa ngành điện Việt nam thành một
quy trình lắp ráp, khảo nghiệm và vận hành thiết bị lọc bụi tĩnh điện công suất
lớn cho dây chuyền sản xuất nhiệt điện đốt than.
- Là cơ sở để nghiên cứu thiết kế, chế tạo nhiều loại phụ kiện của thiết
bị lọc bụi tĩnh điện trong dây chuyền sản xuất nhiệt điện đốt than có công suất
l
ớn hơn (đến 600MW) và thiết kế, chế tạo thiết bị lọc bụi tĩnh điện cho các
ngành công nghiệp khác, nâng cao tỷ lệ nội địa hóa tới 70-75% về khối lượng
và 40-50% về giá trị.
1.3. Phạm vi và nội dung nghiên cứu
1.3.1. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là Nghiên cứu chế tạo các thanh điện cực
phóng trong các trường lọc bụi tĩnh điện trên cơ s
ở các ống kim loại định hình
không hàn cho dây chuyền nhà máy Nhiệt điện đốt than công suất
55÷300MW, lưu lượng khí thải đến 200.000m
3
/h.
1.3.2. Nội dung nghiên cứu của đề tài
- Nghiên cứu thiết kế thiết các thanh điện cực phóng trong các trường lọc
bụi tĩnh điện trên cơ sở các ống kim loại định hình không hàn;
- Nghiên cứu thiết kế công nghệ chế tạo trên cơ sở bản thiết kế kỹ thuật
phù hợp với trình độ công nghệ thực tế của Việt Nam;
- Chế tạo sản phẩm áp d
ụng ngay cho hệ thống lọc bụi tĩnh điện trong tổ
máy phát 55MW của Công ty TNHH1TV Nhiệt điện Uông bí;
- Khảo nghiệm và đánh giá các chỉ tiêu kỹ thuật của sản phẩm.
1.4. Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu của đề tài
1.4.1. Cách tiếp cận
- Khảo sát các điện cực phóng của thiết bị lọc bụi tiên tiến trong và ngoài
nước
- Viện Nghiên cứu Cơ khí – Bộ Công Thương (NARIME)
Đây là một Viện hàng đầu của Bộ Công Thương về lĩnh v
ực cơ khí, là
đơn vị nghiên cứu triển khai áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào thực tế
sản xuất. Viện NARIME nhiều năm qua đã thiết kế chế tạo nhiều phụ tùng và
thiết bị cho dây chuyền nhà máy nhiệt điện, xi măng như chế tạo hệ cực lắng,
cực phóng theo mẫu dạng thanh thường không phức tạp phục vụ công tác sửa
chữ
a, thay thế phụ tùng.
Hiện nay với thiết bị lọc bụi tĩnh điện, Narime đang hợp tác với một số
hãng trên thế giới: hãng KONDOR ECO – SFNHIOGAZ (LBNga), LURGI
(Đức), về công tác thiết kế và chế tạo thiết bị tại Việt Nam, trong đó có lọc
bụi tĩnh điện của dự án nhiệt điện Vũng Áng, công suất tổ máy là 600MW.
Đềtài:“Nghiêncứuchếtạocácthanhđiệncựcphóngtrongcáctrườnglọcbụitĩnhđiệntrêncơ
sởcácốngkimloạiđịnhhìnhkhônghàn”
- 6 -
Tuy nhiên những phụ tùng phức tạp: cực phóng và cực lắng đang phải nhập
khẩu từ nước ngoài.
- Viện Máy và Dụng cụ công nghiệp (IMI) – Bộ Công Thương
Đây là một Viện đã chuyển đổi hoạt động theo hình thức “Công ty mẹ
– công ty con” cũng có nhiều kinh nghiệm trong việc cung cấp chế tạo một số
phụ tùng thiết bị lọc bụi tĩnh điện công suấ
t nhỏ cho các ngành công nghiệp.
- Viện nghiên cứu khoa học Mỏ và Luyện kim
Là đơn vị cũng đã nghiên cứu và chế tạo thiết bị lọc bụi công suất nhỏ
cho ngành công nghiệp. Loại lọc bụi tĩnh điện nhỏ cho dây chuyền xi măng lò
đứng cỡ 6 ÷ 8 vạn tấn /năm đã được Viện chế tạo và lắp tại nhà máy xi măng
Lưu Xá và Cầu Đước trong những năm 1995 -1997 nh
và các thiết bị đồng bộ là rất lớn. Làm chủ
được thiết kế kỹ thuật và thiết kế
công nghệ chế tạo phụ tùng đến thiết bị lọc bụi tĩnh điện có ý nghĩa kinh tế
hết sức to lớn tăng năng lực sản xuất trong nước, hạn chế sản phẩm nhập
ngoại.
1.5.2. Ngoài nước
Thiết bị lọc bụi được sử dụng ở tất cả các dây chuyền s
ản xuất thuộc
nhiều ngành công nghiệp, đặc biệt là trong dây chuyền sản xuất nhiệt điện, xi
măng. Lọc bụi tĩnh điện được sử dụng chủ yếu trong dây chuyền sản xuất do
chúng có những ưu việt về hiệu xuất thu hồi bụi cao và đạt được chỉ tiêu về
nồng độ bụi thải ra môi trường so với các loại lọc bụi khác (lọ
c xyclon, lọc
buồng).
Các nước Pháp, Đức , Đan Mạch, Nga, Nhật là những nước đi đầu về
chế tạo và xuất khẩu thiết bị lọc bụi tĩnh điện cho nhiều nước trên thế giới.
Các hãng Lurgi (Đức), IHI (Nhật), F. L. Smidth (Đan Mạch),
ENVIROTHERM (Đức), hãng KONDORECO – SFNILOGAZ (Nga) chiếm
thị phần lớn về cung cấp các thiết bị công nghệ, thiết bị lọc lọc bụ
i điện trên
thế giới.
Một số nước ở châu Á như: Trung Quốc, ấn Độ, trên cơ sở tiếp thu kỹ
thuật của nước ngoài đã làm chủ được công nghệ và chế tạo được thiết bị lọc
bụi công suất lớn theo kỹ thuật của F. L. Smidth trên 10 năm.
Một vấn đề luôn được đặt lên hàng đầu với các hãng sản xuất là phải
không ngừ
ng cải thiện tính năng của thiết bị, nâng cao hiệu suất lọc bụi. Để
giải quyết bài toán đó vấn đề nâng cao tính ổn định và tối ưu của phụ tùng có
vị trí hàng đầu và hết sức quan trọng
Đềtài:“Nghiêncứuchếtạocácthanhđiệncựcphóngtrongcáctrườnglọcbụitĩnhđiệntrêncơ
Với yêu cầu thực tiễn và khả năng thực hiện, đề
tài: “Nghiên cứu chế tạo
các thanh điện cực phóng trong các trường lọc bụi tĩnh điện trên cơ sở các ống
kim loại định hình không hàn” mong muốn đi sâu nghiên cứu nhằm tạo ra
một hướng công nghệ mới, có thiết kế và quy trình công nghệ đầy đủ, chi tiết
và sản phẩm chế tạo được lắp đặt, vận hành đáp ứng đầy đủ các chỉ tiêu kỹ
thuật củ
a hệ thống thiết bị.
Việc làm chủ được thiết kế kỹ thuật và công nghệ chế tạo phụ tùng thiết
bị lọc bụi tĩnh điện có ý nghĩa kinh tế hết sức to lớn tăng năng lực sản xuất
trong nước, hạn chế sản phẩm nhập ngoại.
Đềtài:“Nghiêncứuchếtạocácthanhđiệncựcphóngtrongcáctrườnglọcbụitĩnhđiệntrêncơ
sởcácốngkimloạiđịnhhìnhkhônghàn”
- 10 -
CHƯƠNG 2
LỌC BỤI TĨNH ĐIỆN VÀ CÁC DẠNG THANH ĐIỆN CỰC PHÓNG
TRONG LỌC BỤI TĨNH ĐIỆN
2.1. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ HỆ THỐNG LỌC BỤI
2.1.1. Tầm quan trọng của hệ thống lọc bụi trong một số ngành công
nghiệp
Công nghiệp ngày càng phát triển đồng nghĩa với lượng bụi thải ra
càng nhiều. Vấn đề bảo vệ môi trường sống hiện nay lại càng được đặc biệt
quan tâm. Lọc bụi trong công nghiệp là một trong các vấn đề kỹ thuật cần
thiết và bắt buộc, nhằm bảo vệ môi trường trong sạch,
điều kiện làm việc cho
người lao động và bảo vệ môi trường sống nói chung.
Hầu hết các lĩnh vực công nghiệp như nhiệt điện, xi măng, luyện kim,
nhiều lần so với trọng lực. Dưới ảnh hưởng của lực quán tính, hạt có xu
hướng chuyển động thẳng, nghĩa là các hạt có khả năng tách ra khỏi dòng khí.
Hiện tượng này được sử
dụng trong các thiết bị lọc xiclon-tấm chớp… Các
thiết bị này chỉ có khả năng tách các hạt có kích thước > 10µm, nên dùng các
hạt nhỏ sẽ không có hiệu quả.
• Lọc bụi theo phương pháp ẩm
Khi các hạt bụi tiếp xúc với bề mặt dịch thể các hạt bụi sẽ bám trên bề
mặt đó, dựa trên nguyên tắc đó có thể tách các hạt bụi ra khỏi dòng khí. Thực
nghiệm cho thấy theo phương pháp này chỉ thu hồi các hạt bụi có kích thước
> 3 ÷ 5µm. Các hạt bụi nhỏ nếu lọc bụi theo phương pháp ẩm sẽ kém hiệu
quả.
• Lọc bụi theo phương pháp lọc bụi tĩnh điện
Khí chứa bụi được dẫn qua điện trường có điện thế cao. Dưới tác dụng
của điện trường khí bị ion hóa. Các ion tạo thành bám trên các hạt bụi và tích
điện cho chúng. Các hạt sau khi tích điện được qua một điện trường, chúng sẽ
bị hút về các cực trái dấu. Phương pháp này dùng để thu hồi các hạt bụi nhỏ
có kích thước bất kỳ. Ngoài ra lọc bụi tĩnh điện còn có những ưu điểm khác
như: hiệu suất khử bụi cao: có thể hơn 99%, tổn thất áp lực dòng nhỏ, có thể
lọc được bụi có kích thước rất nhỏ: 0.1́µm, tiêu hao điện năng thấp, lưu lượng
khói đi qua thiết bị lớn, chịu được nhiệt độ cao: có thể lên đến 4500C,
Lọc b
ụi tĩnh điện có 2 loại: Lọc bụi tĩnh điện kiểu ướt và lọc bụi tĩnh
điện kiểu khô.
Lọc bụi tĩnh điện kiểu ướt có nhiều điểm giống với kiểu khô cả về
nguyên lý và thiết kế, tuy nhiên một khác biệt cơ bản là loại ướt được sử dụng
Đềtài:“Nghiêncứuchếtạocácthanhđiệncựcphóngtrongcáctrườnglọcbụitĩnhđiệntrêncơ
sởcácốngkimloạiđịnhhìnhkhônghàn”
nằm trong điện trường, trong các điều kiện khác nhau thì tỉ lệ với đại lượng q,
vì vậy lực này không đặc trưng cho bản thân điện trường. Để đặc trưng cho
điện trường, ta phải đưa vào một đại lượng vật lý gọi là cường độ điệ
n trường.
Đềtài:“Nghiêncứuchếtạocácthanhđiệncựcphóngtrongcáctrườnglọcbụitĩnhđiệntrêncơ
sởcácốngkimloạiđịnhhìnhkhônghàn”
- 13 -
Lực trong điện trường tác dụng lên một đơn vị dương gọi là cường độ điện
trường.
Điện tích đơn vị được đặt vào điện trường giả thiết là điện tích điểm gọi
là điện tích thử. Nếu điện trường tác dụng lên điện tích thử q0 một lực F0 thì
cường độ điện trườ
ng E
0
sẽ bằng:
o
o
o
q
F
E =
(2.1) [8]
2.2.1.2 Thế điện trường và thế hiệu điện trường
Lực tác dụng lên bất kỳ điện tích có trong điện trường, khi điện tích đó
chuyển dịch từ điểm này sang điểm khác trong điện trường sẽ thực hiện một
công xác định. Giá trị của công tỉ lệ với trị số điện tích chuyể
n dịch, không
Sự chuyển dịch có hướng của các điện tích gọi là dòng điện. Các vật
chất được chia ra thành 2 loại: vật dẫn điện và vật không dẫn điện.
Đềtài:“Nghiêncứuchếtạocácthanhđiệncựcphóngtrongcáctrườnglọcbụitĩnhđiệntrêncơ
sởcácốngkimloạiđịnhhìnhkhônghàn”
- 14 -
Trong điều kiện bình thường các phân tử, nguyên tử tồn tại ở trạng thái
trung hòa. Nếu các khí được ion hóa sẽ tạo thành các ion dương và ion âm.
Trong khí có thể tạo thành các ion âm vì một phần tử khí trung hòa kết hợp
với các điện tử tự do.
Khí được ion hóa dưới ảnh hưởng các tác động bên ngoài khác nhau
như: nung nóng rất mạnh, tác dụng của tia Ronghen…
Khi tăng thế hiệu giữa các điện cực, dòng điện tăng h
ầu như tỉ lệ với
điện áp. Tiếp tục tăng điện áp, sự tăng dòng điện chậm lại, nếu tăng điện áp
thêm nữa thì dòng điện không tăng là do không thay đổi cường độ ion hóa, do
vậy số lượng điện tích tự do trong khí không thay đổi. Dòng điện cực đại ứng
với cường độ ion hóa đã cho gọi là dòng điện bão hòa.
Khi thế
hiệu đủ lớn, các điện tích có trong khí chuyển động được tăng
tốc mạnh đã gây nên sự va đập các phần tử khí và tiếp tục ion hóa chúng. Các
ion và điện tử mới tạo thành sẽ chuyển động và được tăng tốc bởi điện trường.
Đồng thời tiếp tục ion hóa các phần tử khí mới. Số lượng lớn các ion và
electron tạo thành trong khí dẫn đến làm tăng dòng điệ
n đột biến.
2.2.1.4. Quầng sáng trong các thiết bị lọc bụi tĩnh điện
Thực chất của quá trình lọc bụi điện là sự nạp điện cho các hạt bụi chứa
trong khí. Các hạt này sẽ tách ra khỏi dòng khí dưới tác dụng của điện trường.
Quá trình này xảy ra trong trường điện gồm có các điện cực phóng và điện
sáng có các ion dương thì một số hạt bụi sẽ tích điện dương và bị hút tới cực
thu.
Nếu ở vùng quầng sáng có các ion dương thì một số hạt bụi sẽ tích điện
dương và bị hút tới điện cực phóng. Lực tác dụng tương hỗ giữa điệ
n trường và
điện tích hạt bụi bằng tích số cường độ điện trường với trị số điện tích đó nghĩa
là:
F = E x q (2.4) [8]
Ngoài ra tác dụng lên điện tích còn có các lực sau: trọng lực, lực gió
điện, lực dòng khí cuốn các hạt bụi. Các lực này tác dụng lên các hạt bụi trong
thiết bị có thể coi là không đáng kể.
2.2.2. Hoạt động của hệ th
ống lọc bụi tĩnh điện
2.2.2.1. Nguyên lý hoạt động của bộ lọc bụi tĩnh điện
Lọc bụi tĩnh điện là hệ thống lọc bỏ các hạt bụi có kích thước nhỏ khỏi
dòng không khí chảy qua buồng lọc, trên nguyên lý ion hoá và tách bụi ra
khỏi không khí khi chúng đi qua vùng có trường điện lớn. Buồng lọc bụi tĩnh
điện (hay Silo lọc bụi) được c
ấu tạo hình tháp tròn hoặc hình hộp chữ nhật,
bên trong có đặt các tấm cực song song hoặc các dây thép gai. Hạt bụi với
kích thước nhỏ, nhẹ bay lơ lửng trong không khí được đưa qua buồng lọc có
đặt các tấm cực. Trên các tấm cực, ta cấp điện cao áp một chiều cỡ từ vài
Đềtài:“Nghiêncứuchếtạocácthanhđiệncựcphóngtrongcáctrườnglọcbụitĩnhđiệntrêncơ
sởcácốngkimloạiđịnhhìnhkhônghàn”
- 16 -
chục cho đến 100kV để tạo thành một điện trường có cường độ lớn. Hạt bụi
khi đi qua điện trường mạnh sẽ bị ion hoá thành các phân tử ion mang điện
Hình 2.2 - Cấu tạo bộ lọc bụi tĩnh điện [10]
a) Điện cực phóng
Đềtài:“Nghiêncứuchếtạocácthanhđiệncựcphóngtrongcáctrườnglọcbụitĩnhđiệntrêncơ
sởcácốngkimloạiđịnhhìnhkhônghàn”
- 18 -
Trong trường lọc bụi tĩnh điện, các thanh điện cực phóng được lắp vào
khung tạo thành điện cực phóng, điện cực phóng được lắp xen kẽ với điện cực
thu dạng tấm theo một khoảng cách nhất định. Khi được cung cấp nguồn điện
cao áp một chiều từ 25-100KV, giữa các điện cực phóng và các tấm điện cực
thu phát sinh một tr
ường điện với cường độ mạnh. Trường điện này buộc các
hạt bụi trong dòng khí đi qua phải dịch chuyển hướng về phía các tấm điện
cực thu. Sau đó, các hạt bụi lắng tủa lại trên các tấm điện cực thu.
Các loại điện cực phóng điện phổ biến bao gồm các dây tròn thẳng, các
cặp dây cáp xoắn đôi, các dây thép gai phóng điện, các cộ
t thép cứng, các
khung giàn cứng, các ống cứng đầu nhọn và các sợi dây xoắn. Các điện cực
phóng điện được đỡ bởi giàn phóng điện phía trên và được duy trì thẳng hàng
giữa các giàn phóng điện phía trên và phía dưới. Giàn phóng điện phía trên
lần lượt được đỡ từ nóc vỏ thiết bị lọc bụi. Các bộ cách điện điện áp cao được
tích hợp vào hệ thống đỡ. Trong các hệ thố
ng dây có điều chỉnh, các điện cực
phóng điện được giữ căng nhờ các khối nặng ở đầu dưới của các sợi dây.
Điện cực phóng kiểu dạng các vòng dây mỏng có kích thước đường kính
che
Đối trọng
Điều chỉnh
vênh
Điều chỉnh
khung thấp
hơn
Điều chỉnh
phia trên
khung
Đềtài:“Nghiêncứuchếtạocácthanhđiệncựcphóngtrongcáctrườnglọcbụitĩnhđiệntrêncơ
sởcácốngkimloạiđịnhhìnhkhônghàn”
- 20 - Hình 2.4 – Một số loại điện cực phóng [9]
b) Điện cực thu
Các tấm thu nhận được thiết kế để thu nhận và giữ các hạt kết tủa lại cho
đến khi chúng được tháo vào phễu thu. Các tấm thu nhận cũng là một bộ phận
của mạch điện năng trong thiết bị lọc bụi. Các chức năng của tấm thu nhận
này được đưa vào ph
ần thiết kế của thiết bị lọc bụi. Các tấm ngăn bụi ngăn
các hạt kết tủa lại khỏi dòng khí trong khi các bề mặt phẳng nhẵn cấp điện áp
vận hành cao.
Các tấm thu nhận được treo từ vỏ thiết bị lọc bụi và tạo thành các đường
khí ở trong thiết bị lọc bụi. Có hai loại kết cấu phổ biến của các tấm thu nhậ
n
trong số các kết cấu được thay đổi bởi nhà sản xuất. Trong trường hợp các
tấm được đỡ từ các dầm dạng đe ở cả hai đầu. Dầm dạng đe này cũng là điểm
- 22 -
một chiều. Đa số các bộ lọc bụi ngày nay sử dụng các bộ chỉnh lưu bán dẫn và
MBA dầu hoặc MBA askarel-filled.
Hệ thống đồng hồ đo các thông số sau:
- Điện áp sơ cấp: điện áp sơ cấp thường từ 220- 400V
- Điện áp thứ cấp: Đồng hồ đo điện áp một chiều được đặt giữa đầu ra của
chỉ
nh lưu và cực phóng.
- Dòng điện thứ cấp: Dòng điện thứ cấp được đo bằng đồng hồ có thang đo
milliampe. Đồng hồ đo được đặt giữa đầu ra của chỉnh lưu và bộ điều khiển
điện áp tự động.
- Số lần phóng điện: Đồng hồ đo số lần phóng điện trong một phút.
d) Cơ cấu rung gõ
Bụi chất đống trên cực thu và phóng được loại bỏ bằng cách gõ. Bụi bám
thành mảng hoàn toàn được loại bỏ bằng cách rung cơ khí hoặc các dao động
lan truyền dọc theo điện cực. Hệ thống gõ được thiết kế để gõ theo cường độ
và tần số có thể điều chỉnh theo điều kiện làm việc thực tế. Mỗi khi chu kỳ
làm việc được thiết lậ
p hệ thống phải có khả năng duy trì gõ đều đặn trong
thời gian dài.
Cực thu được gõ theo một số cách. Một hệ thống gõ sử dụng búa đặt trên
trục quay. Khi trục quay, các tay búa nện xuống và đập xuống các thanh đỡ
các tấm cực thu. Cường độ gõ được điều khiển bởi trọng lượng búa và độ dài
của tay búa. Tần số gõ có thể thay đổi bằng cách hiệu chỉnh tốc độ củ
a trục
quay. Vì thế, cường độ gõ và tần số gõ có thể hiệu chỉnh theo sự thay đổi theo
mật độ của bụi. Một hệ thống gõ khác sử dụng trong 1 số thiết kế của Mỹ bao
gồm các dụng cụ gõ xung từ. Một bộ gõ xung từ có chày thép được nâng lên