TỔNG CỤC THỦY SẢN
VIỆN KINH TẾ VÀ QUY HOẠCH THỦY SẢN
BÁO CÁO TỔNG KẾT
CÁC CHUYÊN ĐỀ NGHIÊN CỨU
ĐỀ TÀI
NGHIÊN CỨU CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ THỰC TIẾN
ĐỂ PHÁT TRIỂN CÁ TẦM, CÁ HỒI Ở VIỆT NAM Cơ quan chủ trì nhiệm vụ: Viện Kinh tế và Quy hoạch thủy sản
Chủ nhiệm đề tài: TS. Nguyễn Việt Nam 9610
Hà Nội 2011
TỔNG CỤC THUỶ SẢN
VIỆN KINH TẾ VÀ QUY HOẠCH THUỶ SẢN
Phần II. Cách tiếp cận 4
1. Tiếp cận tổng hợp 4
2. Tiếp cận khoa học 4
Phần II. Phương pháp và nội dung nghiên cứu 4
1. Phương pháp thu thập, phân tích tài liệu, dữ liệu 4
2. Phương pháp điều tra, khảo sát thực tế 5
Phần III. Kết quả nghiên cứu 5
I. Đánh giá các cơ sở pháp lý và thể chế chính sách hỗ trợ cho phát triển cá
tầm, cá hồi ở Việt Nam 5
1. Đánh giá các cơ sở pháp lý chung hỗ trợ cho sự phát triển cá tầm, cá hồi ở Việt Nam. 5
1.1 Chính sách về chuyển dịch cơ cấu kinh tế 6
1.2 Chính sách về thị trường và xúc tiến thương mại 7
1.3 Các chính sách liên quan đến KHCN và khuyến ngư 8
1.4 Chính sách về tổ chức sản xuất 9
1.5 Chính sách về tài chính 10
1.6 Chính sách đầu tư. 11
1.7
Chính sách thuế 12
1.8 Chính sách về đất đai 12
1.9 Chính sách về phát triển giống thủy sản 13
2. Đánh giá thành tựu và hạn chế của các cơ sở pháp lý, thể chế và chính sách hỗ trợ cho
phát triển sản xuất cá tầm, cá hồi tại Việt Nam. 13
2.1 Thành tựu 13
2.2 Hạn chế 16
II. Đề xuất giải pháp về cơ sở pháp lý, thể chế và chính sách hỗ trợ cho phát
triển sản xuất cá tầm, cá hồi tại Việt Nam 17
Phần IV. Kết luận và kiến nghị 17
hội cho đồng bào vùng sâu vùng xa. Tuy nhiên việc phát triển các đối tượng này còn
tự phát chưa có quy hoạch cụ thể cho các đối tượng này, điều đó dẫn tới việc ảnh
hưởng tới môi trường sinh thái cũng như các yếu tố về đầu ra cho sản phẩm là chưa
được đảm bảo.
Việc đánh giá các cơ sở pháp lý, thể chế và chính sách hỗ trợ cho phát triển nuôi trồng
thủy sản nói chung và phát triển cá tầm cá hồi nói riêng là rất cần thiết, góp phần hệ
thống các định hướng phát triển tạo cơ sở cho sự phát triển nuôi trồng thủy sản bền
vững.
Chuyên đề “Đánh giá cơ sở pháp lý, thể chế và chính sách hỗ trợ cho phát triển
sản xuất cá tầm, cá hồi tại Việt Nam” nhằm góp phần tìm hiểu về hệ thống các
chính sách trong phát triển cá tầm cá hồi, từ đó có một số kiến nghị cần thiết góp phần
vào sự phát triển các loại đối tượng có giá trị kinh tế cao này.
Phần II. Cách tiếp cận
1. Tiếp cận tổng hợp
Tổng hợp một cách có chọn lọc các nguồn số liệu, cơ sở dữ liệu về các cơ sở pháp lý,
hệ thống thể chế chính sách hỗ trợ cho phát triển cá tầm, cá hồi . Tiến hành thu thập số
liệu đầu vào, phân tích, đánh giá tổng thể về hiện trạng, thành tựu cũng như các hạn
chế của các chính sách và hệ thống cơ sở pháp lý của ngành nuôi trồng thủy sản, đặc
biệt nó hỗ trợ cho việc phát triển cá nước lạnh ở nước ta. Sử dụng phương pháp tiếp
cận tích hợp liên ngành để đề xuất các giải pháp phát triển bền vững. Tận dụng các
nguồn lực sẵn có về cơ sở vật chất, nhân lực của các bộ, ngành, cơ quan, đơn vị, các
chuyên gia thuộc nhiều ngành khoa học khác nhau cùng tham gia, tư vấn trong quá
trình thực hiện đề tài.
2. Tiếp cận khoa học
Tiếp cận kế thừa kết quả điều tra, nghiên cứu, kết hợp các phương pháp truyền thống
và hiện đại
Để có được kết quả nghiên cứu tốt cần kế thừa triệt để các kết quả nghiên cứu đã
có trước đây, lập kế hoạch nghiên cứu trọng tâm những phần còn thiế
u phục vụ cho
mục tiêu của nghiên cứu.
Việt Nam.
Luật Thủ
y sản 2003 là khung pháp lý cao nhất và toàn diện diện nhất cho việc
quản lý các hoạt động thủy sản bằng pháp luật, đảm bảo sự thống nhất, đồng bộ của
Luật Thủy sản với các luật khác có liên quan, phù hợp với thông lệ và pháp luật quốc
tế Việt Nam đã ký kết hoặc gia nhập. Tại chương IV của luật thủy sản có quy định rõ
về điều kiện nuôi tr
ồng thủy sản, quyền của tổ chức, cá nhân nuôi trồng thủy sản,
nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân nuôi trồng thủy sản và các quy định chặt chẽ trong
phát triển nuôi trồng thủy sản. Hỗ trợ cho ngành nuôi trồng thủy sản phát triển đúng
theo đường lối, chủ trương chính sách phát triển kinh tế xã hội của đất nước.
Quyết định số 10/ 2006/QĐ-TTg ngày 11-01-2006 của Thủ tướ
ng Chính phủ
phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển ngành thủy sản đến năm 2010 và định hướng
đến năm 2020. Đã góp phần khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia phát triển
nuôi trồng thủy sản, phát triển mô hình kinh tế trang trại, hợp tác xã, tổ đội sản xuất.
Góp phần thúc đẩy các thành phần kinh tế đầu tư trong lĩnh vực thủy sản, đặc biệt phát
triển nuôi trồng thuỷ sản có giá trị kinh t
ế cao, đòi hỏi vốn đầu tư lớn, cũng như khoa
học công nghệ cao. Theo Quyết định, muốn thực hiện thành công quy hoạch tổng thể
thì Nhà nước có chính sách khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia đầu tư vốn
và công nghệ để phát triển sản xuất kinh doanh trên tất cả các lĩnh vực của ngành;
chính sách cho vay vốn ưu đãi đối với những vùng còn nhiều khó khăn như vùng bãi
ngang ven biển, hải đả
o, vùng núi trung du Bắc Bộ và Tây Nguyên. Điều này tạo điều
kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp đầu tư nuôi thử nghiệm và tiến tới nuôi thương
phẩm các sản phẩm cá nước lạnh như cá tầm cá hồi, là các đối tượng mới có giá trị
kinh tế cao, đòi hỏi kỹ thuật khắt khe và vốn đầu tư lớn.
Tuy nhiên quyết định số 10/2006/QĐ-TTg không nêu được tiềm năng cũng như
định hướng phát triển cá nước lạnh ở nước ta, vì vậy cần xem xét cá nước lạnh đặc
hoạch chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản cả nước đến năm 2010
và tầm nhìn 2020
4. Nghị định số 86/2001/NĐ-CP ngày 16/11/2001 về điều kiện kinh doanh các
ngành nghề thuỷ sản.
1.2 Chính sách về thị trường và xúc tiến thương mại
Qua thực hiện các chương trình chính sách về thị trường và xúc tiến thương
mại, ngành đã thực hiện cơ cấu lại ngành, giảm khai thác gần bờ, tăng khai thác xa bờ,
tăng nuôi trồng và chế biến. Tổ chức lại sản xuất của ngành thể hiện qua các mô hình
tổ chức sản xuất trên biển, hình thành các vùng nuôi công nghiệp tập trung. Xây dựng
tiêu chuẩn chất lượng hàng thủy sản Việt Nam tương đương tiêu chuẩn của EU và yêu
cầu các doanh nghiệp phải thực hiện; không sử dụng kháng sinh, hóa chất bị cấm
trong sản xuất thủy sản
Chỉ đạo, tổ chức các doanh nghiệp nhanh chóng đổi mới quản lý (cổ phần hóa),
chủ động hội nhập, hướng mạnh sản xuất hàng xuất khẩu. Để hộ trợ các doanh nghiệp
chế biến xuất khẩu, Bộ Thủy sản trước đây đã thông qua viện trợ ODA để tổ chức
thực hiện 2 Dự án rất hiệu quả là Dự án Sired của DANIDA hỗ trợ các doanh nghiệp
toàn ngành thực hiện đổi mới quản lý, tăng cường xúc tiến thương mại để quảng bá
sản phẩm và Dự án Seaquip của DANIDA hỗ trợ toàn ngành thủy sản tăng cường cả
i
thiện chất lượng và VSATTP hàng hóa của các doanh nghiệp chế biến vượt qua rào
cản kỹ thuật trong thương mại của các thị trường quốc tế.
Một số chính sách về thương mại:
1. Nghị định 02/2002/NĐ-CP của Chính phủ Sửa đổi, bổ sung một số điều của
Nghị định số 20/1998/NĐ-CP ngày 31 tháng 3 năm 1998 của Chính phủ về phát triển
thương mại mi
ền núi, hải đảo và vùng đồng bào dân tộc
2. Quyết định 80 /2002/QĐ-TTg của Thủ tướng Chíh phủ về chính sách khuyến
khích tiêu thụ nông sản hàng hóa thông qua hợp đồng.
3. Quyết định 253/2003/QĐ-TTg về phê duyệt đề án Xây dựng và Phát triển
thương hiệu Quốc gia đến 2010.
đoạn 1991-1995 bình quân 1,24 tỷ/năm; năm 1996: 2,57 tỷ
đồng/năm; năm 1997: 3,80
tỷ/năm. Trong 10 năm gần đây bình quân 20-30 tỷ/năm. Năm 2007 khoảng 55 tỷ/năm.
Một số các chính sách liên quan đến KHCN
Quyết định 171/2004/QĐ ngày 28/9/2004 của Thủ tướng Chính phủ về cơ chế
đổi mới KHCN.
Nghị định 115/2005/ND-CP ngày 5/9/2005 của Thủ tướng Chính phủ quy định
cơ chế tự chủ , tự chịu trách nhiệm của tổ chức khoa học & công ngh
ệ công lập.
Thông tư liên tịch 12/2006/TTLT/BKHCB-BTC-BNV ngày 5/6/2006 của Bộ
KHCN - Bộ Tài Chính - Bộ Nội Vụ hướng dẫn thực hiện NĐ115 của Chính phủ về cơ
chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức KHCN công lập.
Nghị định số 80/2007/NĐ-CP ngày 19/5/2007 của Chính phủ về Doanh nghiệp
KHCN.
Thông tư liên tịch số 22/2003/TTLT/BTC-BKHCN-BNV ngày 24/3/2003 về
hướng dẫn cơ chế quản lý tài chính đối v
ới các tổ chức KHCN công lập hoạt động có
thu.
Nghị định CP127/2004/NĐ-Chính phủ quy định cơ chế phạt cho những vi
phạm hành chính về KHCN.
Thông tư 17/2004/TT-BKHCN ngày 13/7/2004 hướng dẫn cơ chế thưởng trong
lĩnh vực KHCN.
Quyết định số 18/2006/QĐ-BKHCN ngày 15/9/2006 của Bộ KHCN ban hành
quy chế tổ chức quản lý hoạt động chương trình khoa học và công nghệ trọng điểm
giai đoạn 2006-2010.
Quyết định 36/2006/QĐ-BNN 15/6/2006 quy định cơ chế quản lý đề tài, dự án
KHCN của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Quyết định 214/2005/QĐ ngày 30/8/2005 của Chính phủ phê duyệt đề án
“Phát triển thị trường công nghệ”
Quyết định số
Nghị định 151/2006/NĐ-CP về tín dụng đầu tư và tín dụng xuất khẩu và Quyết
định 08/2007/QĐ-BTC của Bộ Tài chính về mức lãi suất vay tín dụng đầu tư và tín
dụng xuất khẩu.
Để thực hiện các Chương trình phát triển thủy sản, ngành thủy sản đã hướng
dẫn nhân dân vận dụng nhiều chính sách của Nhà nước như: Chính sách tín dụng ngân
hàng phục vụ
phát triển nông thôn theo Quyết định số 67/1999/QĐ-TTg ngày 30
tháng 3 năm 1999, Chính sách bảo đảm tiền vay cho các tổ chức tín dụng thể hiện
trong các Nghị định số 178/1999/NĐ-CP và 85/2002/NĐ-CP của Chính phủ; Quyết
định số 284/QĐ-NHNNI của Thống đốc ngân hàng Nhà nước về quy chế cho vay,
Quyết định 423/2000/QĐ-NHNN của Thống đốc NHNN về chính sách cho vay đối
với các trang trại; Công văn số 934/CV-NHNN hướng dẫn thực hiện Quyết
định số
103/2003/QĐ-TTg về một số chính sách phát triển giống thủy sản,…
Các ngân hàng thương mại đã có hoạt động cho vay vốn phát triển nuôi trồng thủy
sản. Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam đã phối hợp với Bộ Thủy
sản (trước đây) tìm giải pháp giải quyết vốn tín dụng cho nuôi trồng, khai thác, chế biến
thủy sản, các hộ dân ở nông thôn đã được vay vốn tín dụng ho
ặc vay từ nhiều nguồn tài
chính khác theo các kênh chính thức và không chính thức. Những kênh cho vay vốn
chính thức hiện nay chủ yếu gồm Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt
Nam (VBARD), Ngân hàng Công thương (CIB), Ngân hàng Chính sách Xã hội. Các
kênh cho vay không chính thức là các thành viên trong gia đình và bạn bè, chủ yếu cung
cấp dịch vụ vay vốn và thế chấp tài sản. Vốn vay từ ngân hàng hàng chục ngàn tỷ đồng
đã góp phần quan trọng giúp nông ngư dân có vốn đầu tư xây dựng, cải tạo ao đầm, mua
sắm trang thi
ết bị, con giống, thức ăn và các vật tư khác….
Một số văn bản về chính sách Tín dụng
1. Nghị định số 43/1999/NĐ-CP ngày 29/6/1999 của Chính phủ về tín dụng ưu
đãi phát triển của Nhà nước
đều thuộc lĩnh vực ưu đãi đầu tư. Nhà nước ưu đãi về đất đai làm mặt bằng sản xuất
(các nhà máy chế biến được ưu tiên bố trí mặt bằng trong khu công nghiệp, ưu đãi về
giá thuê đất), về miễn thuế sau đầu tư
. Ngoài ra, Nhà nước còn hỗ trợ xây dựng cơ sở
hạ tầng cho nuôi trồng thủy sản, cho hệ thống cảng cá, khu neo đậu tránh trú bão, cho
hệ thống giống nuôi trồng thủy sản.
- Nghị định số 35/2002/NĐ-CP ngày 29 tháng 3 năm 2002 của Chính phủ về
việc sửa đổi, bổ sung phụ lục ban hành kèm theo Nghị định 51/1999/NĐ-CP ngày
8/7/1999 quy định chi tiết luật khuyến khích đầu tư trong nước sửa đổi
- Ngh
ị định số 51/1999/ NĐ-CP ngày 08 tháng 7 năm 1999 về việc Quy định
chi tiết thi hành Luật Khuyến khích đầu tư trong nước (sửa đổi) số 03/1998/QH10
- Quyết Định 02/2001/QĐ-TTg về Chính sách hỗ trợ đầu tư từ Quỹ Hỗ trợ phát
triển đối với các dự án sản xuất, chế biến hàng xuất khẩu và các dự án sản xuất nông
nghiệp
- Quyết Định 28 /2005/QĐ-BTS về nguyên tắc phân bổ vốn Ngân sách Trung
ương hỗ trợ địa phương, đơn vị kế hoạch 2006-2010 thực hiện dự án thuộc Chương
trình phát triển nuôi trồng thuỷ sản, Chương trình phát triển giống thuỷ sản.
- Quyết định số 132/2001/QĐ-TTg ngày 7/9/2001 của Thủ tướng Chính phủ về
cơ chế tài chính thực hiện Chương trình phát triển đường giao thông nông thôn, cơ sở
hạ tầng nuôi trồng thuỷ sản, cơ sở hạ tầng làng nghề nông thôn
1.7 Chính sách thuế
Quyết định số 106/2007/QĐ-BTC ngày 20/12/2007 của Bộ Tài chính về việc
ban hành Biểu thuế xuất khẩu, Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi. Quyết định này thay thế
cho Quyết định số 39/2006/QĐ-BTC ngày 28/7/2006 của Bộ trưởng Bộ Tài chính về
việc ban hành Biểu thuế thuế nhập khẩ
u ưu đãi, các Quyết định sửa đổi, bổ sung tên,
mã số, mức thuế suất của một số nhóm, mặt hàng trong Biểu thuế thuế nhập khẩu ưu
đãi của Bộ trưởng Bộ Tài chính đã ban hành.
Về mặt thuế suất: Để thực hiện cam kết WTO 2008 và xử lý kiến nghị và
thuê mặt nước
9. Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 v
ề thi hành Luật
đất đai
10. Nghị định 182/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 về Xử phạt vi
phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai.
11. Nghị định 188/2004/NĐ-CP ngày 16 tháng 11 năm 2004 về phương pháp
xác định giá đất và khung giá các loại đất
12. Nghị định số 51/1999/ NĐ-CP ngày 08 tháng 7 năm 1999 về việc Quy định
chi tiết thi hành Luật Khuyến khích đầu tư trong nước (sửa đổi) số 03/1998/QH10
1.9 Chính sách về phát triển giố
ng thủy sản
Quyết định số 103/2000/QĐ-TTg ngày 25/8/2000 của Thủ tướng Chính phủ
về một số chính sách khuyến khích phát triển giống thuỷ sản
Quyết định 126/2005/QĐ-TTg ngày 01 tháng 6 năm 2005 của Thủ tướng
Chính phủ về một số chính sách khuyến khích phát triển nuôi trồng thủy sản thủy sản
trên biển và hải đảo.
Thông tư liên bộ số 56/2001/TTLB- BTC- BTS ngày 9/7/2001 giữa Bộ Thuỷ
sả
n và Bộ Tài chính hướng dẫn chế độ quản lý tài chính các dự án khuyến khích phát
triển giống thuỷ sản do ngân sách nhà nước bảo đảm
2. Đánh giá thành tựu và hạn chế của các cơ sở pháp lý, thể chế và chính sách hỗ
trợ cho phát triển sản xuất cá tầm, cá hồi tại Việt Nam.
2.1 Thành tựu
Cá nước lạnh du nhập vào nước ta từ năm 2005, với đề án nuôi thử nghiệm được
Viện nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản I khởi động năm 2005 tại Thác Bạc (Sa Pa,
Lào Cai), các đối tượng cá nước lạnh ấy đã nhanh chóng có đuợc thành công bước đầu
và trở thành hiện tượng mới của ngành thủy sản. Sản lượng thương phẩm hàng hóa
tăng rất nhanh qua từng năm.
Ngày 17 tháng 9 năm 2011 Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã tổ chức Hội
nghị phát triển nuôi cá nước lạnh tại Sa Pa tỉnh Lào Cai. Tham dự hội nghị có nguyên
Phó Thủ tướ
ng Nguyễn Công Tạn, đại diện của Bộ Khoa học và Công nghệ, một số
đơn vị thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Lãnh đạo UBND tỉnh Lào Cai,
Lai Châu; Lãnh đạo Sở Nông nghiệp & Phát triển nông thôn và Chi cục Thủy sản các
tỉnh miền núi phía Bắc và một số tỉnh Tây Nguyên; Hội nghề cá Việt Nam, Hiệp hội
cá nước lạnh Lâm Đồng. Sau khi nghe báo cáo của Tổng cục Thủy sản, báo cáo tham
luận của các đại biểu, Th
ứ trưởng Nguyễn Thị Xuân Thu kết luận như sau:Các tỉnh
miền núi phía Bắc, khu vực Tây Nguyên có tài nguyên đặc biệt là nguồn nước lạnh,
nước mát từ rừng già, rừng nguyên sinh. Đây là tiềm năng để phát triển nuôi các loài
cá ôn đới và những năm qua Viện Nghiên cứu NTTS I, III đã chọn được đối tượng
nuôi phù hợp là cá hồi và cá tầm. Đây là đối tượng mới, có giá trị kinh tế cao, được
xem là đặc sản ở các t
ỉnh miền núi, trung du phía Bắc và các tỉnh Tây Nguyên. Do đối
tượng nuôi mới, đòi hỏi công nghệ cao và vốn đầu tư lớn trong điều kiện nuôi ở vùng
sâu, vùng xa nên cần khuyến khích các doanh nghiệp tham gia sản xuất để khai thác
nguồn tài nguyên đặc biệt này phục vụ phát triển kinh tế miền núi.
UBND tỉnh Lai Châu đã có quyết định số 1234/QĐ-UBND ngày 21 tháng 10 năm
2011, Phê duyệt đề cương nhiệm vụ, dự toán kinh phí lập quy hoạch nuôi cá nước
lạnh tỉnh Lai Châu giai đoạn 2011-2020. Điều này thể hiện sự quan tâm của tỉnh đối
với việc phát triển các đối tượng cá nước lạnh có gia trị kinh tế cao nhằm phục vụ nhu
cầu tại chỗ và cung ứng sản phẩm chất lượng cao cho th
ị trường, tăng thu nhập và cải
thiện đời sống cho đồng bào vùng sâu, vùng xa.
Sở NN&PTNT tỉnh Lạng Sơn đang triển khai dự án nuôi cá thử nghiệm cá Tầm tại
Suối Mơ thuộc xã Bình Phúc, huyện Văn Quan do ông Nông Ngọc Tăng, Phó giám
đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã bước đầu thu lại những thành công,
góp phần vào sự phát triển cá nước lạnh tại tỉnh Lạng Sơn.
Đánh dấu bước phát triển mới cho các đối tượng cá nước lạnh đặc biệt là cá tầm và cá
hồi ở nước ta. Từ nuôi theo mô hình tự phát, đầu tư nhỏ, tư duy manh mún đã chuyển
qua nuôi công nghiệp, đầu tư khoa học kỹ thuật, mang lại hiệu quả cao.
2.2 Hạn chế
Phát triển chưa có quy hoạch: Đến nay phong trào phát triển nuôi cá nước lạnh vẫn tự
phát, mạnh ai nấy làm, người làm sau trèo lên phía trên người làm trước gây ô nhiễm
nguồn nước nên dịch bệnh là điều khó trách khỏi.
Tuy là đối tượng nuôi mới du nhập vào nước ta nhưng hiệu quả mà các đối tượng này
mang lại là rất lớn, vi
ệc phát triển một cách tự phát sẽ ảnh hưởng rất lớn đến tài
nguyên nguồn nước lạnh vốn chỉ tập trung tại một số tỉnh mình núi phía Bắc, Tây
Nguyên và Miền Trung. Hầu hết các tỉnh chỉ coi đây là một đối tượng nuôi thủy sản,
chưa có quy hoạch riêng cho đối tượng này. Một số chính sách như cho thuê mặt
nước, cho thuê đất, hỗ trợ cho vay vốn… tuy nhiên các doanh nghiệp nuôi cá nước
lạnh hi
ện nay chưa hạch toán được lãi lỗ nên việc đóng góp vào nguồn thu ngân sách
của địa phương là chưa có.
Về giống: Hiện nay, nước ta chỉ sản xuất được cá hồi, còn cá tầm phải nhập khẩu
trứng đã thụ tinh về ấp với giá rất cao, khoảng 10.000 đồng/quả, dự kiến đến năm
2015 chúng ta mới chủ động được giống hoàn toàn. Do việc nuôi cá nước lạnh hiệu
qu
ả cao và cơ chế chính sách cho các đối tượng này là tương đối thông thoáng, nên
nhiều doanh nghiệp nuôi thương phẩm cá nước lạnh lần lượt ra đời, mở rộng đến tất
cả những nơi có thể nuôi được như khe suối, sông, hồ… trong khi chúng ta chưa sản
xuất được giống cá tầm, giống cá hồi tuy sản xuất được nhưng giá thành còn cao. Đã
xảy ra tình trạng làm ăn chụp giật kiểu “đánh nhanh rút gọ
n” miễn bán được giống, lãi
càng nhiều càng tốt, người mua bị thiệt, đây là dấu hiệu bất ổn. Vì vậy cần có một
chính sách phát triển rõ ràng và bền vững.
Về vốn: Để có 1 ha mặt nước nuôi cá nước lạnh, người dân phải chi phí 20 tỷ đồng,
Vì vậy cần có những chính sách hỗ trợ về thể chế chính sách, và cơ sở pháp lý cho
việc thành lập một hiệp hội cá nước lạnh Việt Nam, nhằm xây dựng được thương hiệu
cho cá tầm, cá hồi ở nước ta.
Hiện nay Viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản I
đã nghiên cứu thành công và đưa vào
hoạt động mô hình sản xuất thức ăn cho cá tầm, cá hồi ở nước ta, đáp ứng được chất
lượng tương đương với thức ăn nhập khẩu tử Phần Lan, tuy nhiên còn chưa đáp ứng
đủ nhu cầu thực tế cho các doanh nghiệp nuôi, vì vậy cần có các chính sách cho việc
mở rộng quy mô sản xuất cho mô hình này, góp phần chủ động nguồn thức ăn cho các
đối t
ượng này.
Tổ chức đào tạo có hệ thống, bài bản về kỹ thuật nuôi cá nước lạnh ở nước ta, nhằm
góp phần tạo dựng đội ngũ lao động có chất lượng trong hoạt động phát triển cá tầm
cá hồi ở nước ta.
Phần IV. Kết luận và kiến nghị
Phát triển cá nước lạnh - đến nay đã trở thành một ngành hàng, một sản phẩm đặc
thù có giá trị
kinh tế cao của nhiều địa phương có lợi thế lớn về phát triển nuôi trồng
thủy sản, góp phần thúc đẩy một số ngành kinh tế khác phát triển như du lịch, dịch
vụ
Tuy nhiên, sau khảo sát sơ bộ, ghi nhận thực trạng một số DN đã triển khai, điều
dễ nhận thấy là việc đầu tư nuôi cá nước lạnh phát triển tương đối nhanh nhưng chưa
bền vững. Đây là ngành kinh tế mới nên điều kiện cơ sở vật chất, kỹ thuật còn yếu và
thiếu trong triển khai. Còn nhiều DN, đơn vị đầu tư xây dựng hạ
tầng thủy sản với
mục tiêu phát triển cá nước lạnh bị chững lại, ngừng đầu tư chiều sâu hoặc đầu tư
không đồng bộ bởi thiếu vốn trong đầu tư XDCB, mở rộng quy mô. Một số DN, trang
trại chưa xác định rõ quy mô quy hoạch nuôi trồng, sản xuất, kinh doanh, cũng như
chưa xác định rõ quyền sử dụng về đất đai, ranh giới diện tích ho
ặc đầu tư theo kiểu
TỔNG CỤC THỦY SẢN
VIỆN KINH TẾ VÀ QUY HOẠCH THỦY SẢN
ĐỀ TÀI
NGHIÊN CỨU CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ THỰC TIẾN ĐỂ PHÁT
TRIỂN CÁ TẦM, CÁ HỒI Ở VIỆT NAM BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA SẢN XUẤT CÁ HỒI
LÊN MÔI TRƯỜNG SINH THÁI VÀ KINH TẾ XÃ HỘI
Cơ quan chủ trì nhiệm vụ: Viện Kinh tế và Quy hoạch thủy sản
Chủ nhiệm đề tài: TS. Nguyễn Việt Nam
Nhóm thực hiện: Th.S Phạm Thị Thùy Linh
CN. Lê Sỹ Ánh
CN. Nguyễn Phương Thảo Hà Nội 2011
Mục Lục
nhiều có ảnh hưởng đến môi trường các thủy vực của ta và bước đầu cũng có đụng độ (xung
đột) về lợi ích giữa các ngành nghề. Vì thế nghiên cứu đánh giá tác động của sản xuất cá H
ồi
lên môi trường sinh thái và kinh tế xã hội là cần thiết.
II. Tài liệu và phương pháp
Các kết quả dựa chủ yếu vào việc phỏng vấn những người đã tham gia sản xuất cá Hồi ở
Việt Nam và thông qua chuyên gia, tham khảo tư liệu trong nước và ngoài nước, trên mạng
internet, cũng như kết quả khảo sát thực tế tại các cơ sở nghiên cứu và trại sản xuất cá Hồi
vào tháng 11/2011 ở các t
ỉnh Lào Cai, Lai Châu, Lâm Đồng, Đắc Lắc trên các mặt kinh tế, xã
hội và ảnh hưởng đến môi trường sinh thái thủy vực nói chung.
III. Kết quả nghiên cứu
1. Một số quan điểm về nuôi trồng thủy sản (NTTS) ảnh hưởng đến môi trường
thủy vực
Sử dụng các thủy vực nước ngọt tự nhiên và nhân tạo cho mục đích sản xuất cá là việc làm
có lợi ích thiết thự
c không thể phủ nhận, không ai nghi ngờ điều đó. Việc nuôi cá có thể tiến
hành trên toàn bộ diện tích thủy vực, cũng có thể ngăn ra một phần eo ngách hồ chứa hoặc
nuôi trong lồng bè trên hồ chứa, xây dựng các trại nuôi cá Hồi trên vùng cao lấy nước lạnh từ
các nguồn suối ở độ cao trên 1.000 m asl. Việc nuôi cá trong lồng bè nổi trong hồ chứa là có
triển vọng hơn cả, bởi vì điều
đó cho phép ta điều khiển được các quá trình áp dụng công
nghệ kỹ thuật nuôi một cách tối đa. Từ quan điểm kinh tế nuôi cá trong lồng bè sẽ còn có
triển vọng hơn nhiều đối với các đối tượng cá nuôi cụ thể như cá Hồi - đối tượng được coi là
có giá trị cao ở các hồ chứa trên vùng cao. Nuôi cá Hồi trên hồ tự nhiên hay hồ chứa nhân
tạo, trong hệ thống bể xi măng hay ao đất trên vùng núi cao, nhấ
t là đối với các hồ có diện
tích cỡ nhỏ, cỡ vừa thì người nuôi cá đụng độ với hai vấn đề: một bên là mong muốn đạt
được sản lượng cá nhiều nhất, bên kia là số lượng cá nuôi và lượng thức ăn đưa vào cho cá ăn
bị rơi vãi ra ngoài không được phép vượt quá khả năng tự làm sạch của thủy vực hồ chứa,
đổi thành khí metan (CH
4
)(Kelli- Robertson, 1979). Sự phân giã mạnh các chất hữu cơ hình
thành có nguồn gốc nội sinh trong hồ hay nguồn gốc từ bên ngoài vào vẫn tiếp tục xảy ra trên
bề mặt lớp bùn. Mức độ phân hủy phụ thuộc vào thành phần của chính chất đó cũng như phụ
thuộc vào chế độ thủy văn của thủy vực. Nếu như nước tầng đáy chứa ô xy hòa tan thì trong
tầng mặt lớp phủ mặt đáy quá trình phân hủy xảy ra nhờ vào hoạt động của spirill, spirochete,
vi khuẩn và các bacteria dạng sợi và dạng saprophit khác nhau (Godino-Orlandi, Jones,
1981). Sự phân giã các chất xen lu lô, lignin, pectin và các chất polymer có ngu
ồn gốc tự
nhiên khác nhau thường có sự tham gia trực tiếp của nấm, các dạng vi sinh vật đa dạng khác
nhau và Closstridium (Kuznetsov et all, 1979). Sự hình thành các chất các bon và hydrô do
kết quả hoạt động của vi sinh vật sẽ chuyển biến thành khí các bô níc (CO
2
) và nước (H
2
O),
còn ni tơ của các hỗn hợp đạm (protein) – chuyển biến thành nước tiểu và amônia, để rồi tạo
thành nitrat, là chất dễ được hấp thụ bởi tảo Lục - tảo Lam (Xukhoverkhov, Xiversov, 1975;
Mikheeva, 2010). Trong trường hợp lớp bùn gần đáy thiếu ô xy thì trên lớp mặt bùn đáy sẽ
hình thành nên điều kiện yếm khí, khi đó các chất hữu cơ phân giã nhờ vào khu hệ vi thực vật
dị dưỡng ưa yếm khí hoạ
t động phối hợp, liên kết rất hiệu quả. Còn dưới lớp bùn đáy sâu hơn
lại phát triển các vi khuẩn (bacteria) khử sun phát và tạo khí mê tan (CH
4
). Vi khuẩn khử sun
phát đi theo hướng làm giàu (tăng) sun phua hydrô (H
2
S) trong thủy vực. Ngoài ra, sun phua
hyđrô còn có thể được tạo ra trong điều kiện yếm khí do phá hủy các a xít amin của các vi