KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC
DuE
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP CƠ SỞ
2. Mục tiêu nghiên cứu 2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
3.1. Đối tượng nghiên cứu 2
3.2. Phạm vi nghiên cứu 2
4. Phương pháp nghiên cứu 2
5. Kết cấu đề tài 3
CHƯƠNG I - CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC LẬP, TRÌNH DUYỆT VÀ
PHÁT HÀNH BÁO CÁO KIỂM TOÁN NGÂN SÁCH, TIỀN VÀ TÀI SẢN NHÀ
NƯỚC CỦA TỈNH
1.1. Một số khái niệm cơ bản 4
1.1.1. Khái ni
ệm về BCKT ngân sách, tiền và tài sản nhà nước 4
1.1.2. Công tác lập BCKT 4
1.1.3. Công tác trình duyệt BCKT 5
1.1.4. Công tác phát hành BCKT 7
1.1.5. Công tác kiểm tra soát xét chất lượng của BCKT 8
1.1.6. Vị trí, mục tiêu, ý nghĩa của BCKT trong Quy trình KTNN 8
1.2. Nhân tố ảnh hưởng đến công tác lập, duyệt và phát hành BCKT NSĐP 11
1.2.1. Trình độ đội ngũ KTV 11 1.2.2. Quy trình công tác lập, duyệt và phát hành BCKT NSĐP 12
1.2.3. Chất lượng dự thảo BCKT 12
1.3. Công tác lập, duyệt và phát hành BCKT và trách nhiệm của Trưởng đoàn kiểm
toán, Kiểm toán trưởng và Hội đồng thẩm định cấp Vụ 12
1.3.1. Trình tự lập, trình duyệt, thông báo kết quả kiểm toán với địa phương 13
1.3.2. Nguyên tắc cần tuân thủ khi lập, trình duyệt 14
1.3.3. Các cơ sở, tiêu chí để đánh giá chất lượng 15
1.3.4. Yêu cầu BCKT 16
1.3.5. Kiểm soát chất l
2.3.5. Bài học rút ra cho KTNN KV IX 42
CHƯƠNG III- NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC LẬP, TRÌNH DUYỆT
VÀ PHÁT HÀNH BÁO CÁO KIỂM TOÁN CỦA KTNN KV IX
3.1. Giải pháp hoàn thiện trong các bước của qui trình lập BCKT 44
3.1.1. Tổ chức Đoàn kiểm toán, Tổ kiểm toán 44
3.1.2. Tổ chức Tổ biên tập Dự thảo BCKT 44
3.1.3. Tăng cường phối hợp với UBND và HĐND 45
3.1.4. Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác lậ
p Dự thảo BCKT
48
3.1.5. Hoàn thiện tổ chức bộ máy KTNN KV IX và chính sách sử dụng cán bộ công
chức 48
3.1.6. Hoàn thiện trong quá trình duyệt BCKT 49 3.1.7. Hoàn thiện trong việc thông báo kết quả kiểm toán với địa phương được
kiểm toán 49
3.1.8. Trong việc phát hành BCKT 50
3.1.9. Phân định rõ trách nhiệm và quyền hạn của các cấp kiểm soát và thống nhất
trình tự, phương pháp thực hiện công tác lập BCKT 50
3.2. Những điều kiện để thực hiện giải pháp nâng cao công tác công tác lập, trình
duyệt và phát hành BCKT 51
3.2.1. Kiến nghị sửa đổi, Bổ sung các quy định về thời gian tổng h
ợp và kết cấu
BCKT 51
3.2.2. Tăng cường công tác tổng hợp, đánh giá rút kinh nghiệm trong công tác lập,
trình duyệt và phát hành BCKT 52
3.2.3. Kiến nghị để thực hiện các giải pháp 52
KẾT LUẬN
và Báo cáo với Chính phủ, Quốc hội theo Luật định. Việc nâng cao chất lượng
BCKT ngân sách, tiền và tài sản nhà nước của tỉnh sẽ góp phần nâng cao ch
ất
lượng của BCKT quyết toán NSNN. Từ đó có thể tư vấn cho các cơ quan Đảng,
Nhà nước, về công tác quản lý điều hành NSNN. Vì thế, tổng hợp lập BCKT là
một khâu quan trọng trong quá trình kiểm toán và thực hiện tốt công tác tổng
hợp lập BCKT sẽ góp phần nâng cao chất lượng cuộc kiểm toán.
KTNN KV IX được thành lập ngày 12 tháng 12 năm 2007 theo quyết định số
13/2007/QĐ-KTNN. Sau hơn 3 năm thành lập và hoạt động, KTNN KV IX vừ
a
xây dựng tổ chức vừa đi vào hoạt động. KTNN KV IX cũng đã từng Bước hoàn
thiện về tổ chức và hoạt động nói chung, hoạt động kiểm toán nói riêng và Bước
đầu đã thu được nhiều kết quả đáng khích lệ, góp phần làm lành mạnh hoá hoạt
động tài chính công, chống lãng phí, giúp Nhà nước quản lý vĩ mô nền kinh tế.
Tuy nhiên, việc lập và gửi BCKT sau khi kết thúc kiểm toán tại địa phương của
đơ
n vị còn chậm so với quy định.
BCKT là kết quả cuối cùng của cuộc kiểm toán, để chất lượng của hoạt động
kiểm toán được nâng cao thì công tác lập, xét duyệt và phát hành BCKT của
KTNN cũng phải luôn được quan tâm, chú trọng và không ngừng được Bổ sung,
hoàn thiện. Nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng hoạt động kiểm toán của KTNN
2
KV IX nói riêng và KTNN nói chung cần phải hoàn thiện về nội dung, phương
pháp lập và gửi BCKT quyết toán ngân sách địa phương (NSĐP).
Xuất phát từ yêu cầu nâng cao chất lượng kiểm toán của KTNN và thực trạng
của công tác lập, xét duyệt và phát hành BCKT của KTNN KV IX hiện nay vẫn
còn có một số hạn chế, nhóm nghiên cứu nhận thấy cần phải hoàn thiện công tác
lập, xét duyệt và phát hành BCKT ngân sách, tiền, tài sản nhà nước địa phương
của KTNN KV IX.
Đề tài nghiên cứu gồm 03 chương:
Chương I: Cơ sở lý luận về công tác lập, trình duyệt và phát hành BCKT
ngân sách, tiền và tài sản nhà nước của tỉnh.
Chương II: Thực trạng công tác l
ập, trình duyệt và phát hành BCKT của
KTNN KV IX.
Chương III: Nâng cao chất lượng công tác lập, trình duyệt và phát hành
BCKT của KTNN KV IX.
4
CHƯƠNG I - CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC LẬP, TRÌNH DUYỆT
VÀ PHÁT HÀNH BÁO CÁO KIỂM TOÁN NGÂN SÁCH, TIỀN VÀ TÀI
SẢN NHÀ NƯỚC CỦA TỈNH
1.1. Một số khái niệm cơ bản
1.1.1. Khái niệm về BCKT ngân sách, tiền và tài sản nhà nước của tỉnh (gọi
tắt là BCKT)
BCKT là văn bản do KTNN lập và công bố để đánh giá, xác nhận, kết luận và
kiến nghị về những nội dung đã kiểm toán. Hoạt động KTNN phục v
ụ việc kiểm
tra, giám sát của Nhà nước trong quản lý, sử dụng ngân sách, tiền và tài sản nhà
nước; góp phần thực hành tiết kiệm, chống tham nhũng, thất thoát, lãng phí, phát
hiện và ngăn chặn hành vi vi phạm pháp luật; nâng cao hiệu quả sử dụng ngân
sách, tiền và tài sản nhà nước.
1.1.2. Công tác lập BCKT
Khi kết thúc kiểm toán tại địa phương, Trưởng đoàn có trách nhiệm: tập hợp
đầy đủ các bằng chứng kiểm toán thích hợp và kế
t quả kiểm toán để lập BCKT;
Kiểm tra, phân loại, tổng hợp kết quả kiểm toán; Lập BCKT; Thảo luận, lấy ý
kiến thành viên Đoàn kiểm toán.
Trưởng đoàn tổ chức thảo luận trong Đoàn kiểm toán để lấy ý kiến tham gia của
Xét duyệt BCKT là một nội dung quan trọng của quá trình kiểm soát chất
lượng kiểm toán, trình tự và cấp độ xét duyệt báo cáo tùy thuộc vào sự phân cấp
quản lý, trình độ phát triển của hệ thống tổ chức KTNN, năng lực chuyên môn
của đội ngũ KTV. Nhưng nhìn chung việc xét duyệt BCKT thường được thực
hiện theo trình tự hai hoặc ba bước như sau:
Thứ nhất, xét duyệt BCKT tại KTNN chuyên ngành (khu vực):
- Với vai trò là người quản lý, lãnh đạo toàn bộ hoạt động của kiểm toán
chuyên ngành (khu vực), Kiểm toán trưởng có trách nhiệm tổ chức xét duyệt dự
thảo BCKT các cuộc kiểm toán do kiểm toán chuyên ngành (khu vực) của mình
thực hiện, thành phần tham dự xét duyệt gồm :
+ Kiểm toán trưởng Kiểm toán chuyên ngành (khu vực);
+ Trưởng đoàn kiểm toán, tổ soạn thảo dự thảo BCKT;
6
+ Bộ phận quản lý chất lượng (phòng tổng hợp) thuộc Kiểm toán chuyên
ngành (khu vực).
- Xét duyệt dự thảo BCKT tại Kiểm toán chuyên ngành (khu vực) (gọi tắt là
Hội đồng cấp vụ) sẽ phải đánh giá về thể thức, nội dung, tính hợp lý, giá trị của
dự thảo BCKT và lập biên bản cuộc họp theo mẫu quy định làm cơ sở để trình
lên Hội đồng cấp cao hơn (Hộ
i đồng xét duyệt cấp KTNN).
Thứ hai, xét duyệt BCKT tại Hội đồng xét duyệt BCKT (gọi tắt là Hội đồng
xét duyệt cấp KTNN):
- Kiểm toán trưởng Kiểm toán chuyên ngành (khu vực) sau khi đã hoàn thiện
dự thảo BCKT theo tinh thần của cuộc họp Hội đồng cấp Vụ sẽ trình lên lãnh
đạo KTNN bản dự thảo cuối cùng kèm theo tờ trình của Kiểm toán trưởng Kiểm
toán chuyên ngành (khu vực) đánh giá, nhận xét về thực hiệ
n mục tiêu của kế
hoạch kiểm toán, những vấn đề còn có ý kiến khác nhau của KTV chưa được xử
lý, những vấn đề cần xin ý kiến lãnh đạo KTNN. Biên bản cuộc họp xét duyệt
BCKT.
1.1.4.Công tác phát hành BCKT
Sau khi Kiểm toán trưởng trình lãnh đạo KTNN BCKT đã hoàn chỉnh, Vụ
Tổng hợp rà soát, kiểm tra và đảm bảo về nội dung, các thủ tục, trình tự lập
BCKT đúng quy định; soạn thảo công văn gửi BCKT trình lãnh đạo KTNN ký
phát hành.
BCKT chính thức sau khi hoàn thành phải được phát hành kịp thời mới có ý
nghĩa, việc phát hành BCKT được thực hi
ện theo quy định sau:
- BCKT trước hết được gửi đơn vị được kiểm toán và cấp trên của đơn vị
được kiểm toán nhằm chính thức thông báo kết quả kiểm toán để đơn vị được
kiểm toán và cấp trên của họ xem xét chỉ đạo sửa chữa, khắc phục những sai sót,
yếu kém trong chỉ đạo, điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh và trong công
tác quản lý tài chính - ngân sách, trong quản lý và sử dụ
ng kinh phí cho các dự
án trọng điểm quốc gia.
- Đối với những BCKT có ý nghĩa quan trọng, ngoài việc gửi cho đơn vị
được kiểm toán và cấp trên của họ còn phải gửi tới các cơ quan quản lý Nhà
8
nước có liên quan (Bộ chủ quản, Bộ Tài chính,…) theo quy định của pháp luật.
Đối với những BCKT có tầm quan trọng đặc biệt, có phạm vi ảnh hưởng sâu
rộng trong toàn xã hội còn phải gửi tới Chính Phủ, Quốc hội để báo cáo.
- BCKT sau khi phát hành sẽ được phổ biến kết quả BCKT trên các phương
tiện thông tin đại chúng theo quy định của pháp luật. Sự công khai kết quả kiểm
toán được càng nhiều càng có lợi cho chính sách công khai và minh bạch tài
chính củ
a Đảng và Nhà nước.
1.1.5.Công tác kiểm tra soát xét chất lượng của BCKT
Hoạt động kiểm soát chất lượng kiểm toán nhằm đảm bảo việc tuân thủ pháp
quan kiểm toán đưa ra ý kiến xác nhận rằng
BCTC có được lập trên cơ sở chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành (hoặc
được chấp nhận), có tuân thủ pháp luật liên quan và có phản ánh trung thực và
hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu hay không. Mục tiêu của kiểm toán BCTC
còn giúp cho đơn vị được kiểm toán thấy rõ những tồn tại, sai sót để khắc phục
nhằm nâng cao chất lượng thông tin tài chính của đơn vị.
- Đố
i với KTV, BCKT là sản phẩm của KTV cung cấp cho xã hội, nên họ
chịu trách nhiệm về ý kiến của mình.
- Đối với người sử dụng thông tin được kiểm toán, BCKT là căn cứ để họ
đánh giá các thông tin này và đưa ra các quyết định kinh tế. Để đảm bảo vai trò
này, báo cáo phải rõ ràng, rễ hiểu để không gây các hiểu lầm.
- Đối với đơn vị được kiểm toán , trong một số trường hợp ví dụ nh
ư kiểm
toán hoạt động – BCKT va bảng kiến nghị về công tác quản lý nếu có còn là căn
cứ để đánh gía và cải tiến hoạt động của đơn vị nói chung, kiểm toán nội bộ của
công tác kế toán tài chính nói riêng.
* Ý nghĩa: BCKT là giai đoạn cuối cùng của toàn bộ quy trình kiểm toán và là
sản phẩm của một cuộc kiểm toán. BCKT là do KTV lập để trình bày ý kiến của
mình về các BCTC được kiểm toán để cung cấ
p cho các đối tượng quan tâm đến
thông tin tài chính. Do đó, nó có ý nghĩa rất quan trọng:
- Đối với KTV, BCKT thực chất là tài liệu ghi nhận những kết luận cuối
cùng của KTV về thông tin đã được kiểm toán. BCKT thực chất là thông báo về
kết quả của cuộc kiểm toán, nó phản ánh đầy đủ và ngắn gọn toàn bộ công việc
mà KTV đã thực hiện trong quá trình kiểm toán, thể hiện trình độ năng lực, sự
10
tuân thủ quy trình, chuẩn mực kiểm toán, sự thành thạo của KTV trong công
việc. Đồng thời nó là sản phẩm của KTV cung cấp cho xã hội, tăng cường tính
các chuẩn mực kiểm toán có liên quan về lập BCKT. Các chuẩn mực này sẽ
giúp cho việc lập và trình bày BCKT được thống nhất về nội dung và bao gồm
11
đầy đủ các yếu tố cần thiết để tránh những hiểu lầm có thể xảy ra cho người sử
dụng BCKT.
Đối với BCKT do KTNN lập ngoài chức năng kiểm tra, xác nhận báo cáo
kết quả kiểm toán và tư vấn nhằm hoàn thiện công tác quản lý kinh tế, NSNN,
còn có chức năng đưa ra các kiến nghị xử lý đối với những sai phạm của doanh
nghiệp được phát hiện ra trong quá trình kiểm toán, do đó sau khi kết thúc mỗ
i
cuộc kiểm toán, việc lập BCKT vừa là quyền hạn vừa là trách nhiệm pháp lý đối
với KTV và cơ quan KTNN. Do đó BCKT của KTNN cũng có một số đặc trưng
cơ bản, đó là:
- BCKT phải gắn liền với cuộc kiểm toán cụ thể được thực hiện theo một trình
tự nhất định, là kết quả kiểm toán dựa trên nguyên tắc hoạt động độc lập, khách
quan, trung thực, tuân th
ủ pháp luật và phương pháp chuyên môn, nghiệp vụ.
- BCKT phải có ý kiến giải trình về tình hình tài chính, tính kinh tế, hiệu
quả, tiết kiệm của đơn vị được kiểm toán, dựa trên cơ sở những bằng chứng
kiểm toán đầy đủ, thích hợp, các quy định về chế độ quản lý kinh tế tài chính và
những chuẩn mực kê toán, chế độ kế toán hiện hành.
- BCKT có mục tiêu tư vấn thể hiện thông qua các khuyến ngh
ị đối với các
đơn vị được kiểm toán và các cơ quan quản lý nhà nước giúp khắc phục, sửa
chữa sai sót, cải tiến công tác quản lý, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực tài
chính của Nhà nước hoặc hạn chế thiệt hại.
- BCKT phải được công bố, công khai trên các phương tiện thông tin đại
chúng để phát huy tác dụng răn đe những sự tái phạm trong tương lai.
1.2. Nhân tố ảnh hưởng đến công tác l
a số liệu; tính hợp pháp của những
nhận xét, đánh giá, xác nhận, kết luận, kiến nghị và tính khả thi của những kiến
nghị kiểm toán.
1.3. Công tác lập, duyệt và phát hành BCKT và trách nhiệm của Trưởng
đoàn kiểm toán, Kiểm toán trưởng và Hội đồng thẩm định cấp Vụ
Trưởng đoàn kiểm toán có nhiệm vụ tổ chức, chỉ đạo việc lập dự thảo BCKT,
trực ti
ếp hoàn thiện dự thảo BCKT; chịu trách nhiệm trước pháp luật, trước
13
Kiểm toán trưởng và Tổng KTNN về tính đúng đắn, trung thực, khách quan của
các số liệu, nhận xét, đánh giá, xác nhận, kết luận và kiến nghị trong BCKT của
Đoàn kiểm toán.
Kiểm toán trưởng thành lập Hội đồng cấp vụ để thẩm định dự thảo BCKT; tổ
chức xét duyệt dự thảo BCKT trước khi trình lãnh đạo KTNN: chịu trách nhiệm
trước Tổng KTNN về kết quả xét duyệt và chịu trách nhi
ệm liên đới đối với
những sai sót về tính chính xác, hợp pháp của các ý kiến nhận xét, đánh giá, xác
nhận, kết luận và kiến nghị của dự thảo BCKT đã được KTNN KV xét duyệt.
Hội đồng thẩm định cấp Vụ có nhiệm vụ tổ chức thẩm định dự thảo BCKT
trước khi Kiểm toán trưởng thông qua và trình lãnh đạo KTNN; Chủ tịch Hội
đồng thẩm định cấp vụ chị
u trách nhiệm trước Kiểm toán trưởng, Tổng KTNN
về kết quả thẩm định và chịu trách nhiệm liên đới về những sai sót trong BCKT.
1.3.1. Trình tự lập, trình duyệt, thông báo kết quả kiểm toán với địa phương
và phát hành BCKT
Ngày 26/02/2008 KTNN đã ra Quyết định số 03/2008/QĐ-KTNN ban hành
quy định trình tự lập, xét duyệt và phát hành BCKT của KTNN thì từ Điều 6 đến
Điều 13 của Quyết định này đã qui định rõ về trình tự này, n
ội dung gồm:
- Trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày nhận được dự
thảo BCKT, đơn vị
được kiểm toán phải có ý kiến bằng văn bản gửi KTNN; quá thời hạn trên, đơn
vị được kiểm toán không có ý kiến thì được coi là đã nhất trí với dự thảo BCKT.
- BCKT của cuộc kiểm toán được KTNN gửi cho đơn vị được kiểm toán và
các cơ quan có liên quan theo quy định của Tổng KTNN chậm nhất là bốn mươi
lăm ngày, kể từ ngày kết thúc kiểm toán tại đơn v
ị được kiểm toán; trường hợp
đặc biệt thì có thể kéo dài, nhưng không quá sáu mươi ngày, kể từ ngày kết thúc
kiểm toán tại đơn vị được kiểm toán.
15
- BCKT quyết toán NSĐP được gửi cho HĐND, Ủy ban nhân dân (UBND)
cùng cấp; đối với BCKT quyết toán ngân sách tỉnh, thành phố trực thuộc trung
ương còn được gửi cho Bộ Tài chính.
1.3.3. Các cơ sở, tiêu chí để đánh giá chất lượng của BCKT
Hệ thống tiêu chí và tiêu chuẩn đánh giá chất lượng kiểm toán được xây dựng
để đánh giá các công việc của một cuộc kiểm toán phù hợp với các quy định của
pháp luật, Chuẩn mực KTNN, quy trình ki
ểm toán và các quy định khác của
KTNN.
Các tiêu chí chung đánh giá chất lượng kiểm toán gồm:
- Mức độ thực hiện các mục tiêu của cuộc kiểm toán;
- Mức độ tuân thủ pháp luật và các quy định, kế hoạch, chương trình kiểm toán;
- Mức độ hợp lý của việc áp dụng các phương pháp kiểm toán;
- Mức độ đầy đủ, hợp pháp, thích hợp của các tài liệu, bằng chứng kiểm toán;
- Mức độ thực hi
ện việc quản lý và kiểm tra, soát xét kiểm toán;
- Mức độ thực hiện việc ghi chép và quản lý tài liệu làm việc thuộc hồ sơ
kiểm toán;
kiểm toán. Hình thức kiểm soát gián tiếp thự
c hiện đối với các cuộc kiểm soát
thuộc kế hoạch kiểm soát năm, các cuộc kiểm soát đột xuất.
Cuộc kiểm soát trực tiếp do Đoàn kiểm soát thực hiện theo kế hoạch được
Tổng KTNN phê duyệt.
Cuộc kiểm soát gián tiếp do Vụ Chế độ thực hiện theo kế hoạch được Vụ
trưởng phê duyệt.
1.3.6. Trách nhiệm của Trưởng đoàn kiểm toán, Kiểm toán tr
ưởng và Hội
đồng thẩm định cấp Vụ
Trách nhiệm của Trưởng đoàn kiểm toán
17
- Chậm nhất là 15 ngày, kể từ ngày Đoàn kiểm toán kết thúc kiểm toán tại
đơn vị, Trưởng đoàn kiểm toán phải hoàn thành dự thảo BCKT gửi Kiểm toán
trưởng để tổ chức thẩm định và xét duyệt. Trong quá trình lập dự thảo
BCKT,Trưởng đoàn kiểm toán phải tuân thủ các quy định của Luật KTNN, Quy
chế tổ chức và hoạt động của Đoàn KTNN và các quy định khác có liên quan;
- Khi họp Đoàn kiểm toán
để lấy ý kiến tham gia hoặc xử lý các tình huống
khác trong quá trình lập dự thảo BCKT phải được ghi thành biên bản và được
lưu trữ theo quy định của Luật KTNN.
Trách nhiệm của Hội đồng thẩm định cấp vụ
- Hội đồng thẩm định cấp vụ giúp Kiểm toán trưởng thẩm định dự thảo
BCKT. Thành phần của Hội đồng cấp vụ tối thiểu là 05 thành viên, bao gồm: Chủ
tịch Hội đồng thẩm định cấp vụ là Kiểm toán trưởng; Phó chủ tịch Hội đồng thẩm
định cấp vụ là 01 Phó kiểm toán trưởng; 01 thành viên không thuộc Đoàn kiểm
toán; Đại diện Phòng Tổng hợp làm thư ký Hội đồng; Các thành viên khác.
- Nguyên tắc làm việc của Hội đồng thẩm định cấp vụ: Hội đồng thẩm định
cấp vụ làm việc theo nguyên tắc thảo luận tậ
giám sát, chỉ đạo và duyệt các nội dung công việc, nhất là duyệt BCKT trước khi
công bố và phát hành nhằm giảm thiếu rủi ro đến mức thấp nhất. Với những vấn
đề nêu trên, việc hoàn thiện BCKT là điều tất yếu, vừa là trách nhiệm, nghĩa vụ
và quyền lợi của KTV mà trước hết là trách nhiệm của Trưởng đoàn kiểm toán.
Hoàn thiện công tác lập, xét duyệt và phát hành BCKT của KTNN sẽ đem lại
chất lượng cao cho BCKT từ đó nâng cao chất lượng và hiệu quả của hoạt động
của KTNN, vì BCKT là kết quả cuối cùng của cuộc kiểm toán, chính vì thế mà
vai trò, vị thế của KTNN ngày càng được nâng cao.
Đối với một cuộc kiểm toán của KTNN, giai đoạn lập, xét duyệt và phát hành
BCKT là giai đoạn tương đối dài, có khi chiếm mất hơn nửa th
ời gian của cuộc
kiểm toán. Chính vì vậy, hoàn thiện công tác lập, xét duyệt và phát hành BCKT
sẽ có thể tiết kiệm thời gian và chi phí cho cuộc kiểm toán mà vẫn mang lại sản
phẩm cuối cùng là BCKT có chất lượng cao.
Đối với đơn vị được kiểm toán mà đặc biệt là các doanh nghiệp nhà nước,
việc hoàn thiện công tác lập, xét duyệt và phát hành BCKT giúp cho đơn vị có
19
được một BCKT có chất lượng cao, phản ánh đúng đắn tình hình và kết quả kinh
doanh cũng như tình hình sử dụng và huy động các nguồn lực tài chính của
mình, qua đó nâng cao uy tín của doanh nghiệp đối với Nhà nước và các đối tác,
đặc biệt là nâng cao uy tín trên thị trường huy động vốn. Mặt khác, những ý kiến
nhận xét, đánh giá của KTV trong BCKT về BCTC của doanh nghiệp sẽ giúp
cho doanh nghiệp hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ, hệ thố
ng quản lý tài
chính, kế toán của mình, từ đó nâng cao chất lượng hoạt động của doanh nghiệp.
1.4.2. Tính khả thi trong việc hoàn thiện công tác lập BCKT
KTNN đã hơn 15 năm thành lập và trưởng thành, tuy chưa phải là lâu năm so
với các quốc gia khác nhưng cũng đã tích lũy một số kinh nghiệm trong lĩnh vực
kiểm toán. Tổng KTNN đã ban hành Hệ thống mẫu biểu kiểm toán áp dụng