Nâng cao chất lượng công tác lập dự án đầu tư tại Công ty Xây dựng quốc tế Hà Nội - Pdf 12

LỜI NÓI ĐẦU
Đầu tư là chìa khoá cho sự tăng trưởng của mỗi quốc gia trên thế giới.
Khái niệm đầu tư tuy đã được các nhà kinh tế học đề cập từ rất lâu nhưng nó
chỉ thực sự phát triển ở Việt nam từ khi Nhà nước ta chuyển hướng phát triển
kinh tế sang vận hành theo cơ chế thị trường theo định hướng XHCN. Tuy
vậy thì đầu tư vào đâu, như thế nào, phương thức thực hiện nó ra làm sao thì
không phải bất cứ doanh nghiệp nào cũng thực hiện nó một cách có khoa học
và hiệu quả.
Nguồn lực xã hội ngày càng khan hiếm, một công cuộc đầu tư rót nhiều
tiền của vào để thực hiện nó với một môi trường đầu tư cực kì nhiều biến
động khó lường xảy ra, nếu sai lầm sẽ phải trả giá đắt. Do vậy bất kì một công
cuộc đầu tư nào trước khi thực hiện nó đầu phải được tính toán và có sự chuẩn
bị mọi mặt một cách kĩ càng. Tất cả sự chuẩn bị này được lưu vào một bộ tài
liệu, đó là dự án đầu tư.
Ngày nay đầu tư theo dự án là một công cụ phổ biến rộng rãi và có hiệu
quả, không ai có thể phủ nhận được vai trò quyết định của dự án đến sự thành
bại của một công cuộc đầu tư. Thấy rõ được tầm quan trọng của dự án đầu tư,
ngay từ khi mở rộng lĩnh vực hoạt động của mình sang đầu tư theo dự án từ
năm 1994, công ty xây dựng quốc tế HN rất quan tâm đến các quá trình
nghiên cứu, đào tạo phát triển kiến thức chuyên môn về công tác lập dự án
đầu tư. Trong giới hạn về thời gian và mức độ hiểu biết của mình về lĩnh vực
đầu tư nên trong bài luận văn này em chỉ đề cập đến "Một số giải pháp chủ
yếu nhằm nâng cao chất lượng công tác lập dự án đầu tư tại công ty xây
dựng quốc tế HN". Bài viết gồm 3 chương chính:
Chương I: Lí luận chung về đầu tư và dự án đầu tư
Chương II: Nêu thực trạng công tác lập dự án đầu tư tại công ty.
Chương III: Trên cơ sở đó nêu một số giải pháp nhằm nâng cao chất
lượng công tác lập dự án tại công ty.
Để hoàn thành tốt bài viết này rất mong được sự góp ý của quý thầy cô
và các bạn để có thể hoàn chỉnh hơn về các góc độ nghiên cứu đề tài trong
phạm vi kiến thức đã học trong nhà trường và những hiểu biết thực tế nhất

b) Đầu tư thương mại
Đầu tư thương mại là hoạt động đầu tư mà thời gian thực hiện đầu tư và
hoạt động của các kết quả đầu tư để thu hồi đủ vốn đầu tư là tương đối ngắn,
vốn vận động nhanh, độ mạo hiểm thấp trong một thời gian ngắn tính bất định
không cao, lại dễ dự đoán và dễ đạt độ chính xác cao. Trong thực tế, những
người có tiền thường thích đầu tư thương mại (kinh doanh hàng hoá). Tuy
nhiên trong giác độ xã hội, hoạt động này không tạo ra của cải xã hội một
cách trực tiếp, nhưng giá trị tăng do hoạt động đầu tư đem lại chỉ là sự phân
phối thu nhập giữa các ngành, các địa phương, các tầng lớp dân cư trong xã
hội.
c) Đầu tư phát triển
Đây là hoạt động đầu tư có tính chất quyết định đến sự tăng trưởng và
phát triển kinh tế, trực tiếp tạo ra các tài sản cho đất nước. Các tài sản tăng
thêm có thể là tài sản hữu hình như nhà cửa, các công trình, các máy móc
trang thiết bị, các vật dụng khác. Các tài sản vô hình như đầu tư vào phát triển
giáo dục, nghiên cứu khoa học, sự tăng thêm về trình độ quản lí... Đặc điểm
của hoạt động đầu tư này là thời gian đầu tư thường kéo dài, số tiền đầu tư
lớn, độ mạo hiểm cao. Đây là cái giá của hoạt động đầu tư phát triển. Mặt
khác trong quá trình đầu tư thì luôn phải có một quá trình nghiên cứu kĩ càng
được ghi trong một tập tài liệu gọi là dự án đầu tư. Khi thực hiện quá trình đầu
tư (bao gồm khâu lập dự án cho tới khâu thực hiện dự án) thì có nhiều bộ phận
cơ quan tham gia với các chức năng khác nhau như lập và quản lí dự án, thẩm
định dự án, quản lí Nhà nước về đầu tư nhằm tạo ra tính chính xác và hiệu quả
cho công cuộc đầu tư. Ngày nay đầu tư phát triển được quan tâm rộng rãi giữa
các quốc gia, các ngành, các vùng, các địa phương.
3. Vai trò của hoạt động đầu tư phát triển
Nói về vai trò của hoạt động đầu tư đến quá trình tăng trưởng và phát
triển kinh tế, các lí thuyết kinh tế đều coi đầu tư là nhân tố quan trọng để phát
triển kinh tế, là chìa khoá cho sự tăng trưởng.
a) Trên giác độ toàn bộ nền kinh tế


ICOR
I
g
g
I
ICOR

=⇒

=
Với I là vốn đầu tư còn g là mức tăng GDP.
Như vậy nếu ICOR không đổi thì tốc độ tăng GDP chỉ phụ thuộc vào
mức tăng đầu tư.
Trang 4
ICOR của mỗi nước khác nhau thì khác nhau tuỳ thuộc vào trình độ
phát triển kinh tế của mỗi nước đó. Ở nước phát triển ICOR thường lớn (57)
vì họ thừa vốn thiếu lao động và sử dụng những công nghệ đắt tiền hiện đại
nên để tăng 1%GDP cần tăng nhiều vốn, ngược lại đối với những nước chậm
phát triển thì ICOR thấp (23). Như vậy đầu tư đóng vai trò như một cái kích
ban đầu tạo đà cho sự cất cánh của nền kinh tế.
 Đầu tư tác động đến sự chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế: Kinh
nghiệm của các nước trên thế giới cho thấy con đường tất yếu để có thể tăng
trưởng nhanh với tốc độ mong muốn (từ 9-10%/năm) là tăng cường đầu tư
cho các ngành nông lâm ngư nghiệp do những hạn chế về đất đai và khả năng
sinh lợi, để đạt tốc độ tăng trưởng từ 5-6% là rất khó khăn. Như vậy chính đầu
tư quyết định quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các quốc gia, nhằm đạt
được tốc độ tăng trưởng nhanh của toàn bộ nền kinh tế. Về cơ cấu lãnh thổ,
đầu tư có tác dụng giải quyết những mất cân đối về phát triển giữa các vùng
lãnh thổ, đưa vùng kém phát triển thoát khỏi tình trạng đói nghèo, đồng thời

định để đạt được những kết quả và thực hiện được mục tiêu nhất định trong
tương lai.
Trên góc độ quản lí:Dự án đầu tư là một công cụ quản lí việc sử dụng
vốn, vật tư, lao động để tạo ta các kết quả tài chính, kinh tế xã hội trong một
thời gian dài.
Trên góc độ kế hoạch hoá: Dự án đầu tư là một công cụ thể hiện kế
hoạch chi tiết của một công cuộc đầu tư sản xuất kinh doanh, phát triển kinh
tế xã hội làm tiền đề cho các quyết định đầu tư và tài trợ. Dự án đầu tư là một
hoạt động kinh tế riêng biệt nhỏ nhất trong công tác kế hoạch hoá nền kinh tế
nói chung.
Về mặt nội dung: Dự án đầu tư là một tập hợp các hoạt động có liên
quan với nhau được kế hoạch hoá nhằm đạt được các mục tiêu đã định bằng
việc tạo ra các kết quả cụ thể trong một thời gian nhất định thông qua việc sử
dụng các nguồn lực xác định.
Đối với mỗi dự án đầu tư thì trong những hoạt động nào đó có liên quan
trực tiếp đối với việc tạo ra các kết quả được coi là hoạt động chủ yếu phải
được đặc biệt quan tâm.
2. Sự cần thiết phải đầu tư theo dự án
Xuất phát từ những đặc điểm đặc trưng của công cuộc đầu tư phát triển
thì việc đầu tư theo dự án là cần thiết.
Trang 6
Hoạt động đầu tư là một hoạt động kinh tế nhằm tái sản xuất cho nền
kinh tế xã hội, đây là một hoạt động phức tạp và có những đặc điểm nổi bật
sau đây:
+ Nguồn lực huy động cho một công cuộc đầu tư là rất lớn trong một
thời gian khá dài. Đây là cái giá khá lớn cho hoạt động đầu tư. Trong quá trình
này thì nguồn vốn nằm khê đọng không sinh lời.
+ Thời gian vận hành các kết quả đầu tư cho đến khi thu hồi vốn đã bỏ
ra hay cho đến khi thanh lí tài sản do vốn tạo ra có thể cần một thời gian dài,
thường là vài năm, có khi hàng chục năm hay lớn hơn.

giấy phép đầu tư, hay được giải ngân vốn, giải phóng mặt bằng).
- Đối với Nhà nước: Dự án là cơ sở để kiểm tra tính hợp pháp, tính khả
thi, tính định hướng của công cuộc đầu tư. Từ đó là cơ sở để thẩm định và cấp
giấy phép đầu tư (mà cơ quan đại diện quản lí Nhà nước về đầu tư là Bộ Kế
hoạch và Đầu tư, các Bộ và cơ quan ngang bộ khác, Uỷ Ban Nhân dân). Dự án
đầu tư giúp cho Nhà nước thực hiện được mục tiêu quản lí của mình là phù
hợp với các chính sách, chiến lược đầu tư mà tiêu chuẩn đánh giá chính là
hiệu quả kinh tế xã hội mà dự án mang lại.
- Đối với các định chế tài chính (Ngân hàng, các tổ chức tài chính): Dự
án là cơ sở để các tổ chức này thẩm định để đứng ra cho vay hay tài trợ. Bởi lẽ
khi dự án đi vào hoạt động thì số tiền cần huy động là rất lớn mà khi vận hành
các kết quả đầu tư thường mất nhiều năm tháng mới có thể trả được hết nợ.
Do vậy để an toàn cho nguồn vốn của mình thì đòi hỏi các định chế tài chính
dựa vào dự án để ra quyết định cho vay hoặc tài trợ vốn. (Loan and finance).
 - NỘI DUNG CHỦ YẾU CỦA DỰ ÁN ĐẦU TƯ
Nội dung chủ yếu của dự án đầu tư bao gồm các khía cạnh kinh tế vi
mô và vĩ mô, quản lí và kĩ thuật. Những khía cạnh này ở các dự án của các
ngành khác nhau đều có những nét đặc thù riêng. Tuy nhiên việc xem xét các
khía cạnh này đối với dự án công nghiệp và xây dựng là phức tạp hơn cả. Nội
dung chủ yếu của một dự án đầu tư xem xét các vấn đề sau đây:
1. nghiên cứu khía cạnh kinh tế xã hội tổng quát và thị trường của
dự án
1.1 Xem xét các khía cạnh kinh tế xã hội tổng quát liên quan đến dự
án
Có thể coi tình hình kinh tế tổng quát là nền tảng của dự án đầu tư. Nó
thể hiện khung cảnh đầu tư, có ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình phát triển và
Trang 8
hiệu quả kinh tế tài chính của dự án đầu tư. Tình hình kinh tế tổng quát được
đề cập trong dự án bao gồm:
 Điều kiện về địa lí tự nhiên (địa hình, khí hậu, địa chất...) có liên

b) Xem xét mức tiêu thụ hiện tại và trong quá khứ. Dự đoán nhu cầu
tương lai.
Đây là việc cần thiết nhằm xác định rõ xu hướng biến động của thị
trường để nhằm xác định quy mô của dự án. Gồm:
 Tính đàn hồi của nhu cầu so với giá: Nhu cầu sẽ thay đổi khi
giá cả thay đổi, giá cả tăng thì người mua sẽ phải cân nhắc kĩ hơn khi mua sản
phẩm. Việc ước lượng nhu cầu của thị trường có thể áp dụng phương pháp
thống kê mối liên hệ giữa giá cả và lượng sản phẩm tiêu thụ.
 Tính đàn hồi của cầu so với thu nhập: Chúng ta biết rằng trên
thực tế thu nhập tăng thì mức tiêu dùng cũng tăng. Để xem xét mối quan hệ
giữa nhu cầu và thu nhập chúng ta áp dụng những phương pháp nghiên cứu
tương quan giữa thu nhập đầu người và mức tiêu thụ sản phẩm của dự án trên
cơ sở các số liệu thống kê trong và ngoài nước.
đ Các yếu tố khác ảnh hưởng tới nhu cầu: Tuỳ theo từng loại sản
phẩm có những yếu tố đặc thù tác động rất mạnh đến thị trường của nó như
việc điện khí hoá một vùng nào đó là cho mức tiêu thụ hàng điện dân dụng
vùng đó tăng lên...
c) Nghiên cứu các vấn đề tiếp thị và khuyến thị
Việc xác định vấn đề này để giải quyết câu hỏi là làm sao để khách
hàng mua sản phẩm của mình thay vì sản phẩm của đối thủ cạnh tranh.
+ Tiếp thị:
Để đưa sản phẩm đến tay người tiêu dùng một cách hữu hiệu nhất cần
phải xem xét đối tượng khách hàng, tức là phải xem yếu tố quyết định để
khách hàng mua sản phẩm là gì? đối với mỗi khách hàng khác nhau thì việc
phân phối sản phẩm cũng sẽ cần phải khác nhau. Nghiên cứu các hình thức
phân phối và hiệu lực của chúng; các chi phí để đưa sản phẩm đến tận tay
người tiêu dùng.
Trang 10
+Khuyến thị:
Đây là một bộ phận chủ yếu của công tác tiếp thị. Mục đích của khuyến

Trang 11
a) Đặc tính của sản phẩm
Các đặc tính về mặt lí học,hoá học so sánh với các sản phẩm trong nước
và ngoài nước hoặc với tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm đo lường trong nước
và quốc tế. Các hình thức bao bì đóng gói, các công dụng và cách sử dụng sản
phẩm. Các sản phẩm ở đây bao gồm: sản phẩm chính, sản phẩm phụ và chất
thải.
b) Đánh giá chất lượng sản phẩm
Để đánh giá chất lượng sản phẩm phải xem xét các phương pháp và
phương tiện để kiểm tra sản phẩm xác định các yêu cầu về chất lượng sản
phẩm phải đạt, dự kiến bộ phận kiểm tra chất lượng sau khi đã xác định
phương pháp kiểm tra, dự kiến chi phí cho phương pháp kiểm tra.
2.2. Nghiên cứu kĩ thuật và phương pháp sản xuất
Nghiên cứu kĩ thuật và phương pháp sản xuất
Việc nghiên cứu kĩ thuật và phương pháp sản xuất cần được tiến hành
theo các vấn đề sau đây:
+ Bản chất của kĩ thuật sản xuất.
+ Yêu cầu tay nghề của người sử dụng, khả năng tiép thu kĩ thuật.
+ Yêu cầu về năng lượng và nguyên nhiên liệu sử dụng.
+ Khả năng chuyển sang sản xuất các mặt hàng khác trong trường hợp
mặt hàng cũ không còn hợp thời nữa.
+ Nhà cung cấp, cách thức cung cấp và quyền sở hữu công nghiệp.
+ yêu cầu về đầu tư và ngoại tệ.
Chọn kĩ thuật và phương pháp sản xuất
Sau khi nghiên cứu các phương pháp kĩ thuật sản xuất khác nhau chúng
ta phải lựa chọn phương pháp sản xuất hoặc quy trình công nghệ thích hợp
nhất đối với điều kiện thực tế hiện có mà vẫn đảm bảo sản phẩm đáp ứng
được mọi yêu cầu chất lượng, số lượng với chi phí tối thiểu. Như vậy việc lựa
Trang 12
chọn kĩ thuật sản xuất có liên quan đến các kiến thức cề đặc tính kĩ thuật, chất

Trang 13
+ Công suất thực tế: là công suất thực tế đạt được, luôn nhỏ hơn công
suất lí thuyết. Trong điều kiện hoạt động tốt công suất thực tế chỉ đạt được
trên dưới 90% công suất lí thuyết.
 Công suất của dự án
Nội dung và trình tự của việc xác định công suất của dự án bao gồm các
bước sau đây:
+ Xác định công suất bình thường: có thể của dự án đó là số sản phẩm
cần sản xuất để đáp ứng nhu cầu thị trường mà dự án dự kiến sẽ chiếm lĩnh.
+ Xác định công suất tối đa danh nghĩa: Công suất tối đa danh nghĩa
biểu hiện bằng số sản phẩm cần sản xuất vừa đủ để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ
của thị trường, vừa để bù đắp những hao hụt tổn thất trong quá trình sản xuất,
lưu kho, vận chuyển và bốc dỡ.
+ Công suất sản xuất: của dự án là số sản phẩm mad dự án cần sản xuất
trong một đơn vị thời gian nhỏ nhất để đáp ứng nhu cầu của thị trường có tính
đến thời gian và chế độ làm việc của lao động, của máy móc thiết bị trong
năm.
 Công suất khả thi của dự án
Để xác định Công suất khả thi của dự án cần căn cứ vào các yếu tố sau
đây:
+ Nhu cầu thị trường (công suất sản xuất).
+ Trình độ kĩ thuật của máy móc thiết bị
+ Khả năng cung cấp nguyên vật liệu, chi phí sản xuất , khả năng và chi
phí của vốn đầu tư.
Thông thường trong những năm đầu do có những khó khăn khác nhau
nên chỉ sử dụng công suất khoảng 40-90% công suất lí thuyết, vài năm sau
nhu cầu tăng thì sẽ sản xuất hết công suất (công suất khả thi).
2.5. Nguyên vật liệu đầu vào
Trang 14
Nguyên vật liệu đầu vào bao gồm tất cả các nguyên vật liệu chính và

kiện và đảm bảo cho dây chuyền thiết bị sản xuất, công nhân hoạt động an
toàn và thuận lợi. Đối với mỗi hạng mục công trình phải xem xét: Diện tích
xây dựng, đặc điểm kiến trúc (bê tông, cốt thép, khung sắt, lắp ghép...), kích
thước... và chi phí dự kiến.
Tổ chức xây dựng việc thi công các hạng mục công trình có thể được
tiến hành theo phương thức tự làm hoặc bao thầu, đấu thầu, tuỳ tài chính phức
tạp của công trình.
2.10. Đánh giá tác động của môi trường
Cùng với sự phát triển của công nghiệp, ô nhiễm môi trường cũng gia
tăng. Nhiều nước và nhiều địa phương đã ban hành các luật lệ, quy chế buộc
các cơ sở sản xuất phải gia tăng áp dụng các biện pháp xử lí chất thải. Trong
nghiên cứu khả thi phải nghiên cứu các vấn đề này.
2.11. Lịch trình thực hiện dự án
Việc lập lịch trình thực hiện từng hạng mục công trình từng công việc
trong mỗi hạng mục công trình trong mỗi dự án phải đảm bảo làm sao cuối
cùng dự án đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh đúng thời gian dự định. Đối
với các dự án quy mô lớn có nhiều hạng mục công trình, kĩ thuật xây dựng
công trình phức tạp, để lập hạng mục công trình đòi hỏi phải phân tích một
cách có hệ thống và có phương pháp.
3. phân tích tài chính dự án đầu tư
3.1. Xác định tổng vốn đầu tư và cơ cấu nguồn vốn của dự án
a) Xác định tổng vốn đầu tư
Tính toán chính xác tổng vốn đầu tư có ý nghĩa rất quan trọng đối với
tính khả thi của dự án. Nếu vốn đầu tư được dự tính quá thấp, dự án không
thực hiện được, ngược lại nếu dự tính quá cao không phản ánh được chính xác
hiệu quả tài chính dự án. Tổng mức vốn đầu tư của dự án bao gồm toàn bộ số
vốn cần thiết để thiết lập và đưa dự án vào hoạt động. Nó được chia ra làm hai
loại: Vốn cố định và vốn lưu động ban đầu (chỉ tính cho một chu kì sản xuất
kinh doanh đầu tiên).
b) Xác định các nguồn tài trợ cho dự án

năng cân bằng tài chính của dự án. Việc dự trù được tiến hành theo bảng mẫu
theo quy định của Nhà nước.
e) Dự tính cân đối thu chi
Phân tích tài chính dự án quan tâm tới lượng tiền đi vào và đi ra của dự
án. Đảm bảo cân đối thu chi (cân đối dòng tiền vào và dòng tiền ra là mục tiêu
quan trọng của phân tích tài chính dự án).
Việc dự tính cân đối dòng tiền được thực hiện theo bảng mẫu theo quy
định của Nhà nước.
3.3 Các chỉ tiêu phản ánh về mặt tài chính của dự án đầu tư
a) Các chỉ tiêu đánh giá tiềm lực tài chính của doanh nghiệp
+ Hệ số vốn tự có so với vốn đi vay.Hệ số này phải lớn hơn hoặc bằng
1. Đối với những dự án có nhiều triển vọng, hiệu quả thu được là rõ ràng thì
hệ số này có thể nhỏ hơn 1 và lớn hơn 2/3 thì thuận lợi.
+ Tỷ trọng vốn tự có so với vốn đầu tư phải lớn hơn hoặc bằng 50%,
đối với những dự án có triển vọng thì hệ số này có thể nhỏ tới 40%.
Trang 18
b) Các chỉ tiêu lợi nhuận thuần, thu nhập thuần của dự án
Đây là các chỉ tiêu đánh giá quy mô lãi của dự án. Chỉ tiêu lợi nhuận
thuần được tính cho từng năm hoặc từng giai đoạn hoạt động của đời dự án.
Chỉ tiêu này có tác dụng so sánh giữa các năm hoạt động của dự án.
W
i
=O
i
-C
i
Trong đó:
W
i
: Lợi nhuận thuần năm i

1
1
1
+
++
+
+
+
=

=
Chỉ tiêu lợi nhuận thuần bình quân năm được tính theo công thức:
n
W
W
n
i
ipv
PV

=
=
1
Để đánh giá đầy đủ quy mô lãi của đời dự án trong phân tích tài chính
thường sử dụng chỉ tiêu thu nhập thuần. Thu nhập thuần của dự án là thu nhập
còn lại sau khi đã trừ đi toàn bộ chi phí của cả đời dự án. Chỉ tiêu này phản
ánh quy mô lãi ở thời điểm hiện tại hoặc tương lai. Với cách tính ở thời hiện
tại, ta có chỉ tiêu NPV (Net present value)
∑∑
==

và chi phí bỏ ra để thu được lợi ích đó. Chỉ tiêu này tính bằng:
)(
)(
)1(
)1(
0
CPV
BPV
r
B
r
Bi
C
B
n
oi
i
i
n
i
i
=
+
+
=


=
=
Tỷ số B/C ≥ 1 thì dự án có thể được chấp nhận.

121
)(
NPVNPV
NPV
rrrIRR

−+=
Trong đó:
+ r
2
>r
1
và r
2
-r
1
≤5%
+ NPV
1
(ứng với r
1
)>0 và gần 0
+ NPV
2
(ứng với r
2
)<0 và gần 0
Dự án có IRR ≥ r
gh
và lớn nhất hay khả năng thu lợi nhuận của dự án

)( +
=
Nếu thời gian hoàn vốn T ≤ T
gh
(thời gian giới hạn do nhà đầu tư lựa
chọn) thì dự án có thể chấp nhận. Trường hợp so sánh lựa chọn dự án thì dự
án có T nhỏ nhất sẽ được lựa chọn.
g) Phân tích hoà vốn
Trang 21
Phân tích hoà vốn được tiến hành nhằm xác định mức sản xuất hoặc
doanh thu tối thiểu mà dự án có thể vận hành và không gây nguy hiểm tới khả
năng tồn tại của dự án về mặt tài chính.
Phân tích hoà vốn thực chất là tìm điểm hoà vốn (BEP-break event
point) mà tại đó doanh thu bán sản phẩm bằng tổng chi phí sản xuất hay nói
cách khác là tìm mức vận hành mà tại đó hàng năm dự án không có lãi nhưng
cũng không bị lỗ.
Nói chung điểm hoà vốn được tính bằng:
vp
f
x

=
Doanh thu hoà vốn là
v
p
f
O
h

=

i
giá sản
phẩm i
Điểm hoà vốn càng thấp, cơ hội thu lợi của dự án càng cao, rủi ro thua
lỗ càng thấp. Điểm hoà vốn có thể được thể hiện bằng khối lượng sản phẩm
tối thiểu, tỷ lệ đạt công suất tối thiểu, giá trị doanh thu tối thiểu. Nó cũng có
thể hiện qua giá bán tối thiểu, giá thành đơn vị sản phẩm cho phép.
h) Phân tích khả năng biến động dự án
Trên thực tế, những tính toán ban đầu khi xây dựng dự án không phải
bao giờ cũng đạt như dự kiến:
+ Nguồn vốn cố định và nguồn vốn lưu động có thể bị thiếu hụt, tình
trạng thâm hụt Ngân sách có thể trở nên căng thẳng.
+ Thời gian thi công, xây dựng và chạy thử có thể bị kéo dài.
+ Năng lực sản xuất (công suất thiết kế) dự kiến ban đầu có thể không
thực hiện được.
Trang 22
Hơn nữa khó có thể lường hết đươch những biến động của thị trường,
nền kinh tế như: Ảnh hưởng của lạm phát, những biến động thay đổi về tương
quan giá cả, những biến động về công nghệ tiên tiến... Ngoài ra còn có những
nguyên nhân chủ quan do trình độ quản lí của các nhà doanh nghiệp có thể
chưa phù hợp với những biến động của thị trường. Do đó, cần phải tiến hành
phân tích khả năng biến động của dự án để đánh giá khả năng thực hiện của
dự án cũng như để cho các nhà doanh nghiệp lường trước được những khó
khăn khi thực hiện dự án và đề xuất những biện pháp quản lí kinh doanh thích
hợp.
i) Phân tích độ nhạy
Phân tích độ nhạy cho biết sự biến động của các chỉ tiêu hiệu quả kinh
tế như: lợi nhuận, NPV, IRR, thời gian hoà vốn đầu tư.... khi thay đổi các
thông số đầu vào như: giá cả của sản phẩm, doanh thu, vốn đầu tư, chi phí sản
xuất và tiêu thụ sản phẩm theo chiều hướng lạc quan hay bi quan.

4.1. Giá trị gia tăng thuần tuý NVA
Giá trị gia tăng thuần tuý (net value added) là mức chênh lệch giữa giá
trị đầu ra và giá trị đầu vào. Công thức tính toán như sau:
∑ ∑
= =
−−==
n
i
n
i
VOipvi
IMIONVANVA
0 0
)(
Trong đó:
+ O là giá trị đầu ra của dự án.
+ MI là giá trị đầu vào vật chất thường xuyên và các dịch vụ
mua ngoài theo yêu cầu để đạt được đầu ra trên đây (như năng lượng, giao
thông, bảo dưỡng...)
Giá trị gia tăng thuần tuý quốc gia NNVA (national net value added)
được tính như sau:
[ ]


−+−=
n
i
VO
ipv
IRPMIONNVA


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status