Nghiên cứu và đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội vùng Hà Nội mở rộng (Hà Tây cũ) - Pdf 25

TRƯỜNG ĐẠT HỌC CÔNG NGHIỆP VIỆT-HƯNG

BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI

NGHIÊN CỨU VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO
CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC ĐÁP ỨNG YÊU CẦU
PHÁT TRIỂN KINH TẾ-XÃ HỘI VÙNG HÀ NỘI
MỞ RỘNG (HÀ TÂY CŨ) CNĐT : NGUYỄN ĐỨC TRÍ 9391
Ths. Khuất Quang Tuấn
TP. QLĐT
Trường ĐHCN Việt-Hung
3
Ths. Nguyễn Trung Dũng
Cv P. KHCN&HTQT
Trường ĐHCN Việt-Hung
1.3. Đào tạo nguồn nhân lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội
1.3.1. Đáp ứng về số lượng
1.3.2. Đáp ứng về chất lượng
1.3.3. Đáp ứng về cơ cấu kinh tế - xã hội
1.3.4. Đ
áp ứng về thị trường lao động và việc làm
1.4. Vai trò của đào tạo nguồn nhân lực đối với phát triển kinh tế - xã
hội
1.4.1. Các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về đào tạo
nguồn nhân lực
1.4.2. Vai trò của đào tạo nguồn nhân lực đối với phát triển kinh tế - xã
hội
1.5. Kinh nghiệm thế giới về đào tạo nguồn nhân lực
1.5.1. Kinh nghiệm
đào tạo nhân lực của một số nước
1.5.2. Một số kinh nghiệm của thế giới có thể áp dụng cho Việt Nam
1.6. Phương hướng đào tạo nguồn nhân lực
1
1
1
1
1

2
2
4


1.6.2. Đào tạo nguồn nhân lực trong điều kiện tác động của cách
mạng công nghệ
1.6.3. Đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển của nền
kinh tế, đặ
c biệt là nền kinh tế tri thức trong tương lai
1.6.4. Đào tạo nguồn nhân lực cho nhu cầu nhân lực ngành Công
nghiệp và vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ
CHƯƠNG 2: Thực trạng kinh tế - xã hội của Hà Nội mở rộng
2.1. Đặc điểm tự nhiên, tiềm năng kinh tế
2.1.1. Điều kiện địa lý tự nhiên
2.1.2. Tài nguyên thiên nhiên
2.1.3. Tiềm năng kinh tế
2.2. Kinh tế - xã hội
2.2.1. Dân s
ố và lao động
2.2.2. Cơ cấu kinh tế
CHƯƠNG 3: Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội thành phố Hà Nội đến
năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050
I. Vị trí, chức năng của thủ đô Hà Nội
II. Quy mô, tổ chức không gian phát triển Thủ đô Hà Nội
1. Dự báo dân số Thủ đô Hà Nội
2. Tổ chức không gian đô thị Hà Nội
2.1. Định hướng chung
2.2. Phương h
ướng cụ thể
III. Định hướng phát triển Thủ đô Hà Nội đến năm 2030
1. Quan điểm phát triển
2. Mục tiêu phát triển
2.1. Mục tiêu dài hạn-tầm nhìn đến năm 2050
2.2. Mục tiêu đến năm 2030


48
48
48
48
49
49
50
51
51
51
51
52
54

54

56
57
58
58
59
59
4
chất lượng
3.9. Đảm bảo việc làm và an sinh xã hội
3.10. Bảo vệ và cải thiện môi trường, chủ động ứng phó có hiệu quả với

nh cơ cấu hệ thống giáo dục, phân
luồng học sinh và phát triển mạng lưới trường lớp, cơ sở giáo dục và đào tạo
5.2.4. Nhóm giải pháp đổi mới mục tiêu, nội dung, chương trình giáo
dục - vấn đề cốt lõi để đảm bảo chất lượng giáo dục
5.2.5. Nhóm giải pháp quan hệ đào tạo và sử dụng
5.2.6. Nhóm giải pháp tăng cương nguồn lực cho đào tạo – điề
u kiện
quan trọng để nâng cao chất lượng đào tạo

5.2.7. Nhóm giải pháp đổi mới quản lý giáo dục, tăng cường kiểm
định, kiểm tra và thanh tra giáo dục
5.2.8. Nhóm giải pháp tăng cường nguồn tài chính giáo dục
5.3. Thăm dò tính khả thi của các giải pháp
CHƯƠNG 6: Áp dụng kết quả vào thực tế đào tạo của nhà trường
59
59

60
60
61

62
62
62
64
64
64
64
66
66

Các nhóm giải pháp đã thực hiện tại trường ĐHCN Việt-Hung
6.2.1.
Nhóm giải pháp hướng nghiệp
6.2.2.
Nhóm giải pháp phát triển thị trường lao động; xây dựng hệ
thống thông tin về thị trường lao động và việc làm; quan hệ đào tạo và sử
dụng
6.2.3. Nhóm giải pháp phân luồng học sinh và phát triển mạng
lưới trường lớp; đổi mới nội dung, chương trình đào tạo
6.2.4. Nhóm giải pháp tăng cường nguồn lực cho đào tạo
6.2.5. Nhóm giải pháp đổi mới quản lý giáo dục, tăng cường kiể
m
định, kiểm tra và thanh tra giáo dục
6.2.6. Nhóm giải pháp tăng cường nguồn tài chính cho giáo dục
Kết luận và kiến nghị
Phụ lục
Tài liệu tham khảo
102
103
103 104

104
104

105
105
107


6
DANH MỤC BẢNG BIỂU VÀ HÌNH VẼ

Bảng số Nội dung Trang
2.1 Dân số trung bình của vùng Hà Nội mở rộng phân theo giới
tính và phân theo thành thị, nông thôn 42
2.2 Dân số trung bình của cả nước phân theo giới tính và phân theo
thành thị, nông thôn 42
2.3 Lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc trong các ngành kinh
tế phân theo khu vực kinh tế của vùng Hà Nội mở rộng 43
2.4 Tổng sản phẩm trong vùng theo giá so sánh 1994 47
2.5 Số cơ sở sản xuất công nghiệp phân theo thành phần kinh tế 47
2.6 Số cơ sở sản xuất công nghiệp phân theo thành phần công
nghiệp 47
3.1 Dự kiến tốc độ tăng trưởng dân số 49
3.2 Dự báo dân số Thủ đô Hà Nội 49
4.1 Số trường học, lớp học, giáo viên và học sinh phổ thông 62
4.2 Tình hình học sinh sau tốt nghiệp THCS 63
4.3 Tình hình học sinh sau tốt nghiệp THPT 63
4.4 Số trường học và học sinh chuyên nghiệp 64
4.5
Đánh giá về cơ sở vật chất và phương tiện dạy học của các
trường đào tạo vùng Hà Nội mở rộng
65
5.1
Tóm tắt sự biến đổi các vấn đề liên quan đến nguồn nhân lực
trong nền kinh tế cũ và mới
79
5.2 Hệ thống thông tin nhà nước về Đào tạo - Việc làm 89

CNH-HĐH : Công nghiệp hóa-Hiện đại hóa
XHCN : Xã hội chủ nghĩa
TH, CĐ, ĐH : Trung học, Cao đẳng, Đại học
ĐHCN : Đại học công nghiệp
LT, TH : Lý thuyết, Th
ực hành
NXB : Nhà xuất bản
THPT : Trung học phổ thông
THCS : Trung học cơ sở
KH-CN : Khoa học – công nghệ
THCN : Trung học chuyên nghiệp
CNKT : Công nhân kỹ thuật
VNĐ : Việt Nam đồng
USD : Đôla Mỹ
ILO : Tổ chức lao động quốc tế
TNHH : Trách nhiệm hữu hạn
xã hội.
Đối tượng nghiên cứu: Hệ thống đào tạo nguồn nhân lực và sự phát triển kinh
tế - xã hội của vùng Hà Nội mở rộng.
Nhiệ
m vụ nghiên cứu: Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về đào tạo nguồn
nhân lực và vai trò của nó đối với phát triển kinh tế - xã hội.
Đánh giá thực trạng công tác đào tạo nguồn lực: các điều kiện đảm bảo chất
lượng đào tạo, tình hình cung cấp nguồn nhân lực qua đào tạo, sự phù hợp giữa đào tạo
và sử dụng…
ở vùng này, so sánh với yêu cầu về nguồn nhân lực qua đào tạo phục vụ
phát triển kinh tế - xã hội, tìm ra những thiếu hụt, những bất hợp lý cần được bổ sung,
điều chỉnh.
Xây dựng các giải pháp để đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng về số lượng, chất
lượng và cơ cấu ngành nghề phục vụ chiến lược phát triển kinh tế - xã hội vùng Hà
Nội mở rộng đến năm 2020 và những năm tiếp theo.
Phạm vi nghiên cứu: Nhiệm vụ giới hạn phạm vi nghiên cứu về các giải pháp
đối với việc quy hoạch và sắp xếp mạng lưới đào tạo, tăng cường các điều kiện bảo
đảm chất lượng đào tạo và gắn đào tạo với sử dụng trong phạm vi một vùng (Hà Nội
mở
rộng)
3. Giả thuyết khoa học
Đào tạo nguồn nhân lực trong giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học được
thực hiện trong giai đoạn trước đổi mới, đến nay không còn phù hợp với nền kinh tế
mới - nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Mặt khác bản thân hệ thống giáo dục
đào tạo hiện nay cũng đang đứng trước những thách thức và c
ơ hội lớn trong điều kiện
đào tạo nguồn nhân lực trên diện rộng, quy mô lớn và chất lượng cao nhằm đáp ứng
yêu cầu đòi hỏi của sự nghiệp đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước trong xu thế toàn cầu
hóa. Đặc biệt khi hiện nay Việt Nam đã là thành viên chính thức của Tổ chức Thương
mại thế giới WTO, phát triển và cạnh tranh về nguồn nhân lực s

d- Phương pháp chuyên gia
Trao đổi với các chuyên gia kinh tế, các chuyên gia am hiểu về giáo dục và đào
tạo ở Bộ Giáo dục và Đào tạo, Viện nghiên cứu, Hiệu trưởng một số trường đại h
ọc và
cao đẳng, Trung học phổ thông.
e- Phương pháp phân tích so sánh
Tiến hành so sánh thực trạng kinh tế - xã hội với định hướng phát triển kinh tế -
xã hội; so sánh thực trạng công tác đào tạo nguồn nhân lực với những yêu cầu đặt ra,
từ đó tìm ra những thiếu hụt, những khoảng cách cần được khắc phục.
5. Hiệu quả, phương thức chuyển giao kết quả nghiên cứu và khả năng áp d
ụng:
Nghiên cứu đào tạo nguồn nhân lực trong điều kiện Việt Nam đã là thành viên
chính thức của Tổ chức Thương mại thế giới WTO và trong bối cảnh toàn cầu hóa của
thế giới ngày nay.
Nghiên cứu đào tạo nguồn nhân lực trong phạm vi của một vùng cụ thể là vùng
Hà Nội mở rộng.
- Khái quát những yêu cầu về đào tạo nhân lực đáp ứng yêu cầ
u phát triển kinh
tế - xã hội của một vùng trong điều kiện mới. Chỉ ra con đường để nâng cao chất lượng
đào tạo nhân lực, đồng thời đáp ứng yêu cầu về số lượng. Khẳng định lại vai trò của
đào tạo nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế - xã hội.
- Vấn đề nghiên cứu gắn chặt với thực tiễn khách quan của một vùng. Từ bức
tranh hi
ện thực về kinh tế - xã hội của Thành phố Hà Nội, bức tranh hiện thực về đào
tạo nguồn nhân lực của Hà Nội, bức tranh về kinh tế - xã hội của Hà Nội trong tương
lai, chỉ ra những thiếu hụt, những bất hợp lý của hệ thống đào tạo nhân lực, từ đó đề ra
các giải pháp hữu hiệu và khả thi để thực hiện trong một th
ời gian tương đối dài.
Những điều đó mang tính hiện thực cao và có ý nghĩa thực tiễn rất lớn trong việc hiện
thực hóa các mục tiêu chiến lược về phát triển kinh tế - xã hội của vùng.
11

đô - đầu não chính trị - hành chính quốc gia; giàu, đẹp, xanh, văn minh, văn hiến,
thanh lịch, hiện đại, dân tộc, tiêu biểu cho cả nước; trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa,
khoa học, giáo dục - đào tạo, y tế, du lịch, thể thao và giao dịch quốc tế của cả nước; đi
đầu trong nhiều lĩnh vực - là đầu tàu lôi kéo sự phát triển chung của c
ả nước; người
dân có điều kiện sống tốt.
Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm vào khoảng
12 đến 13% đến năm 2020 và giai đoạn 2021 - 2030 vào khoảng 9,5 - 10%; GDP bình
quân đầu người đạt khoảng 7.100 - 7.500 USD vào năm 2020 và 16.000 - 17.000 USD
vào năm 2030. Quy mô dân số năm 2030 khoảng 9,2 triệu người; cơ cấu dân số hợp lý,
chất lượng cao; chỉ số phát triển con người (HDI) đạt khoảng 0,86 - 0,90; tỷ lệ thất
nghiệp khu vực đô thị dưới 4%; hệ thống kết cấu h
ạ tầng giao thông đồng bộ, liên
hoàn, hợp lý, hiện đại; vận tải hành khách công cộng đa dạng, hiện đại, văn minh, tiện
lợi và an toàn, đạt tỷ lệ 50 - 55%

Theo chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2030 và những năm tiếp
sau, cụm Công nghiệp Hòa Lạc sẽ trở thành khu công nghệ cao, một trung tâm kinh tế
lớn nằm cách trung tâm Hà Nội hơn 30 Km về phía Tây nối liền với trung tâm Hà Nội
bằng Đại lộ Thăng Long. Đây cũng là khu du lịch nghỉ mát lý tưởng với sân gôn Đồng
Mô, bãi tắm Ao Vua, Khoang Xanh, Suối Tiên,… Hiện tại các địa phương này đang
tập trung phát triển cơ
sở hạ tầng như: đường xá, các cơ sở chế biến, trạm thông tin
viễn thông, dịch vụ cơ khí, dịch vụ du lịch, khu Đại học quốc gia Hà Nội,… Các
chương trình đó đòi hỏi số lượng lao động kỹ thuật rất lớn, đặc biệt là loại lao động có
trình độ cao và tốt nhất là được đào tạo tại chỗ. 12
Hiện nay, dân số của vùng Hà Nội mở rộng khoảng 2,9 triệu người, trong đó số

phát triển kinh tế - xã hội, từ đó đặt ra nh
ững yêu cầu cụ thể cho công tác đào tạo
nguồn nhân lực.
2. Hoạch định hệ thống các chính sách phát triển nguồn nhân lực. Chính sách
phát triển nguồn nhân lực là một bộ phận cấu thành không thể thiếu trong chính sách
phát triển kinh tế của Chính phủ. Một số chính sách như:
Chính sách về tạo việc làm. Bằng cách tạo các điều kiện thuận lợi cho cung và
cầu lao động có thể xích lại gần nhau, chính sách phát triển ngu
ồn nhân lực đã giúp
nâng cao tốc độ tăng trưởng kinh tế và tỷ lệ nhân dụng, giảm lạm phát. Các chính sách
này được thực hiện thông qua chương trình mục tiêu. Một số chương trình như: Các
chương trình khuyến khích cầu lao động và tạo công ăn việc làm; chương trình trợ cấp
không hoàn lại cho việc thành lập doanh nghiệp mới; chương trình làm việc cho giới
trẻ ở cấp địa phương; chương trình hoạt động công ích t
ạm thời dành cho những người
lớn tuổi; chương trình việc làm dự trữ cho những người đang chờ việc; chương trình
việc làm cho những người tàn tật.
Chính sách đào tạo bồi dưỡng. Các chính sách đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân
lực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội được thực hiện thông qua các chương
trình chủ yếu như: Chương trình trợ cấp tuyển dụ
ng lao động cá thể; chương trình học
việc tại chỗ; chương trình phát triển các trung tâm xưởng dạy máy vi tính; chương
trình đào tạo nhân dụng; chương trình trợ cấp cho đào tạo tại chỗ ở công ty, doanh
nghiệp; chương trình phát triển các viện nghiên cứu về nhân dụng.
Chính sách thị trường lao động chủ động. Cơ sở để thực hiện nhiệm vụ này là
nguyên tắc huy động tinh thần tự thân vận
động và nâng cao kỹ năng cho người lao
động. Nói một cách cụ thể là tạo điều kiện cho người lao động, nhất là những người
ắt, đe dọa sự sống và sự phát triển của nhiều quốc gia nghèo. Trong hoàn
cảnh đó, để có thể đưa nhanh đất nước sớm thoát khỏi tình trạng lạc hậu, Việt Nam
phải đẩy nhanh tiến trình CNH, HĐH. Để làm được điều này ngoài giải quyết tốt các
nguồn lực như vốn tài chính, cơ sở vật chất kỹ thuật, thiết bị máy móc, khai thác các
tài nguyên thiên nhiên, Việt Nam phải phát triể
n mạnh nguồn nhân lực có kỹ năng, có
trình độ khoa học kỹ thuật tiên tiến, hiện đại. Vì vậy việc đào tạo, phát triển nguồn
nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội đất nước là nhiệm vụ mang tính
thời sự cấp bách hiện nay.
Đi sâu vào vấn đề đào tạo nguồn nhân lực, các đề tài nghiên cứu đã phân tích
đặc trưng dân số và nguồn nhân lực Vi
ệt Nam. Quy mô dân số Việt Nam xếp vào hạng
thứ 13 trong số các quốc gia đông dân nhất trên thế giới. Là một quốc gia có dân số
trẻ, quy mô dân cư vẫn còn tiếp tục tăng, dự kiến đến năm 2020 dân số đạt khoảng 100
triệu người. Đây vừa là lợi thế, nhưng mặt khác lại là gánh nặng đối với phát triển kinh
tế - xã hội của đất nước.
Các đề tài cũng ch
ỉ rõ yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực trong bối cảnh hội nhập
quốc tế, trong đó chất lượng nguồn nhân lực có ý nghĩa hết sức quan trọng trong sự
phát triển. Từ phân tích thực trạng và các yêu cầu đặt ra, các đề tài đã đề xuất nhiều
giải pháp để nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực. Các giải pháp tập trung vào
những vấn đề như: tăng cườ
ng các nguồn lực cho giáo dục đào tạo thông qua nhiều
hình thức tích cực khác nhau; xây dựng đội ngũ giáo viên, tạo động lực cho người dạy,
người học; đề xuất chính sách sử dụng và đãi ngộ đúng giá trị nguồn nhân lực đào tạo,
trọng dụng người tài; tiếp tục đổi mới nội dung, phương pháp giáo dục đào tạo và tăng
cường cơ sở vật chất các tr
ường học; đổi mới công tác quản lý giáo dục.
Các đề tài đều coi trọng đến giải pháp về thu hút và sử dụng nguồn nhân lực.
Vấn đề thu hút và sử dụng đúng đắn nguồn nhân lực cũng là một yêu cầu không kém


15


văn hóa dân tộc, trình độ nhận thức, sự hiểu biết, tập quán sinh hoạt, tình cảm, tâm lý,
tư tưởng, ý chí, nguyện vọng, chủ trương, chính sách, …(89, tr150). Các nguồn lực
này có quan hệ chặt chẽ với nhau, cùng tham gia vào quá trình cải tạo tự nhiên và xã
hội, nhưng mức
độ tác động và vai trò của chúng đối với quá trình phát triển kinh tế -
xã hội không giống nhau. Trong tất cả các nguồn lực thì nguồn lực con người là quan
trọng nhất vì nó tham gia vào quá trình sản xuất và tái sản xuất mở rộng, phát triển
kinh tế, văn hóa xã hội. Bởi vì, phải thông qua hoạt động của con người thì các nguồn
lực khác mới có thể phát huy được tác dụng, mới có thể biến tiềm năng thành hiện
thực. Chính con người phát hi
ện và sáng tạo ra những nguồn lực mới, phát triển và
phát huy nguồn lực tinh thần và sử dụng nó để phục vụ con người. Nói đến nguồn lực
con người tức là nói đến những gì cấu thành khả năng, năng lực, sức mạnh sáng tạo
của con người. Nhưng điều quan trọng nhất trong nguồn lực con người là chất lượng
chứ không phải là số lượng. Nói đến chấ
t lượng nguồn lực con người là nói đến hàm
lượng trí tuệ trong đó (người lao động có trí tuệ cao, có tay nghề thành thạo, có đạo
đức tốt đẹp). Nguồn lực con người là nguồn lực của mọi nguồn lực. Nguồn lực con
người có trí tuệ là nguồn tài nguyên quý giá nhất. Muốn thực hiện được chiến lược
phát triển kinh tế - xã hội, thì trước hết phải xây dựng và thực hiện tốt chiế
n lược phát
triển toàn diện con người. Trong nguồn lực con người là sự kết hợp hài hòa giữa trí 16
lực, thể lực, nhân cách và kinh nghiệm sống trong các hoạt động của con người. Nói
cách khác, nguồn lực con người là một tập hợp các chỉ số phát triển con người.
Nguồn lực con người được xem xét ở hai phương diện: cá nhân và xã hội. Vì
vậy, khi xem xét cấu trúc nguồn nhân lực trước hết phải tính đến phương diện cá thể
của nó gồm ba yếu tố: thể lực, trí tuệ và đạo đức. Ba yếu t

phát triển. (49, tr 285)
1.1.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến đào tạo nguồn nhân lực

Bối cảnh quốc tế
Bước sang thế kỷ XXI, thế giới đang đối mặt với cuộc cách mạng khoa học –
công nghệ, sự chuyển biến từ k
ỷ nguyên công nghiệp sang kỷ nguyên thông tin và phát
triển kinh tế tri thức. Điều này tác động đến tất cả các lĩnh vực, làm biến đổi nhanh
chóng và sâu sắc đời sống vật chất và tinh thần của xã hội. Sự chuyển biến to lớn này
là thành quả của sự ra đời của các công nghệ cao, sự hình thành và phát triển của nền
kinh tế tri thức, toàn cầu hóa và hội nhập về kinh tế và văn hóa.
Bước quá độ
sang nền kinh tế tri thức mở ra cho các nước đang phát triển những
cơ hội mới khi các nước này xây dựng được năng lực nội sinh mạnh. Tham gia vào nền
kinh tế tri thức sẽ có được cơ hội mở rộng không gian kinh tế, tạo ra sức cạnh tranh mới
của nền kinh tế, có điều kiện để hiện đại hóa các ngành sản xuất truyền thống và có cơ
hội tạo ra các ngành ngh
ề mới và tạo được nhiều công ăn việc làm hơn.
Công nghệ cao trong thế giới hiện đại có vai trò quyết định đến chất lượng nguồn
nhân lực. Việc chuẩn bị đầu tư vào con người để phát triển kinh tế - xã hội đang là vấn
đề sống còn của các quốc gia. Các nhà bác học đã khuyến cáo: “giáo dục cần được ưu
tiên tuyệt đối trong mọi ngân sách để có thể góp phần nâng cao kh
ả năng sáng tạo của
con người”. Nguồn nhân lực có chất lượng cao về trí tuệ và kỹ năng ngày càng trở thành 17
lợi thế quyết định nhất cho mỗi quốc gia. Ngày nay những chuẩn mực về kỹ năng và
năng suất lao động, về hiệu quả kinh tế, chất lượng sản phẩm, khả năng cạnh tranh,…
phụ thuộc vào việc vận dụng những tri thức khoa học và tiến bộ công nghệ. Đào tạo và

Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế là một xu thế khách quan, vừa là quá
trình hợp tác để phát triển vừa là quá trình đấu tranh của các nước để bảo vệ lợi ích quốc
gia.
Toàn cầu hóa về kinh tế tạo nên những quan hệ gắn bó, sự phụ thuộc lẫn nhau, sự
tác động qua lại tích cực cũng như những tiêu cực hết sức nhanh nhạy giữa các nề
n kinh
tế. Toàn cầu hóa kinh tế tạo ra những lợi thế mới, thúc đẩy sự phát triển lực lượng sản
xuất và công nghệ, thúc đẩy sự giao lưu kinh tế giữa các nước, góp phần phát huy thế
mạnh và khắc phục thế yếu của nhiều nền kinh tế quốc gia với mức độ và hiệu quả khác
nhau. Toàn cầu hóa về kinh tế là một cuộc cách mạng về phương pháp và tổ ch
ức sản
xuất, mà để tham gia vào đó một cách có lợi, các quốc gia phải tăng hàm lượng tri thức
về khoa học và công nghệ trong các sản phẩm, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, còn
những nước nào chỉ dựa vào tài nguyên thiên nhiên và lao động giản đơn sẽ bị thiệt thòi.
Toàn cầu hóa tất yếu làm nảy sinh sự hội nhập của các nền kinh tế quốc gia vào
nền kinh tế thế giới, sự ra đời c
ủa các tổ chức kinh tế quốc tế. Trung Quốc với hơn 1,2 tỷ
dân, với nhiều nguồn tài nguyên hàng đầu thế giới, tự nó đã hình thành một thị trường
thực sự khổng lồ, song vẫn quyết tâm gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO),
không ngừng cải tiến môi trường kinh doanh để tận dụng khả năng thu hút vốn đầu tư
nước ngoài. Các nền kinh tế
lớn mạnh như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Đức,… cũng không thể
tồn tại riêng lẻ. Các nước kém phát triển lại càng nhận rõ hơn tình thế này. Đứng ngoài
xu thế hội nhập là tự mình coo lập mình, tự mình bỏ qua lợi thế phát triển, không tránh
khỏi nguy cơ tụt hậu. Ngày 11/01/2007, Việt Nam cũng đã trở thành thành viên chính
thức của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO). Trong thời gian qua, quá trình toàn cầu 18
hóa và hội nhập về kinh tế đã giúp cho một số nước như Trung Quốc, Ấn Độ, các con

Hội đồng quốc tế về “Giáo dục cho thế kỷ 21” đã nhận xét: “người đương đại
nằm trong cảm giác bàng hoàng khi bị
giằng co giữa môt bên là sự toàn cầu hóa mà họ
đang chứng kiến và đang chịu tác động và một bên là cuộc truy tìm bản sắc, cội nguồn,
gốc rễ” và đưa ra giải pháp về giáo dục suốt đời với bốn trụ cột là học để biết, học để
làm, học để làm người và học để chung sống.
Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học - công nghệ, sự phát triể
n năng động của nền
kinh tế, quá trình hội nhập kinh tế và toàn cầu hóa đang làm cho việc rút ngắn khoảng
cách về trình độ phát triển giữa các nước trở nên hiện thực hơn và nhanh hơn, khoa học –
công nghệ trở thành động lực cơ bản của sự phát triển kinh tế - xã hội. Giáo dục là nền
tảng của sự phát triển khoa học – công nghệ, phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu c
ầu
của xã hội hiện đại và đóng vai trò chủ yếu trong việc nâng cao ý thức dân tộc, tinh thần
trách nhiệm và năng lực của các thế hệ hiện nay và mai sau.
Giáo dục và đào tạo cung cấp nguồn nhân lực và nhân tài cho sự phát triển khoa
học và công nghệ, mặt khác sự phát triển khoa học và công nghệ tác động vào toàn bộ
cơ cấu hệ thống giáo dục cũng như vào từng yếu tố của quá trình giáo dục và
đào tạo.
Cùng với sự phát triển nhanh chóng của khoa học – công nghệ là quá trình đổi mới giáo
dục đang diễn ra trên quy mô toàn cầu. Quá trình đổi mới giáo dục thể hiện rõ nét nhất ở
sự đổi mới về cơ cấu hệ thống giáo dục, bao gồm: thay đổi về cơ cấu ngành nghề và
trình độ đào tạo; cơ cấu hình thức giáo dục – đào tạo; cơ cấu mạng lướ
i trường và cơ cấu
quản lý thể chế giáo dục; đổi mới nội dung, phương pháp giáo dục; phát triển nhanh
chóng của các phương tiện dạy học hiện đại.
Sự phát triển khoa học và công nghệ đã làm thay đổi cơ cấu ngành trong nền
kinh tế, cơ cấu ngành nghề của nhân lực lao động trong xã hội, luôn đòi hỏi giáo dục
dụng ngày càng nhiều các công nghệ này trong phạm vi giáo dục người lớn và nói
riêng trong việc đào tạo giáo viên tại chức; tăng cường cơ sở hạ tầng và khả năng của
các nước đang phát triển trong lĩnh vực này, cũng như truyền bá các công nghệ này
trong toàn xã hội và đư
a ra những chương trình truyền bá các công nghệ mới dưới sự
bảo trợ của UNESCO”. (51, tr 170)
Cơ cấu mạng lưới trường và cơ cấu quản lý thể chế giáo dục và đào tạo cũng
biến đổi cùng với sự phát triển của khoa học và công nghệ. Sự xuất hiện các ngành
công nghiệp mới, các khu công nghiệp và kinh tế mới đòi hỏi phân bố lại một cách
thích hợp mạng lướ
i các trường lớp, kể cả các cơ sở đào tạo chất lượng cao. Cơ cấu
quản lý giáo dục và đào tạo cũng chuyển biến từ tập trung sang phân cấp thích hợp và
mở rộng thành phần quản lý các cơ sở giáo dục và đào tạo không phụ thuộc khu vực
nhà nước.
Sự phát triển khoa học và công nghệ đòi hỏi phải cải tiến thường xuyên nội
dung giáo dụ
c và đào tạo theo hướng hiện đại. Người ta tính ra rằng trung bình cứ 10
năm khối lượng kiến thức trong mỗi lĩnh vực tăng lên gấp đôi, nếu nội dung đào tạo
vẫn giữ nguyên không được cải tiến thì nó chỉ chứa đựng một nửa, lại là nửa cũ trong
kho tàng kiến thức. Khối lượng kiến thức ngày càng tăng, trong khi đó thời gian đào
tạo chính quy không thể t
ăng, từ lâu đã trở thành vấn đề cần giải quyết của khoa học
giáo dục. Hiện tượng nhồi nhét khối lượng kiến thức quá lớn ở các cấp bậc học của
giáo dục phổ thông vẫn đang là một vấn đề thời sự. Hiện nay các nhà sư phạm đã tìm
nhiều biện pháp giải quyết vấn đề khối lượng kiến thức lớn c
ần truyền đạt trong thời
gian hạn chế, nhưng vấn đề đáng lo ngại đặt ra khi bước sang kỷ nguyên mới không
phải chỉ là khối lượng kiến thức lớn, mà là khối lượng đó ngày càng tăng. Vì thế cải
tiến nội dung đào tạo theo hướng cơ bản và hiện đại trong quá trình phát triển khoa
học và công nghệ là công việc không thể thiếu được của toàn ngành giáo dục và đào

các phương tiện không thể thiếu được trong kỷ nguyên của xã hội thông tin.
Bối cảnh trên đây đã tạo nên những thay đổi sâu sắc trong giáo dục, từ quan
niệm về chất lượng giáo dục, xây dựng nhân cách người học đến cách tổ chức quá
trình và hệ thống giáo dục. Nhà trường từ chỗ
khép kín chuyển sang mở cửa rộng rãi,
đối thoại với xã hội, gắn với xã hội và gắn bó chặt chẽ với nghiên cứu khoa học – công
nghệ và ứng dụng; nhà giáo thay vì chỉ truyền đạt tri thức, chuyển sang cung cấp cho
người học phương pháp thu nhận thông tin một cách có hệ thống, có tư duy phân tích
và tổng hợp. Đầu tư cho giáo dục từ chỗ được xem là phúc lợi xã hội nay được xem là
đầu tư cho phát triển. Vì vậ
y, các quốc gia, từ những nước đang phát triển đến những
nước phát triển đều nhận thức được vai trò và vị trí hàng đầu của giáo dục, đều phải
đổi mới giáo dục để có thể đáp ứng một cách năng động hơn, hiệu quả hơn, trực tiếp
hơn những nhu cầu của sự phát triển đất nước.

Bối cảnh trong nước
Đại h
ội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đưa ra
mục tiêu và phương hướng tổng quát của 5 năm 2011-2015 là: “Tiếp tục nâng cao
năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng; đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi
mới; xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; phát huy dân chủ và sức
mạnh đại đoàn kết toàn dân t
ộc; phát triển kinh tế nhanh, bền vững; nâng cao đời
sống vật chất, tinh thần của nhân dân; giữ vững ổn định chính trị - xã hội; tăng cường
hoạt động đối ngoại; bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh
thổ; tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo
hướng hiệ
n đại.”
Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 5 năm 2011 - 2015 : 7,0 - 7,5%/năm. Giá
trị gia tăng công nghiệp - xây dựng bình quân 5 năm tăng 7,8 - 8%; giá trị gia tăng

nó, rút ngắn thời gian phát triển. Để tận dụng được khả năng đó cần chuẩn bị tốt nguồn
nhân lực có chất lượng cao.
Nền tảng CNH, HĐH đất nước sẽ là việc ứ
ng dụng công nghệ hiện đại, tạo cơ
hội để chuyển dịch nhanh chóng cơ cấu kinh tế, tạo khả năng hội nhập vào quá trình
toàn cầu hóa. Một mặt sử dụng công nghệ hiện đại, công nghệ cao ở những lĩnh vực
then chốt, mặt khác phát triển rộng rãi công nghệ đòi hỏi đầu tư thấp, sử dụng nhiều
lao động, tạo nhiều việc làm. Trong
điều kiện đó, giáo dục có cơ hội đào tạo nhân lực
trình độ cao, có khả năng sử dụng các công nghệ mới, hiện đại trong các ngành sản
xuất mới và ngay cả các ngành công nghệ truyền thống.
Quá trình CNH, HĐH ở Việt Nam được tiến hành trong điều kiện tồn tại nhiều
hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, vận hành theo cơ chế thị trường đị
nh
hướng XHCN. Sản xuất hàng hóa phát triển làm cho thị trường lao động được mở
rộng, nhu cầu học tập tăng lên; mặt khác, cũng làm thay đổi quan niệm về giá trị, ảnh
hưởng đến việc lựa chọn nghành nghề, động cơ học tập, các quan hệ trong nhà trường
và ngoài xã hội, tự do cạnh tranh làm phân hóa giàu nghèo, làm tăng thêm sự khác biệt
về cơ hội học tập giữa các tầng lớp dân cư
. Cơ chế thị trường tạo động lực mới cho sự
phát triển sản xuất và tiêu dùng đồng thời cũng tạo động lực mới cho việc học tập, đẩy
mạnh việc xây dựng một xã hội học tập. Cùng với kinh tế thị trường, chế độ tư hữu
còn tồn tại ở một mức độ nhất định và trong một thời gian dài. Khi đẩ
y mạnh nền sản
xuất hàng hóa thì sức lao động cá nhân cũng là hàng hóa trên thị trường và mỗi cá
nhân phải chuẩn bị cho mình những điều kiện về nhân cách để làm tăng giá trị sức lao
động, nâng cao chất lượng cuộc sống bản thân. Trong nền kinh tế nhiều thành phần đó,
người học phải trang trải một phần kinh phí giáo dục đào tạo, tức là chi phí cho sự gia
tăng giá trị sức lao động b
ản thân sẽ được hoàn trả lại khi tham gia vào thị trường lao

ầu), người học ngoài
việc nắm vững kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo và rèn luyện phẩm chất liên quan đến nghề
nghiệp, còn lĩnh hội được khả năng tìm được việc làm hoặc tự tạo ra việc làm gắn với
nghề nghiệp của mình, khiến cho người tốt nghiệp năng động hơn trong thị trường lao
động, đôi khi không chỉ thụ động đóng vai ng
ười nhận việc mà còn có thể sáng tạo trong
những lĩnh vực mới để dần dần trở thành người sử dụng lao động, người cung cấp việc
làm cho những người khác.
Thời cơ và thách thức
Bối cảnh quốc tế và trong nước vừa tạo thời cơ lớn vừa đặt ra những thách thức
không nhỏ cho giáo dục Việt Nam. Sự đổi mới giáo dục diễn ra ở quy mô toàn c
ầu tạo
cơ hội tốt cho giáo dục Việt Nam nhanh chóng tiếp cận với xu thế mới, tri thức mới,
những cơ sở lý luận, phương thức tổ chức, nội dung giảng dạy hiện đại và tận dụng
những kinh nghiệm quốc tế để đổi mới và phát triển. Nhà nước và nhân dân ta ngày
càng coi trọng vai trò của giáo dục, quan tâm nhiều hơn và đòi hỏi giáo dục phải đổi
m
ới và phát triển đáp ứng nhu cầu ngày càng lớn của mọi tầng lớp nhân dân về học tập
và tiếp thu những kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp, rèn luyện những phẩm chất, năng
lực cần thiết trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế.
Toàn cầu hóa tạo ra sự di chuyển lao động tự do. Khi nền giáo dục có chuẩn
mự
c thấp, nhân lực được đào tạo ra sẽ khó cạnh tranh trên thị trường lao động với
nhân lực các nước có chuẩn mực đào tạo hơn. Do sự thấp kém về chất lượng và sự xa
cách về chuẩn mực, giáo dục Việt Nam sẽ gặp những khó khăn rất lớn trong quá trình
toàn cầu hóa. Nhiệm vụ đặt ra cho giáo dục là phải nhanh chóng đạt chuẩn mực khu
vực và quốc tế để không nh
ững tăng cường lao động cho thị trường trong nước mà còn
tạo ra khả năng cạnh tranh ở thị trường nước ngoài. Sự khác biệt về trình độ công nghệ
của Việt Nam so với các nước phát triển là rất lớn, khoảng tụt hậu có thể từ 50 đến 100

phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý là khâu then chốt. Tập trung nâng cao
chất lượng giáo dục, đào tạo, coi trọng giáo dục đạo đứ
c, lối sống, năng lực sáng tạo,
kỹ năng thực hành, khả năng lập nghiệp. Đổi mới cơ chế tài chính giáo dục. Thực hiện
kiểm định chất lượng giáo dục, đào tạo ở tất cả các bậc học. Xây dựng môi trường giáo
dục lành mạnh, kết hợp chặt chẽ giữa nhà trường với gia đình và xã hội"
Thủ tướng Chính phủ vừa phê duy
ệt “Chiến lược phát triển giáo dục 2011-
2020” với mục tiêu tổng quát đến năm 2020, nền giáo dục nước ta được đổi mới căn
bản và toàn diện theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội
nhập quốc tế. Theo đó, mục tiêu cụ thể với giáo dục mầm non là hoàn thành mục tiêu
phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi vào năm 2015. Đến năm 2020, có ít nhất
30% trẻ trong
độ tuổi nhà trẻ và 80% trong độ tuổi mẫu giáo được chăm sóc, giáo dục
tại các cơ sở giáo dục mầm non; tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng trong các cơ sở giáo dục
mầm non giảm xuống dưới 10%. Đối với giáo dục phổ thông, chất lượng giáo dục toàn
diện được nâng cao. Đến năm 2020 tỷ lệ đi học đúng độ tuổi ở tiểu học là 99%, THCS
là 95% và 80% thanh niên trong độ tuổi đạ
t trình độ học vấn THPT và tương đương;
có 70% trẻ em khuyết tật được đi học. Đối với giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại
học, đến năm 2020, các cơ sở giáo dục nghề nghiệp có đủ khả năng tiếp nhận 30% số
học sinh tốt nghiệp THCS; tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề nghiệp và đại học đạt
khoảng 70%; tỷ lệ sinh viên t
ất cả các hệ đào tạo trên một vạn dân vào khoảng 350-
400.
Cơ sở vật chất
Để đào tạo có chất lượng và thích ứng được với nền kinh tế xã hội – yếu tố
sống còn của mỗi nhà trường, thì yếu tố quan trọng thứ hai sau nhân lực giáo dục là cở
vật chất.
Chất lượng đào tạo được thể hiện ở năng l

i.
Nguồn tài chính
Muốn có đội ngũ giáo viên giỏi và cơ sở vật chất tốt phục vụ cho giáo dục và
đào tạo thì phải có được một nguồn tài chính dồi dào. Mọi tiền đề vật chất phải bắt đầu
từ tài chính. Nguồn nhân lực, vật lực và tài chính luôn có quan hệ mật thiết và tác động
lẫn nhau, thúc đẩy nhau cùng tồn tại và phát triển. Quy mô tính chất đào tạo làm xuất
hiện nhu c
ầu về đội ngũ cán bộ quản lý và giảng viên cũng như nhu cầu về đầu tư xây
dựng cơ sở vật chất và các trang thiết bị phục vụ cho giáo dục và đào tạo của nhà
trường. Kế hoạch đào tạo kéo theo kế hoạch giảng viên, kế hoạch xây dựng cơ sở vật
chất và tất cả những điều đó đều phải
được đảm bảo bằng một kế hoạch tài chính khoa
học.
1.1.3. Quy mô, chất lượng và hiệu quả giáo dục
Phát triển quy mô hay mở rộng giáo dục trước hết là nhu cầu và đòi hỏi khách
quan của đời sống kinh tế - xã hội, của từng gia đình và mỗi cá nhân trong quá trình
phát triển xã hội ngày càng tiến bộ, văn minh. Đây là điều kiện cần thiết để đảm bảo
quyền lợi và nghĩ
a vụ của mọi công dân được hiến pháp đảm bảo. Phát triển quy mô
giáo dục không chỉ đơn thuần là tăng số lượng học sinh, sinh viên các cấp từ mầm non
đến đại học mà còn là quá trình điều chỉnh cơ cấu đào tạo các bậc học, phát triển hệ
thống giáo dục quốc dân với nhiều loại hình đa dạng trên mọi vùng, miền của đất
nước, đưa ánh sáng văn hóa đế
n tận các bản, làng xa xôi. Đây cũng là quá trình hoàn
thiện mục tiêu, nội dung, chương trình đào tạo ở các cấp, phát triển đội ngũ giáo viên
và cán bộ quản lý, Với nội hàm rộng lớn đó quá trình phát triển quy mô đã và sẽ làm
thay đổi cơ bản diện mạo của nền giáo dục cho số đông, từ một hệ thống giáo dục quy
mô nhỏ, chậm phát triển sang một hệ thống giáo dục phát triển và hi
ện đại. Sự phát
triển nhanh chóng quy mô giáo dục của Việt Nam trong thời gian qua đã góp phần


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status