Tài liệu ôn thi tài chính tiền tệ lời giải tổng hợp - Pdf 25

Câu 1: Nêu những tác động đến tài chính cá nhân trong 10 năm qua ?
Tài chính cá nhân là ứng dụng những nguyên tắc tài chính vào những quyết định về tiền
bạc của một cá thể hoặc một gia đình. Nó chỉ ra phương thức để những cá thể/ gia đình
đó hoạch định ngân sách, tiết kiệm, kiếm tiền và tiêu tiền theo thời gian, có tính toán đến
những rủi ro về tài chính và những kế hoạch trong cuộc sống tương lai. Nói nôm na là
những hoạt động có liên quan đến tiền của bạn để giúp bạn đạt được các mục tiêu mong
ước tương lai.
Những yếu tố tác động đến tài chính cá nhân:
- Tình hình tài chính và nhu cầu của bản thân, gia đình.
- tổng thu nhập thực tế, nghĩa là khoản có được sau khi trừ đi các khoản thuế, bảo hiểm
xã hội.
- mức chi cụ thể của mỗi tháng. Bạn nên phân thành hai loại chi phí: cố định và không cố
định. Khoản đầu là mức phải chi ra đều đặn hàng tháng như tiền nhà, hóa đơn điện nước,
tiền học cho con hoặc tiền bảo hiểm. Khoản không thường xuyên thường thay đổi như
tiền mừng đám cưới, đi xem phim Với khoản chi này, bạn nên lấy trung bình cộng của
ba tháng.
- Một số người để dành khoản tiền dư ra sau mỗi cuối tháng để bỏ vào tài khoản tiết
kiệm. Để chủ động hơn cho những kế hoạch dài hơi, bạn nên dành hẳn một phần thu nhập
để tiết kiệm và xem đó cũng là một khoản chi phí cố định mỗi tháng
Tham khảo
Hạ bậc tín nhiệm quốc gia ảnh hưởng đến tài chính cá nhân như thế nào?
Tất cả những nhà chiến lược trên toàn thế giới đang quan tâm đến vấn đề trần nợ của
Mỹ và khả năng quốc gia này sẽ sớm bị hạ định mức tín nhiệm. Cũng không riêng gì Mỹ,
rất nhiều quốc gia khác từ châu Âu đến châu Á cũng đang gặp những rắc rối liên quan
đến nợ công và không ít trong số này đã bị Sandard and Poor's, Moody's hay Fitch hạ
mức tín nhiệm quốc gia của mình.
Tuy nhiên, nhiều người không nghĩ vấn đề nợ công và hạ mức tín nhiệm sẽ ảnh hưởng
đến cá nhân mình, dưới đây là những lý do họ sẽ phải thay đổi quan điểm của mình.
Lãi vay
Khi một quốc gia bị hạ mức tín nhiệm, tất cả những người cho vay sẽ yêu cầu một lợi
suất cao hơn cho khoản tiền mà mình bỏ ra - và điều này cũng có nghĩa là lãi suất thẻ tín

Việc mua, bán CK của NHNN với các NHTM sẽ có tác dụng mở rộng hay thu hẹp khối
lượng tiền tệ trong lưu thông, qua đó mà khối lượng tiền tệ được điều tiết theo mục tiêu
đã định.
TTCK đang thu hút sự quan tâm của các nhà đầu tư, tạo ra sự phát triển mạnh hơn của thị
trường tiền tệ liên NH và thị trường tín dụng ngắn hạn, góp phần làm giảm gánh nặng tín
dụng NH. Lượng vốn từ hệ thống NH chuyển sang TTCK tăng đáng kể thông qua cho
vay các dự án, hợp đồng mua lại về CK, cầm cố, thể chấp CK…
Về hoạt động cấp tín dụng, các TCTD được phép cấp tín dụng cho các hoạt động liên
quan đến TTCK. Tuy nghiên báo cáo của các TCTD cho thấy tổng dư nợ cho vay để đầu
tư và kinh doanh CK còn thấp, nhưng tiềm ẩn rủi ro gia tăng nợ xấu khi giá CK giảm
mạnh
(bỏ phần nói về bất động sản)
Lựa chọn kênh đầu tư hiệu quả và cân nhắc tỉ trọng đầu tư hợp lý tại mỗi thị trường vốn là câu hỏi
không dễ dàng ngay cả với những nhà đầu tư nhiều kinh nghiệm, đặc biệt trong thời điểm hiện nay.
Nhà đầu tư cho dù giỏi về một lĩnh vực cũng cần nghiên cứu cả những thị trường vốn khác để nhạy bén
trong việc đánh giá cơ hội mới & rút vốn kịp thời khi lợi nhuận giảm.
Thị trường chứng khoán trước đây được xem như một “bình nước” lớn thu hút từ nguồn thặng dư từ
doanh nghiệp, người dân và các quỹ đầu tư nước ngoài. Mức đầy nhất của bình – hay thị trường vốn
này là khi VnIndex đạt 1170 điểm đầu năm 2007. Nhà đầu tư nước ngoài với kinh nghiệm kinh doanh ở
nhiều thị trường vốn, không bỏ lỡ cơ hội giành “miếng bánh ngon” là thị trường mới nổi Việt Nam,
mở ra cơ hội lớn để giải ngân nguồn vốn. Tuy nhiên , lượng nước càng đầy thì áp lực càng lớn, và
dòng tiền đã nhanh chóng đổ sang bất động sản khi các mã chứng khoán trở nên “đắt đỏ” so với giá
trị nội tại của nó. Có thể nói năm 2007 là năm của bất động sản. Hầu như ai mua bất động sản từ đầu
năm đã kiếm “1 vốn 4 lời” khiến cho Bất động sản cũng được xem là hình thức đầu tư “lướt
sóng”.Tuy nhiên, đầu năm 2008, với những chính sách thắt chặt tiền tệ & hạn chế đầu cơ bất động sản
đã khiến thị trường này ngay lập tức “nguội đi”, dừng lại nghe ngóng. Thị trường chứng khoán đến
giai đọan phải trả giá do tính liên thông kém với thị trường sản xuất, không tạo ra được giá trị thặng
dư có thật, không còn hấp dẫn với nhà đầu tư dài hạn. Trong bối cảnh lạm phát tăng cao, đồng Đôla
suy yếu, Kinh doanh vàng trở thành kênh đầu tư hấp dẫn. Nhiều nhà nhập khẩu, đầu tư chuyển sang
kinh doanh vàng vì đây là hình thức mang tính phòng ngừa rủi ro lạm phát cao.

giá theo chu kỳ nóng - lạnh (nóng lên một vài năm, lạnh trong vòng 5 - 6 năm), đã gặp
đúng lúc những người thắng lớn ở thị trường chứng khoán chuyển tiền sang mua bất
động sản. Sau khi vượt qua đỉnh điểm 1.170 điểm, VN-Index bắt đầu sang dốc bên kia.
Một bộ phận của thị trường bất động sản (đất xây khách sạn, siêu thị, trung tâm thương
mại, chung cư cao cấp) lên cơn sốt, bắt đầu từ thành phố Hồ Chí Minh - nơi có mặt bằng
giá bất động sản thấp hơn Hà Nội - sau đó lan ra Hà Nội.
Sắp sốt bất động sản lần ba?
Khi giá chứng khoán xuống thấp, thì giá bất động sản nhanh chóng hạ xuống mạnh. Bắt
đầu từ cuối tháng 6, cung chứng khoán tăng mạnh bởi các đợt IPO của các đại gia, các
đợt phát hành chứng khoán để huy động thêm vốn của các công ty đã niêm yết. Để kiềm
chế lạm phát có xu hướng tăng cao sau khi đưa một lượng tiền lớn hàng trăm ngàn tỉ
đồng để mua 7 tỉ USD, Ngân hàng Nhà nước thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ nên
VN-Index đã giảm mạnh, những ngày gần đây đã xuyên thủng mốc 900.
Nhưng khi VN-Index xuống quá sâu, giao dịch chứng khoán suy yếu đã làm cho người
ta nghĩ ngay đến thị trường bất động sản. Bởi các kênh sinh lợi khác đều kém khả quan
hơn, như giá vàng lên xuống phụ thuộc vào thị trường thế giới, giá USD khó mà tăng
cao.
Trong khi đó, nhu cầu nhà đất tăng nhanh do dân số mỗi năm vẫn tăng trên 1 triệu
người… Nhu cầu thành lập các điểm giao dịch của doanh nghiệp, phát triển hệ thống
bán lẻ sản phẩm cũng như dịch vụ, cần thêm nhiều khách sạn cao cấp, văn phòng cho
thuê theo xu hướng phát triển du lịch và kinh doanh đang hứa hẹn một thị trường địa ốc
ấm áp hơn trong những tháng tới.
Nhu cầu tăng cao, cộng hưởng với một lượng tiền lớn chuyển từ thị trường chứng khoán
sang khi giá chứng khoán xuống, có thể sẽ làm cho giá bất động sản ấm nóng trở lại và
có thể xuất hiện cơn sốt bất động sản thứ ba.
ví dụ:
Ngày 3/8/2011, Ngân hàng Nhà nước chính thức tổ chức hội nghị bàn giao việc điều
hành công tác ngân hàng và chúc mừng Thống đốc Ngân hàng Nhà nước cũ và mới, sau
khi được Quốc hội khóa 13 bầu và phê chuẩn các chức danh lãnh đạo mới.
Một sự trùng hợp, ngay sau khi tân Thống đốc tiếp nhận việc điều hành, thị trường vàng

nghị định quản lý kinh doanh vàng được ban hành, dù đã qua hai mươi lần dự thảo. Đây
cũng là một thử thách đầu tiên đối với tân Thống đốc.
Câu 3: Những nhân tố nào ảnh hưởng đến khả năng tạo tiền qua hệ thống NHTM ?
Chức năng tạo tiền: Tạo tiền là một chức năng quan trọng, phản ánh rõ bản chất của
ngân NHTM. Với mục tiêu là tìm kiếm lợi nhuận như là một yêu cầu chính cho sự tồn tại
và phát triển của mình, các NHTM với nghiệp vụ kinh doanh mang tính đặc thù của mình
đã vô hình chung thực hiện chức năng tạo tiền cho nền kinh tế. Chức năng tạo tiền được
thực thi trên cơ sở hai chức năng khác của NHTM là chức năng tín dụng và chức năng
thanh toán. Thông qua chức năng trung gian tín dụng, ngân hàng sử dụng số vốn huy
động được để cho vay, số tiền cho vay ra lại được khách hàng sử dụng để mua hàng hóa,
thanh toán dịch vụ trong khi số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng vẫn
được coi là một bộ phận của tiền giao dịch, được họ sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán
dịch vụ… Với chức năng này, hệ thống NHTM đã làm tăng tổng phương tiện thanh toán
trong nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu thanh toán, chi trả của xã hội.
Các nhân tố ảnh hưởng được chia thành nhân tố khách quan và nhân tố chủ quan.
với nhân tố khách quan có những nhân tố sau ảnh hưởng:
- Hành lang pháp lý: Có ảnh hưởng lớn đến nghiệp vụ huy động vốn của ngân hàng
thương mại như luật các tổ chức tín dụng, luật ngân hàng nhà nước… Những luật này
quy định tỷ lệ huy động vốn của ngân hàng thương mại so với vốn tự có, quy định việc
phát hành trái phiếu, kỳ phiếu và quy định cả mức cho vay của ngân hàng thương mại đối
với khách hàng… Sự can thiệp của ngân hàng nhà nước khi thực hiện mục tiêu của chính
sách tiền tệ cũng ảnh hưởng tới việc huy động vốn, vì khi thực hiện chính sách tiền tệ nới
lỏng sẽ mang lại thuận lợi cho ngân hàng thương mại trong việc huy động vốn vay từ
ngân hàng nhà nước. Đồng thời, nó còn có tác dụng làm giảm lãi suất trên thị trường tiền
tệ. Ngược lại, thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt sẽ khó khăn hơn trong việc huy động
vốn vay từ ngân hàng nhà nước.Chính sách đầu tư của Nhà nước hợp hý hay không hợp
lý cũng ảnh hưởng đến chính sách huy động vốn của Ngân hàng. Để khuyến khích sản
xuất, đầu tư, Nhà nước có chính sách bảo hộ cho hàng hoá sản xuất, chính sách trợ giá…
tạo điều kiện cho sản xuất kinh doanh phát triển và có lãi. Các doanh nghiệp và người lao
động có tích luỹ là nền tảng để Ngân hàng huy động vốn được nhiều hơn.

vùng, miền ở nước ta. Vì vậy, phát triển nhanh các hình thức không dùng tiền mặt có ý
nghĩa quan trọng trong việc huy động vốn của Ngân hàng.
- Công nghệ: Các ngân hàng ứng dụng công nghệ cao thì càng tăng được khả năng huy
động vốn vì càng tăng khả năng tiếp cận với khách hàng, giảm được thời gian vv…Hiện
nay các ngân hàng thường mại ở nước ta đã đưa máy rút tiền tự động ATM vào thị
trường để khách hàng sử dụng, khách hàng có thể rút tiền ở mọi lúc, mọi nơi.
Nhân tố chủ quan
- Chính sách lãi suất: Là một nhân tố quan trọng, có tác động mạnh đến việc huy động
vốn của Ngân hàng thương mại; đặc biệt là đối với các khoản vốn mà người gửi hoặc
người dân đầu tư Ngân hàng với mục đích hưởng lãi. Các Ngân hàng cạnh tranh không
chỉ về lãi suất huy động với các Ngân hàng khác mà cả với thị trường tiền tệ. Do đó, chỉ
một sự khác biệt nhỏ về lãi suất có thể đẩy dòng vốn nhàn rỗi trong xã hội đầu tư theo
những chiều hướng khác nhau. Đó cũng là lý do, động lực để các nhà đầu tư hoặc người
gửi tiền chuyển vốn từ Ngân hàng này sang Ngân hàng khác. Vì vậy, xác định một lãi
suất hợp lý, có tính cạch tranh là một vấn đề vô cùng quan trọng, phải được nghiên cứu,
cân nhắc, tính toán tỷ mỉ và toàn diện. Tuy nhiên, Ngân hàng phải tính toán sao cho lãi
suất vừa có tính cạnh tranh, vừa phải đảm bảo được chi phí đầu vào thấp nhất và kinh
doanh có lãi.
- Chiến lược kinh doanh của Ngân hàng: Cũng ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến
công tác huy động vốn. Một Ngân hàng có hệ thống chiến lược kinh doanh đúng đắn sẽ
đạt được các mục tiêu đề ra về chi phí cũng như về lợi nhuận. Đó là chiến lược về sản
phẩm dịch vụ. Chiến lược giá, lãi suất, chiến lược phân phối, chiếm lược phát triển nhân
sự, chiến lược khuyếch chương giao tiếp… có tác động mạnh đến việc huy động vốn. Hệ
thống chiến lược kinh doanh của Ngân hàng là thực tiễn sinh động để đánh giá năng lực
và trình độ quản lý hoạt động kinh doanh của Ngân hàng, tạo được niềm tin đối với
khách hàng. Do đó, thu hút ngày càng nhiều khách hàng đến với Ngân hàng.
- Uy tín và vị thế của Ngân hàng: Thông thường, khách hàng lựa chọn những Ngân
hàng có uy tín và vị thế trên thị trường để giao dịch, vay mượn, thanh toán và bảo lãnh…
Uy tín và vị thế của Ngân hàng có ý nghĩa quan trọng trong việc lựa chọn của khách
hàng, thể hiện cụ thể ở năng lực tài chính, tình hình hoạt động kinh doanh, quá trình lịch

hàng Nhà nước Việt Nam.
Ngân hàng sẽ điều tiết lượng cung tiền qua 1 số cách chủ yếu như sau:
- Điều chỉnh lãi suất cơ bản để các ngân hàng có thể huy động vốn nhàn rỗi trong dân. Từ đó
giảm tiền trong lưu thông
- In ấn và cung tiền cho các ngân hàng phục vụ sản xuất.
- Qui định tỷ lệ dự trữ bắt buộc tại các ngân hàng và mức tăng trưởng tín dụng hàng năm.
- Phát hành trái phiếu bắt buộc và tự nguyện để huy động tiền trong dân, ngân hàng, các cty
Ngày nay, việc cung ứng tiền chủ yếu được thực hiện bởi NHTW và hệ thống NH
trung gian. NHTW phát hành tín tệ (tiền giấy và tiền kim loại). Hệ thống NH trung
gian cung ứng bút tệ (tiền gửi không kỳ hạn). Ngoài ra, nhà nước và các DN cũng được
coi là các chủ thể cung ứng tiền cho nền kinh tế, vì đây là các chủ thể phát hành các chứng từ
nợ như tín phiếu kho bạc nhà nước, thương phiếu …
1. Ngân hàng trung ương với việc cung ứng tiền tệ:
NHTW là cơ quan độc quyền phát hành tiền giấy và tiền kim loại vào lưu thông. (Lưu
ý: Một số nước quy định tiền kim loại do kho bạc phát hành)
NHTW thực hiện việc phát hành tiền qua 4 kênh:
a) Phát hành qua Kênh ngân sách nhà nước (Kênh chính phủ): Trong trường
hợp NSNN bị thâm hụt, sau khi tìm cách tăng thu, giảm chi mà vẫn chưa cân đối được NS
thì chính phủ phải vay tiền theo các cách: vay của dân thường qua việc phát hành tín phiếu
và trái phiếu KBNN; vay của nước ngòai; vay của NHTW.
Khi chính phủ vay của công chúng thì không ảnh hưởng đến mức cung tiền tệ.
Khi chính phủ vay của nước ngoài thì mức cung tiền tệ tăng lên, vì những tài sản vay
(ngoại tệ mạnh, vàng …) khi đưa về nước phải gởi ở NHTW để chuyển thành nội tệ.
Khi chính phủ vay của NHTW thì lượng tiền trong lưu thông sẽ tăng lên. Chính phủ
muốn vay tiền của NHTW cũng phải đem tài sản đến cầm thế (vàng, ngoại tệ, chứng khoán …).
Khi NHTW cho chính phủ vay có các tài sản cầm thế đầy đủ, ta gọi đó là nghiệp vụ phát
hành tiền gián tiếp (phát hành tiền thanh khiết). Trường hợp chính phủ vay mà không có tài
sản cầm thế đầy đủ thì gọi đó là nghiệp vụ phát hành tiền trực tiếp. Khi đó lượng tiền tăng
thêm trở nên dư thừa, giá cả sẽ leo thang.
b) Phát hành tiền qua kênh NH trung gian (kênh tín dụng):

Tỷ lệ dự trữ bắt buộc do NHTW quy định, nó là tỷ lệ % trên lượng tiền gởi mà
NHTG huy động được. NHTG chỉ được sử dụng số tiền còn lại sau khi đã thực hiện dự trữ
bắt buộc đúng theo quy định.
Sau đây là ví dụ minh họa về sự sáng tạo ra bút tệ qua nghiệp vụ nhận tiền gửi
và cho vay của NHTG:
+ Giả sử tỷ lệ dự trữ bắt buộc là 10%.
+ Ban đầu, NH A nhận được 1.000đ tiền gởi. NH A phải DTBB 100đ, số còn lại được
cho vay 900đ.
+ Tiếp theo, người khách hàng vay được 900đ ký séc 900đ để trả cho chủ nợ của
mình. Người nhận séc đem ký thác tại NH B theo thể thức tiền gởi không kỳ hạn. NH B phải
DTBB 90đ, số còn lại được cho vay 810đ.
Nếu không có bất kỳ “chướng ngại vật” nào xảy ra thì quá trình trên cứ tiếp diễn
cho đến khi tổng số dự trữ bắt buộc của các NHTM đúng bằng số tiền gửi ban đầu (1.000đ)
thì sẽ bị triệt tiêu.
Theo công thức (1) ta có:
Số tiền gửi mở rộng = 1.000đ x 10 = 10.000 đ
Ta có bảng tóm tắt quá trình tạo tiền của các ngân hàng trung gian như sau:
Tên ngân
hàng
Số gia tăng tiền gửi
Số dự trữ
Số gia tăng cho vay
A 1.000 100 900
B 900 90 810
C 810 81 729
… … … …
Cộng 10.000 1.000 9000
Qua ví dụ trên ta thấy nhờ nhận tiền gởi và cho vay mà cả hệ thốngNH có thể sáng
tạo ra bút tệ.
Trên thực tế, hệ số tạo tiền nhỏ hơn số được xác định trong điều kiện lý tưởng

kinh tế-xã hội của mỗi thời kỳ, kiểm tra các chế độ tài chính của Nhà nước
Bản chất của tiền tệ được thể hiện qua các chức năng của nó. Theo C. Mác tiền tệ
có 5 chức năng:
- Thước đo giá trị. Tiền tệ dùng để biểu hiện và đo lường giá trị của các hàng hoá.
Muốn đo lường giá trị của các hàng hoá, bản thân tiền tệ phải có giá trị. Vì vậy, tiền tệ
làm chức năng thước đo giá trị phải là tiền vàng. Để đo lường giá trị hàng hoá không
cần thiết phải là tiền mặt mà chỉ cần so sánh với lượng vàng nào đó một cách tưởng
tượng. Sở dĩ có thể làm được như vậy, vì giữa giá trị của vàng và giá trị của hàng hoá
trong thực tế đã có một tỷ lệ nhất định. Cơ sở của tỷ lệ đó là thời gian lao động xã hội
cần thiết hao phí để sản xuất ra hàng hoá đó. Giá trị hàng hoá được biểu hiện bằng tiền
gọi là giá cả hàng hoá. Do đó, giá cả là hình thức biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng
hoá. Giá cả hàng hoá do các yếu tố sau đây quyết định:
+ Giá trị hàng hoá.
+ Giá trị của tiền.
+ ảnh hưởng của quan hệ cung - cầu hàng hoá.
Để làm chức năng thước đo giá trị thì bản thân tiền tệ cũng phải được đo lường.
Do đó, phải có đơn vị đo lường tiền tệ. Đơn vị đó là một trọng lượng nhất định của kim
loại dùng làm tiền tệ. ở mỗi nước, đơn vị tiền tệ này có tên gọi khác nhau. Đơn vị tiền tệ
và các phần chia nhỏ của nó là tiêu chuẩn giá cả. Tác dụng của tiền khi dùng làm tiêu
chuẩn giá cả không giống với tác dụng của nó khi dùng làm thước đo giá trị. Là thước
đo giá trị, tiền tệ đo lường giá trị của các hàng hoá khác; là tiêu chuẩn giá cả, tiền tệ đo
lường bản thân kim loại dùng làm tiền tệ. Giá trị của hàng hoá tiền tệ thay đổi theo sự
thay đổi của số lượng lao động cần thiết để sản xuất ra hàng hoá đó. Giá trị hàng hoá
tiền tệ (vàng) thay đổi không ảnh hưởng gì đến "chức năng" tiêu chuẩn giá cả của nó,
mặc dù giá trị của vàng thay đổi như thế nào. Ví dụ, một USD vẫn bằng 10 xen.
- Phương tiện lưu thông: Với chức năng làm phương tiện lưu thông, tiền làm môi
giới trong quá trình trao đổi hàng hoá. Để làm chức năng lưu thông hàng hoá ta phải có
tiền mặt. Trao đổi hàng hoá lấy tiền làm môi giới gọi là lưu thông hàng hoá.
Công thức lưu thông hàng hoá là: H- T - H, khi tiền làm môi giới trong trao đổi
hàng hoá đã làm cho hành vi bán và hành vi mua có thể tách rời nhau cả về thời gian và

phát triển rộng rãi, đến kỳ thanh toán, nếu một khâu nào đó không thanh toán được sẽ
gây khó khăn cho các khâu khác, phá vỡ hệ thống, khả năng khủng hoảng kinh tế tăng
lên.
- Tiền tệ thế giới. Khi trao đổi hàng hoá vượt khỏi biên giới quốc gia thì tiền làm
chức năng tiền tệ thế giới. Với chức năng này, tiền phải có đủ giá trị, phải trở lại hình
thái ban đầu của nó là vàng. Trong chức năng này, vàng được dùng làm phương tiện
mua bán hàng, phương tiện thanh toán quốc tế và biểu hiện của cải nói chung của xã
hội.
Tóm lại: 5 chức năng của tiền trong nền kinh tế hàng hoá quan hệ mật thiết với
nhau. Sự phát triển các chức năng của tiền phản ánh sự phát triển của sản xuất và lưu
thông hàng hoá.
Câu 6 : Tài chính công và tài chính nhà nước khác nhau như thế nào ?
TCNN = TCC + TC DNNN
TCNN có 3 đặc trưng là:
- Được hình thành bằng quyền lực nhà nước
- Vận động (thu-chi) theo luật định
- Phục vụ cho lợi ích công
Ban đầu TCC được xem là TCNN, nhưng trong quá trình phát triển hành chính nhà nước,
vai trò của NN đối vói nền KT ngày càng tăng. Chính vì thế mà NN ngoài chức năng ban
đầu là tổ chức và điều hành nền KT còn có thêm chức năng "Làm kinh tế"
==> TCNN chia làm 2 bộ phận:
- Tc phục vụ cho việc quản lý diều hành NN > TCC (ko vì lợi nhuận)
- TC phục vụ cho NN làm KT >TC DNNN (vì lợi nhuận)
Tài chính công là 1 bộ phận của tài chính nhà nước
Tài chính NN là 1 khái niệm dùng để phản ảnh những hoạt động tài chính gắn liền với
chủ thể NN.
Tài chính công bao hàm các ý nghĩa:
- Một là, trong khuông khổ của 1 quốc gia, tài chính công thuộc sở hữu nhà nước và nhà
nước hay quốc hội là cơ quan quyền lực tối cao của 1 quốc gia, có quyền áp đặt mọi
khoản thu chi của quốc gia hay có thể ủy quyền cho chính phủ hay cơ quan công quyền

100% từ những nguồn và những ngành kinh tế chủ yếu (như thu từ dầu khí, thuế xuất
khẩu - thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt, các khoản vay của chính phủ, các khoản
viện trợ không hoàn lại của chính phủ nước ngoài, vv.); các khoản thu được phân chia
theo tỉ lệ phần trăm giữa NSTƯ và ngân sách địa phương (như thuế doanh thu, thuế lợi
tức, thuế thu nhập dân cư, thuế tài nguyên, vv.). Chi của NSTƯ gồm có: chi thường
xuyên, chi đầu tư phát triển cho những công trình lớn, trọng điểm, chậm thu hồi vốn, chi
cho kết cấu hạ tầng, cho đầu tư và hỗ trợ vốn đối với một số doanh nghiệp nhà nước quan
trọng, chi góp cổ phần hay liên doanh vào các lĩnh vực cần có sự tham gia của nhà nước;
chi trả nợ các khoản vay của chính phủ; chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính; chi trợ cấp cho
ngân sách địa phương.
Ngân sách trung ương phản ánh nhiệm vụ thu, chi theo ngành và giữ vai trò chủ đạo
trong hệ thống ngân sách nhà nước. Nó bắt nguồn từ vị trí, vai trò của chính quyền trung
ương được Hiến pháp quy định đối với việc thực hiện các nhiệm vụ kinh tế, chính trị, xã
hội của đất nước. Ngân sách trung ương cấp phát kinh phí cho yêu cầu thực hiện chức
năng, nhiệm vụ của Nhà nước trung ương (sự nghiệp văn hoá, sự nghiệp an ninh quốc
phòng, trật tự an toàn xã hội, đầu tư phát triển…). Nó còn là trung tâm điều hoà hoạt
động ngân sách của địa phương. Trên thực tế, ngân sách trung ương là ngân sách của cả
nước, tập trung đại bộ phận nguồn tài chính quốc gia và đảm bảo các nhiệm vụ chi tiêu
có tính chất huyết mạch của cả nước. ngân sách trung ương bao gồm các đơn vị dự toán
của cấp này, mỗi bộ, mỗi cơ quan trung ương là một đơn vị dự toán của ngân sách trung
ương.Ngân sách trung ương bao gồm:
- Ngân sách cấp tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung là ngân sách cấp
tỉnh).
• Ngân sách cấp huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là ngân sách
cấp huyện).
• Ngân sách cấp xã, phường, thị trấn (gọi chung là ngân sách cấp xã).
* Ngân sách địa phương là tên chung để chỉ các cấp ngân sách của các cấp chính quyền
bên dưới phù hợp với địa giới hành chính các cấp. Ngoài ngân sách xã chưa có đơn vị dự
toán, các cấp ngân sách khác đều bao gồm một số đơn vị dự toán của cấp ấy hợp thành.
+ Ngân sách cấp tỉnh phản ánh nhiệm vụ thu, chi theo lãnh thổ, đảm bảo thực hiện các

TỔNG THU
Thu trong nước (Không kể thu từ dầu thô)
Thu từ doanh nghiệp Nhà nước
Thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
Thu từ khu vực công, thương nghiệp, dịch vụ ngoài quốc
doanh
Thuế sử dụng đất nông nghiệp
Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao
Lệ phí trước bạ
Thu xổ số kiến thiết
Thu phí xăng dầu
Thu phí, lệ phí
Các khoản thu về nhà đất
Các khoản thu khác
Thu từ dầu thô
Thu từ hải quan
Thuế xuất, nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt hàng nhập
khẩu; Thu chênh lệch giá hàng nhập khẩu
Thuế giá trị gia tăng hàng nhập khẩu
Thu viện trợ không hoàn lại
NSNN là một khâu của hệ thống tài chính quốc gia, nó phản ánh quan hệ kinh tế phát
sinh gắn liền với quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung của Nhà
nước khi Nhà nước tham gia phân phối các nguồn tài chính quốc gia nhằm thực hiện các
chức năng của Nhà nước trên cơ sở luật định.
1. Thu Ngân sách nhà nước
1.1.Những vấn đề chung về thu NSNN
1.1.1. Khái niệm thu NSNN
Để có nguồn tài chính đáp ứng nhu cầu chi tiêu, Nhà nước thường sử dụng ba hình thức
động viên đó là: quyên góp của dân, vay của dân và dùng quyền lực Nhà nước bắt buộc
dân phải đóng góp. Trong đó hình thức quyên góp tiền và tài sản của dân và hình thức

trong nước và thu ngoài nước. Cụ thể:
- Các khoản thu trong nước bao gồm:
+ Thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh. Đây là lĩnh vực tạo ra đại bộ phận tổng sản
phẩm xã hội và cũng là nơi tạo ra số thu chủ yếu cho NSNN.
+ Thu từ hoạt động dịch vụ (là những hoạt động phục vụ cho sản xuất kinh doanh và đời
sống xã hội) bao gồm cả thu sự nghiệp và thu từ các dịch vụ tài chính. Số thu từ lĩnh vực
này có xu hướng ngày càng tăng.
+ Thu từ các hoạt động khác như thu về bán và cho thuê tài sản quốc gia, nguồn tài
nguyên, vay nợ trong nước dưới các hình thức.v.v.
- Các khoản thu ngoài nước bao gồm:
+ Thu từ các hoạt động xuất khẩu lao động và hợp tác chuyên gia với nước ngoài;
+ Thu từ viện trợ của nước ngoài
+ Thu từ vay nợ nước ngoài, kể cả vay các tổ chức tài chính quốc tế.
* Ý nghĩa của cách phân loại này: các phân loại này phản ánh cơ cấu của nền kinh tế,
thông qua đó có thể đánh giá tính hiệu quả, tính hợp lý của nền kinh tế.
b) Căn cứ vào tính chất phát sinh và nội dung kinh tế, các khoản thu được chia làm hai
loại:
- Các khoản thu thường xuyên: là các khoản thu phát sinh tương đối đều đặn, ổn định về
mặt thời gian và số lượng gồm thuế, phí, lệ phí.
- Các khoản thu không thường xuyên: là những khoản thu không ổn định về mặt thời gian
phát sinh cũng như số lượng tiền thu được, bao gồm các khoản thu từ hoạt động kinh tế
của Nhà nước, thu từ hoạt động sự nghiệp, thu tiền bán hoặc cho thuê tài sản thuộc sở
hữu nhà nước, thu từ viện trợ nước ngoài, từ vay trong nước và ngoài nước và các khoản
thu khác.
* Ý nghĩa của cách phân loại này: Việc phân loại các khoản thu NSNN dựa trên sự kết
hợp giữa hai tiêu chí: theo nội dung kinh tế và tính chất phát sinh của nguồn thu là cần
thiết, bởi qua cách phân loại này để thấy rõ sự phát triển của nền kinh tế, tính hiệu quả
của nền kinh tế và mức độ ổn định vững chắc của nguồn thu NS.
c) Phân loại theo yêu cầu động viên vốn vào NSNN:
Có thể chia các khoản thu NSNN thành:

- Không hoàn trảtrực tiếp mà hoàn trảgián tiếp và không tương đương dưới hình
thức người chịu thuếđược hưởng các hàng hoá, dịch vụNhà nước cung cấp
không mất tiền hoặc với giá thấp và không phân biệt giữa người nộp thuếnhiều
hay ít.
3.1.2. Lệphí
Lệphí là khoản thu do Nhà nước quy định đểnhà nước phục vụcông việc quản lý hành
chính nhà nước theo yêu cầu hoặc theo quy định của pháp luật.
Việt nam có khoảng 15 loại lệphí nhưlệphí trước bạ, lệphí đăng ký kinh doanh, lệphí
chứng thư, công chứng, lệphí cấp quota.
Đây là khoản thu do những cơquan hành chính thực hiện. Đó là những đơn vị dựtoán
ngân sách, tức là toàn bộthu chi của nó gắn với thu chi ngân sách hay thu chi của nó là
một bộphận của thu chi ngân sách.
Tiền lệphí thu được dùng đểbù đắp các khoản chi phí phát sinh khi giải quyết công việc
của bộphận quản lý trực tiếp và gián tiếp. Ví dụtiền lệphí trước bạnhà, đất không chỉ
để đảm bảo hoạt động của bộphận trước bạmà cònđảm bảo hoạt động của cảhệthống
cơquan quản lý nhàđất nhưTổng cục địa chính, Sởnhà đất với các công việc nhưlập hồ
sơ địa chính, lập quy hoạch… Do đó một sốlệphí có sốtiền thu lớn nhưlệphí trước bạ
nhà đất lên tới2% giá trịnhà đất.
Thu lệphí là nhằm đảm bảo thực hiện nguyên tắc thu theo khảnăng đóng góp trong
chính sách động viên vào ngân sách Nhà nước và công bằng trong việc hưởng thụcác lợi
ích từchi tiêu của ngân sách. Vì vậy người nộp lệphí là người được hưởng lợi ích từhoạt
động quản lý của Nhà nước và sốtiền lệphí phù hợp với khảnăng đóng góp của họnên
Nhà nước không cần trợgiúp đểgiảm gánh nặng cho người nộp thuế.
Một sốlệphí là bắt buộc. Trong đó quan trọng là lệphí trước bạ, vì Nhà nước cần quản
lý quyền sởhữu, quyền sửdụng một sốtài sản là nhà đất, tầu thuyền, ôtô, xe máy, súng
săn, súng thểthao nhưng nhiều người không muốn nộp lệphí nên không chịu trước bạ
những tài sản này.
Nếu Nhà nước quy định sốtiền nộp lệphí nào đó lớn nhằm tăng thu ngân sách thì không
gọi là lệphí mà gọi là thuếhay thuếmang tính chất lệphí nhưthuếmôn bài.
Tóm lại, lệphí vừa mang tính chất phục vụcho người nộp lệphí vềviệc thực hiện một số

Khái niệm Là các loại thuế điều tiết trực
tiếp vào thu nhập hoặc tài sản
của người nộp thuế
Là loại thuế không trực tiếp
điều tiết vào thu nhập hay tài
sản của người nộp thuế mà
điều tiết gián tiếp thông qua giá
cả hàng hoá, dịch vụ
Đối tượng chịu thuế và đối
tượng nộp thuế
Người nộp thuế đồng thời cũng
là người chịu thuế
Người nộp thuế là người nộp
thay cho người chịu thuế
Tác động của thuế trong nền
kinh tế
Ít tác động vào giá cả thị
trường (vì thường đánh vào kết
quả kinh doanh, kết quả thu
nhập sau một kỳ kinh doanh)
Ảnh hưởng trực tiếp đến giá cả
thị trường (vì thuế được cộng
vào giá bán HHDV)
Về nguồn thu của NSNN Đối với các nước nghèo, thu
nhập thấp thì nguồn thu từ thuế
TT không lớn; khó thu vì nạn
"trốn thuế, lách thuế còn nhiều
Có số thu lớn, tập trung vào NS
TW vì thu ngay vào khâu Sản
xuất và Nhập khẩu của các DN

Trong lúc các nước phát triển
lại Lấy thuế TT là nguồn thu
chính của NS
Câu 10 : Nêu các yếu tố ảnh hưởng đến nguồn thu thuế ?
a) Thu nhập GDP bình quân đầu người
Chỉ tiêu này phản ánh tốc độ tăng trưởng và phát triển kinh tế của một quốc gia, phản ánh
khả năng tiết kiệm, tiêu dùng và đầu tư của một nước. Thu nhập GDP bình quân đầu
người là nhân tố quyết định đến mức động viên của NSNN. Nếu không tính đến chỉ tiêu
này khi xác định mức động viên của ngân sách sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến các vấn đề tiết
kiệm, tiêu dùng và đầu tư của các tổ chức kinh tế, của các tầng lớp dân cư. Thông thường
mức động viên vào NSNN ở các nước khoảng từ 17%- 21% GDP là hợp lý.
* Lưu ý:
Hiện nay, có một nghịch lý ở các nước đang phát triển. Đó là ở các nước này, khả năng
thu là rất hạn chế (do GDP bình quân đầu người thấp) trong khi nhu cầu chi cho phát
triển kinh tế và các vấn đề xã hội lại rất lớn nên tỷ lệ động viên của các nước này thường
rất cao (thường trên 23%) do vậy đã gây ra hiệu ứng tiêu cực là kìm hãm sản xuất, gây
thất thu trong tương lai.
b) Tỷ suất lợi nhuận trong nền kinh tế
Tỷ suất lợi nhuận trong nền kinh tế phản ánh hiệu quả của đầu tư phát triển kinh tế. Tỷ
suất lợi nhuận càng lớn, nguồn tài chính càng lớn. Đây là nhân tố quyết định đến việc
nâng cao tỷ lệ động viên của NSNN.
Dựa vào tỷ suất lợi nhuận trong nền kinh tế để xác định tỷ suất thu NSNN sẽ tránh được
việc động viên vào NSNN gây khó khăn về tài chính cho hoạt động kinh tế. Hiện nay, tỷ
suất lợi nhuận trong nền kinh tế nước ta đạt thấp, trong khi chi phí tiền lương ngày càng
tăng, nên tỷ lệ động viên của NSNN không thể cao được.
c) Tiềm năng đất nước về tài nguyên thiên nhiên
Đối với các nước đang phát triển và nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú thì nhân tố
này có ảnh hưởng lớn đến số thu NSNN.
Ở nước ta hiện nay, tỷ trọng thu từ dầu thô chiếm khoảng 74% trong tổng thu NSNN(1).
Trong tương lai, việc xuất khẩu dầu mỏ và khoáng sản chiếm tỷ trọng lớn trong kim

-Mang tính bắt buộc, gắn liền với quyền lực chính trị của nhà nước
-Mang tính ổn định tương đối
- Đều được lượng hóa thông qua tiền tệ
Khác nhau (chia cột, sắp ý tương đương)
Thuế
-Là luật định, dưới hình thức luật hoặc pháp lệnh do cơ quan lập pháp(quốc hội) ban hành
việc ấn định, ban hành, bãi bỏ hoặc sửa đổi mộ số sắc thuế phải trải qua những trình tự
lập pháp chặt chẽ do hiến pháp quy định.
-Không có đối phần cụ thể
-Thuế là khoản thu chủ yếu của NSNN, công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế và điều hòa
thu nhập trong xã hội.
-Không manh tính hoàn trả trực tiếp, một phần được hoàn trả gián tiếp thông qua các
khoản trợ cấp xã hội và phúc lợi công cộng.
-Mang tính chất nghĩa vụ đóng góp của các tổ chức kinh tế và dân cư đối với nhà nước.
-Mức thu về thuế thường được quy định bằng tỉ lệ phần % so với cơ sở tính thuế đồng
thời có thể được quy định bằng con số tuyệt đối hay tỉ lệ % lũy tiến hoặc lũy thoái.
Phí và lệ phí
-Cũng do nhà nước quy định nhưng ở cấp độ khác, dưới hình thức văn bản do cơ quan
hành pháp ban hành. Trình tự ban hành không chặt chẽ, phức tạp như thuế.
-Có đối phần cụ thể
-Phí, lệ phí là những khoản thu để giảm chi ngân sách, nhằm mục tiêu duy nhất là bù đắp
một phần chi phí nc đã đàu tư vào các dịch vụ công cộng của NN.
-Mang tính hoàn trả trực tiếp cho người nộp
-Chỉ khi có hưởng lợi ích hoặc được sử dụng dịch vụ công cộng mới phải nộp phí và lệ
phí.
-Mức thu về lệ phí, phí là một loại gải cả đặc biệt nó không giống như giá cả hàng hóa
dịch vụ phải chịu sự chi phối bởi quy luật cung cầu trên thị trường, mà mức thu lệ phí
được đặt ra trên cơ sở đáp ứng yêu cầu bù đắp chi phí của dịch vụ công cộng
Câu 12 : Hãy phân biệt những ưu và nhược điểm của phát hành chứng từ có giá và
ký kết các hiệp định tín dụng ?

giữa chính sách tài chính: chính sách ổn định tùy biến và chính sách ổn định tự động.
Việc phân biệt hai loại thâm hụt trên đây có tác dụng quan trọng trong việc đánh giá ảnh
hưởng thực sự của chính sách tài chính khi thực hiện chính sách tài chính mở rộng hay
thắt chặt sẽ ảnh hưởng đến thâm hụt ngân sách như thế nào giúp cho chính phủ có những
biện pháp điều chỉnh chính sách hợp lý trong từng giai đoạn của chu kỳ kinh tế
Thâm hụt ngân sách do rất nhiều nguyên nhân, và có sự ảnh hưởng khác nhau đến
sự cân đối vĩ mô của nền kinh tế. Về cơ bản, tình trạng thâm hụt ngân sách nhà
nước gồm các nguyên nhân chính sau:
· Thất thu thuế nhà nước
Thuế là nguồn thu chính và bền vững nhất cho ngân sách nhà nước bên cạnh các nguồn
thu khác như tài nguyên, doanh nghiệp nhà nước, vay, nhận viện trợ…tuy nhiên, do hệ
thống pháp luật ta còn nhiều bất cập, sự quản lí chưa chặt chẽ đã tạo kẻ hở cho các cá
nhân, tổ chức lợi dụng để trốn thuế, gây thất thu một lượng đáng kể cho ngân sách nhà
nước…điển hình, trong năm 2008 lượng thuốc lá nhập lậu vào nước ta đã làm thất thu
thuế, lấy đi của ngân sách nhà nước 2.500- 3000 tỉ đồng. Ngoài ra, lượng thuốc lá nhập
lậu còn làm chảy máu ngoại tệ của đất nước khoảng 200 triệu USD/năm, làm gia tăng
thất nghiệp, ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển kinh tế.
Bên cạnh đó, việc giãn thuế, giảm thuế và miễn thuế một mặt giúp các doanh nghiệp có
thêm nguồn vốn đầu tư, duy trì và mở rộng sản xuất. Tuy nhiên,việc miễn thuế, giảm thuế
hoặc chậm thu làm ảnh hưởng tới các khoản chi ngân sách khác gây thâm hụt ngân sách
nhà nước.
· Đầu tư công kém hiệu quả
Trong 2 năm 2007 và 2008, nước ta đã tiếp nhận một lượng vốn rất lớn từ bên ngoài.
Nhằm đẩy mạnh đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng và các công trình trọng điểm quốc gia
phục vụ lợi ích phát triển của đất nước. Tuy nhiên, trên thực tế, tình trạng đầu tư dàn trải
gây lãng phí ở các địa phương vẫn chưa được khắc phục triệt để, tiến độ thi công những
dự án trọng điểm quốc gia còn chậm và thiếu hiệu quả, đã gây lãng phí nguồn ngân sách
nhà nước và kiềm hãm sự phát triển của các vùng miền, là nguyên nhân chính dẫn đến
thâm hụt ngân sách nhà nước.
Bên cạnh đó, nền hành chính công - dịch vụ công của chúng ta quá kém hiệu quả. Chính

thiếu hụt ngân sách trong năm. Tuy nhiên, khi cân đối ngân sách chúng ta thường xác


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status