A. MỞ ĐẦU:
1. Lí do chọn đề tài:
Học sinh THCS ở độ tuổi từ 11 đến 15, đây là thời kì các em bước vào tuổi
dậy thì. Cơ thể có những biến đổi nhanh chống về vóc dáng, cơ quan sinh
dục, các đặc điểm giới tính khác,… Các em rất cần được sự quan tâm của
cha mẹ, thầy cô giáo dục các biện pháp giữ gìn vệ sinh và rèn luyện sức
khỏe để đảm bảo cho cơ thể phát triển khỏe mạnh có thể tham gia vào các
hoạt động giáo dục khác đạt hiệu quả.
Tuy nhiên trong cuộc sống với nhiều bận bịu lo toan không phải cha mẹ
nào cũng có thể quan tâm chăm sóc tốt cho con mình và không phải đứa trẻ
nào cũng có thể mạnh dạn chia sẻ những khó khăn gặp phải trong cuộc sống
với cha mẹ chúng nhất là những vấn đề gặp phải ở tuổi dậy thì. Phần lớn trẻ
trải qua tuổi dậy thì trong nhà trường chính vì thế vai trò của nhà trường rất
quan trọng trong việc giáo dục biện pháp giữ gìn vệ sinh và rèn luyện sức
khỏe cho trẻ .
Trong chương trình giáo dục THCS, bộ môn sinh học 8 là môn học rất
quan trọng. Mục đích chung của môn “Cơ thể người và vệ sinh” là cung cấp
những hiểu biết khoa học về đặc điểm cấu tạo và mọi hoạt động sống của
con người. Trên cơ sở đó, đề ra các biện pháp vệ sinh, rèn luyện thân thể,
bảo vệ và tăng cường sức khỏe, nâng cao năng suất, hiệu quả trong học tập,
góp phần thực hiện mục tiêu đào tạo những con người lao động linh hoạt,
năng động, sáng tạo, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của đất nước.
Trong thực tiễn giảng dạy, việc giáo dục biện pháp giữ gìn vệ sinh và rèn
luyện sức khỏe được thực hiện bằng nhiều phương pháp khác nhau. Tuy
nhiên, hiệu quả giáo dục chưa cao do nhiều nguyên nhân khác nhau. Một
trong những nguyên nhân đó là giáo viên chưa đánh giá đúng tầm quan
trọng của các tiết “ vệ sinh” và sử dụng các phương pháp giảng dạy chưa
hợp lí .
Từ những lí do trên, tôi lựa chọn vấn đề “Giáo dục biện pháp giữ gìn vệ
sinh và rèn luyện sức khỏe cho học sinh qua bộ môn sinh học 8” làm đề tài
nghiên cứu của mình với mong muốn trang bị cho học sinh một số biện pháp
1. Cơ sở lí luận:
Chỉ thị số 48-TTG/VG ngày 02 tháng 06 năm 1969 của Thủ tướng Chính
phủ về việc giữ gìn và nâng cao sức khỏe của học sinh nêu rõ: “Giữ gìn và
nâng cao sức khỏe của học sinh là một vấn đề lớn, phải có phương hướng và
kế hoạch giải quyết toàn diện, và trong một thời gian lâu dài, trên cơ sở tìm
hiểu đặc điểm lứa tuổi, đặc điểm sinh hoạt và phải căn cứ vào khả năng thực
tế của nền kinh tế nước ta.”
Quả thực đúng như vậy, giữ gìn và nâng cao sức khỏe của học sinh là một
vấn đề lớn, xã hội chúng ta đang ngày càng phát triển thì nhiệm vụ giữ gìn
Trang 2
và nâng cao sức khỏe cho học sinh là một vấn đề hết sức quan trọng, đòi hỏi
sự chung tay của nhà trường gia đình và xã hội.
Hơn ai hết, cán bộ giáo viên, những người làm công tác trong ngành giáo
dục, phải luôn phấn đấu tìm ra những giải pháp tốt nhất nâng cao chất lượng
giáo dục toàn diện cho học sinh.
2. Cơ sở thực tiễn:
Hiện nay công tác giữ gìn vệ sinh và chăm sóc sức khỏe học sinh trong
trường học rất được quan tâm, đạt nhiều hiệu quả như: Nhà trường thường
xuyên liên hệ với cán bộ y tế xã, phường, tổ chức khám sức khỏe định kì cho
học sinh; tổ chức tuyên truyền về các chủ đề giữ gìn vệ sinh và rèn luyện sức
khỏe. Trang bị nhà vệ sinh sạch sẽ, công tác thể dục thể thao rèn luyện sức
khỏe được chú trọng…
Tuy nhiên, so với yêu cầu về chất lượng giáo dục, việc giữ gìn vệ sinh và
rèn luyện sức khỏe của học sinh còn có nhiều tồn tại: tình trạng bệnh, tật học
đường đang báo động. Đặc biệt là tật cận thị học đường ngày càng gia tăng.
Theo thống kê ở các thành phố lớn hiện nay tỉ lệ học sinh mắc tật cận thị
chiếm tỉ lệ 25-30%. Ngoài ra còn các bệnh, tật khác: cong vẹo cột sống,
bệnh răng miệng, giun sán… Bên cạnh đó cùng với sự phát triển của xã hội,
giới trẻ trong đó có không ít là học sinh, sinh viên có lối sống thực dụng, yêu
đương sớm, sống thử và đặc biệt tình trạng nạo phá thai ảnh hưởng nghiêm
phẩu, sinh lí.
Thông qua từng bài học của từng chương, giáo viên lồng ghép giáo dục
biện pháp giữ gìn vệ sinh và rèn luyện sức khỏe đối với từng cơ quan, hệ cơ
quan của cơ thể. Từ đó, giúp các em đề ra các biện pháp giữ gìn vệ sinh, bảo
vệ sức khỏe, phòng chống các loại bệnh tật học đường tương ứng.
Tuy nhiên trong quá trình nghiên cứu đề tài tôi nhận thấy :
- Về phía giáo viên:
+ Chưa nghiên cứu sâu khi dạy các bài vệ sinh.
+ Đa số giáo viên lựa chọn phương pháp vấn đáp thông thường khi dạy
các bài vệ sinh. Ví dụ như:
• Em hãy kể tên các bệnh về …….mà em biết ?
• Em hãy cho biết các tác nhân chủ yếu gây hại cho hệ ……….
• Em hãy nêu các biện pháp phòng chống bệnh cho hệ …………
Trang 4
Với các câu hỏi như thế học sinh có thể trả lời theo sách giáo khoa, chưa
phát huy được tính tích cực nên chưa khắc sâu kiến thức cho học sinh.
+ Phần “Câu hỏi và bài tập củng cố”, hay phần “Hướng dẫn học sinh tự
học” chưa giao bài tập rèn luyện vệ sinh.
+ Giáo viên truyền thụ kiến thức một chiều, thiếu sự kiểm tra, động viên,
uốn nắn thường xuyên, nên chưa giúp học tạo thành các thói quen, tập quán,
lối sống tốt.
- Về phía học sinh:
+ Chưa vận dụng đúng các biện pháp giữ gìn vệ sinh và rèn luyện sức
khỏe đã được học vào thực tiễn cuộc sống.
+ Thiếu rèn luyện thường xuyên các biện pháp giữ gìn vệ sinh và rèn luyện
sức khỏe để tạo thành những thói quen, tập quán tốt.
Như vậy, để đạt được hiệu quả tốt trong công tác giáo dục biện pháp giữ
gìn vệ sinh và rèn luyện sức khỏe qua môn sinh học 8 thì trong các bài dạy
giáo viên cần phải:
- Cập nhật các kiến thức về bệnh, tật học đường. Đặc biệt chú ý các bệnh,
hệ thống thị giác, cho hệ cơ xương, hệ thần kinh của trẻ. Song song với gánh
nặng học tập, điều kiện học tập của học sinh ở trường, ở nhà còn có nhiều
bất cập. Chiếu sáng không đảm bảo, bàn ghế không phù hợp càng làm tăng
thêm gánh nặng đối với cơ thể non yếu của các em.
* Khi dạy chương II. Vận động: chúng ta phải tìm hiểu kiến thức vệ sinh
về bệnh cong vẹo cột sống và phải trang bị cho học sinh các biện pháp
phòng chống các bệnh về cong vẹo cột sống và rèn luyện sức khỏe để hệ cơ
xương phát triển khỏe mạnh.
- Nguyên nhân: thường là do tư thế ngồi học không đúng, ngồi lệch
nghiêng một bên hoặc do xách cặp quá nặng lúc đi học. Một nguyên nhân
nữa là do bàn ghế học không đúng kích thước, độ chênh lệch giữa bàn ghế
quá nhiều khiến trẻ phải cúi khom người khi ngồi một thời gian dài, dẫn đến
gù, vẹo cột sống.
- Hậu quả: Trẻ bị vẹo cột sống sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển cơ thể, chậm
phát triển về chiều cao, về lâu dài có thể gây biến dạng khung ngực, khung
chậu, ảnh hưởng đến tim - phổi.
- Cách điều trị: Cần nhiều thời gian và phối hợp nhiều phương pháp: vật
lý trị liệu kết hợp thể dục liệu pháp (bơi lội, đu xà) và tùy theo mức độ nặng
nhẹ của độ cong vẹo cột sống mà có thể dùng áo nẹp cột sống để hỗ trợ hay
phải can thiệp phẫu thuật chỉnh hình.
- Biện pháp phòng ngừa: Giáo viên hướng dẫn ngồi học ngay ngắn, đúng
tư thế (ngồi thẳng lưng, 2 bàn chân đặt xuống sàn, hai khuỷu tay đặt thoải
Trang 6
mái trên mặt bàn, không rụt cổ, không để vở chéo 25 độ khi viết). Không
cho trẻ mang cặp quá nặng.
Một trong những nguyên nhân dẫn đến cong vẹo cột sống.
Ảnh chụp X- quang nạn nhân bị cong vẹo cột sống Không còn lo bị cong vẹo cột sống
Kiến thức về bệnh học đường chúng ta có thể tìm kiếm trên các trang web
học đường gây ra những hậu quả hết sức nghiêm trọng cho sức khỏe và
tương lai của các em.
Thông qua bài “Cơ sở khoa học của các biện pháp tránh thai” bên cạnh
việc trang bị kiến thức, giáo viên hết sức quan tâm đến việc giúp học sinh
vận dụng các kiến thức đã học vào đới sống hình thành các kĩ năng sống cho
bản thân như:
• Kĩ năng ra quyết định: Tự xác định cho mình một biện pháp tránh
thai.
• Kĩ năng từ chối: từ chối những lời rủ rê quan hệ tình dục sớm dẫn đến
mang thai ngoài ý muốn.
Trang 8
• Kĩ năng ứng phó với các tình huống ép buộc, dụ dỗ, lừa gạt quan hệ
tình dục.
Về mặt sinh học, hệ sinh dục của các em đang trên đà phát triển mạnh và
bắt đầu có khả năng sinh sản, những ham muốn về tình dục nảy sinh là điều
bình thường. Nhiều em bắt đầu khám phá khả năng tình dục của mình bằng
nhiều cách.
- Nguyên nhân: Hiện nay do tác động của nhiều yếu tố, trong đó có văn
hóa và dinh dưỡng, tuổi phát dục của con người ngày càng thấp. Nhiều em
bước vào đời sống tình dục khi còn rất trẻ. Lí do các em đưa ra để biện minh
cho hành vi quan hệ tình dục khi còn rất trẻ của mình là: tò mò muốn khám
phá, thử nghiệm những điều mới lạ, do áp lực từ phía bạn trai/gái, bạn bè lôi
kéo, ảnh hưởng của sách báo, phim ảnh,
- Những hệ quả của việc quan hệ tình dục ở tuổi vị thành niên:
• Nguy cơ mang thai ngoài ý muốn
• Lây nhiễm các bệnh qua đường tình dục, mặc cảm vì mất trinh tiết…
là những gì vị thành niên, nhất là các bạn gái có thể gặp phải.
• Khi đã mang thai ngoài ý muốn, các em gái sẽ phải đứng trước hai sự
lựa chọn, hoặc là phải cưới ngay, hoặc là phải phá thai. Nếu giữ thai
lại và cưới, các “ bà mẹ trẻ” có thể gặp nguy cơ: nhiễm độ thai nghén,
đáp trong phần dạy kiến thức về vệ sinh sẽ giúp chúng ta giải quyết việc sử
Trang 10
dụng phương pháp vấn đáp đơn thuần bằng việc lặp lại nhiều lần các câu hỏi
quen thuộc gây nhàm chán. Từ đó khắc sâu kiến thức cho học sinh, cũng
như rèn được kĩ năng ra quyết định vận dụng các biện pháp vệ sinh vào cuộc
sống giúp học sinh hình thành các thói quen, tập quán nếp sống tốt, có lợi
cho bản thân.
Để có thể cung cấp tranh ảnh, tư liệu cho học sinh quan sát, chúng ta phải
sưu tầm hoặc chụp hình, quay phim tạo tranh ảnh, tư liệu về các chủ đề có
liên quan đến nội dung các bài, các chương đang giảng dạy.
* Ví dụ khi dạy về bài “ Vệ sinh mắt”:
- Giáo viên chiếu tranh ảnh hoặc treo tranh ảnh về tình trạng cận thị
học đường hiện nay:
- Giáo viên hỏi học sinh: Em hãy nêu nhận định gì về tình trạng cận thị
học đường hiện nay ?
- Chiếu hoặc treo tranh các hình ảnh về nguyên nhân có thể dẫn đến cận
thị :
Trang 11
- Từ nguồn tranh giáo viên cung cấp học sinh có thể dễ dàng nêu được
các nguyên nhân chủ yếu hiện nay gây tật cận thị ở học sinh. Khi xác
định được nguyên nhân, thì cứ nguyên nhân nào ứng với biện pháp ấy,
giáo viên hình thành cho học sinh các kĩ năng xây dựng các biện pháp
phòng chống tật cận thị học đường.
* Đối với bài “ Vệ sinh hệ vận động”: Giáo viên cung cấp cho học
sinh các tranh ảnh về bệnh cong vẹo cột sống, phong trào tập thể dục thể
thao ở trường học, công viên, gia đình… tăng động cơ ham thích luyện
tập thể dục thể thao của học sinh.
Trang 12
* Đối với bài “Vệ sinh da”: giáo viên cần cung cấp tranh ảnh cho học
sinh các bệnh về da, tranh ảnh tai nạn do bị bỏng do điện, nước sôi… giúp
Trang 14
Bao cao su Viên thuốc tránh thai khẩn cấp
Giáo viên yêu cầu học sinh làm bài tập trên phiếu, tổ chức sửa sai, hoàn
chỉnh theo mẫu sau:
Cách ngăn
có thai
Phương tiện
sử dụng
Ưu điểm Nhược điểm
Ngăn không
cho trứng
1. Thuốc viên
tránh thai
- Hiệu quả tránh thai cao
từ 92-99%
- Dễ dùng
- Hằng ngày phải
nhớ uống thuốc
vào giờ nhất định.
- Có thể gây một
số tác dụng phụ
2. Viên thuốc
tránh thai
khẩn cấp
Có tác dụng trong vòng
72 giờ, ngay sau khi
quan hệ tình dục
Thuốc có một số
phản ứng phụ,
khoảng 95%, lâu dài ( 4-
6 năm)
- Tiện lợi, đặt vòng tháo
vòng dễ dàng
- Có thể gây đau
bụng, chảy máu
và rơi vòng.
- Chỉ tránh được
chửa trong tử
cung.
Giáo viên nêu câu hỏi: Là học sinh, em cần phải làm gì để tránh mang thai
ngoài ý muốn hoặc tránh phải nạo phá thai ?
Học sinh thông qua thảo luận phải hình thành được các kĩ năng từ chối, kĩ
năng ứng phó bằng các dự kiến hành động về cách sống, cách quan hệ tình
dục:
• Tránh quan hệ tình dục ở lứa tuổi học sinh, giữ gìn tình bạn trong
sáng lành mạnh để không ảnh hưởng đến sức khỏe sinh sản, học tập
và hạnh phúc gia đình tương lai.
• Không đến những nơi không an toàn, vắng vẻ. Kịp thời báo lại cho
gia đình, thầy cô về những vấn đề các em gặp phải như: có người có ý
định dụ dỗ, cưỡng bức
• Hoặc phải bảo đảm an toàn tình dục bằng sử dụng bao cao su.
c. Phương pháp giao cho học sinh các bài tập thực hành ở nhà và tăng
cường kiểm tra đánh giá.
Các bài tập giúp cho học sinh vận dụng các kiến thức vào thực tiễn. Vì
vậy, hình thành cho học sinh các kĩ năng vận dụng biện pháp vệ sinh rèn
luyện sức khỏe trong đời sống, hình thành thói quen, tập quán lối sống
tốt.
Để thực hiện tốt phương pháp này, giáo viên phải chuẩn bị kỹ nội dung
Khi dạy bài “ Vệ sinh hệ thần kinh” giáo viên cần rèn cho học sinh kĩ năng
ứng phó với tình huống bằng cách giao bài tập về nhà như sau:
• Em có biết người ta thường dùng những cách nào để dụ dỗ trẻ em
tiêm chích ma túy hay không ?
• Nếu có người có ý định dụ dỗ em sử dụng ma túy, em sẽ xử lí tình
huống đó như thế nào ?
- Hệ sinh sản: Vệ sinh cơ quan sinh dục sạch sẽ, giữ gìn tình bạn trong
sáng, có lối sống lành mạnh, tích cực học tập, tham gia thể dục thể thao
hằng ngày đều đặn.
Để giáo dục có hiệu quả các biện pháp vệ sinh và rèn luyện sức khỏe thì
bên cạnh việc trang bị các biện pháp cho học sinh giáo viên cần phải
Trang 17
thường xuyên kiểm tra, đánh giá sự tiến bộ, kịp thời động viên nhắc nhở
thường xuyên nhằm giúp học sinh hình thành đươc các thói quen tốt.
Kiểm tra đánh giá không phải là một vấn đề mới nhưng đa số giáo viên
khi dạy học phần kiến thức về vệ sinh chưa thực sự quan tâm tới vấn đề
này. Việc kiểm tra đánh giá còn mang tính chiếu lệ, hời hợt không kích
thích khả năng thường xuyên luyện tập, vận dụng các biện pháp vệ sinh
vào cuộc sống. Đặc biệt trong quá trình dạy học các kiến thức về vệ sinh
nếu chúng ta có trang bị kiến thức về các biện pháp vệ sinh đầy đủ, khoa
học đến đâu mà học sinh không vận dụng vào thực tiễn hay không
thường xuyên rèn luyện theo các biện pháp đã đề ra thì hiệu quả giáo dục
xem như không đạt được gì. Đó cũng là một trongg những lí do mà lâu
nay chúng ta vẫn truyền đạt kiến thức đầy đủ theo chuẩn kiến thức và kĩ
năng nhưng hiện tại học sinh không vận dụng được nhiều, các em vẫn
còn nhiều thói quen xấu trong vệ sinh, sinh hoạt ảnh hưởng không tốt đến
sức khỏe.
Quả đúng như vậy “ Học phải đi đôi với hành’ học sinh sau khi được
học các kiến thức về vệ sinh bằng nhiều phương pháp trực quan, vấn
đáp…thì yêu cầu các em phải vận dụng các kiền thức ấy qua bài tập về
Để kiểm tra đánh giá về hiệu quả giảng dạy chương “Sinh sản” thật khó
khăn vì đây là vấn đề hết sức tế nhị, là giáo viên dạy bộ môn sinh học cần
quan tâm nhiều hơn đền sự phát triển tâm sinh lí, lối sống của các em. Nếu
phát hiện có gì bất thường, lệch lạc để kịp thời giúp đỡ các em. Hãy tạo
niềm tin, để các em thật sự an tâm chia sẽ khi các em cần thiết. Giáo viên có
thể cho bài tập về nhà:
• Em hãy trình bày suy nghĩ của mình về quan hệ tình dục và lối sống
thử của giới trẻ hiện nay ?
• Bản thân em phải làm gì để để đảm bảo sức khỏe sinh sản vị thành
niên ?
Hiệu quả giáo dục đối với chương “ Sinh sản” không chỉ dừng lại ở các bài
học trong chương trình mà cần phải có sự kết hợp với Ban hoạt động ngoài
giờ lên lớp mở các buổi ngoại khóa trao đổi nói chuyện chuyên đề về sức
khỏe sinh sản, nhằm nâng cao nhận thức của các em về vấn đề nhạy cảm
này.
3.3. Kết quả so sánh:
Các bước thực hiện Chưa áp dụng Áp dụng –hiệu quả
1. Cập nhật các kiến
thức về bệnh và tật học
đường có liên quan .
Kiến thức hạn chế,
không nắm được tình
hình thực tế, gò bó theo
thông tin từ sgk.
Cung cấp kiến thức
phong phú hơn, cập
nhật kịp thời các bệnh
tật học đường có liên
quan từng chương.
2. Sử dụng phương
chương. Hình thành
được nhiều thói quen, kĩ
năng sống tốt cho học
sinh.
* Số liệu cụ thể :
Lớp áp dụng giải pháp mới Lớp không áp dụng giải pháp mới
( Do giáo viên khác dạy)
Điểm TBM từ 5
điểm trở lên
Tỉ lệ Điểm TBM từ 5
điểm trở lên
Tỉ lệ
37/37 100% 28/37 75,7%
C. KẾT LUẬN:
1. Bài học kinh nghiệm:
Để góp phần thực hiện mục tiêu đào tạo học sinh thành những con người
phát triển toàn diện, người giáo viên phải thật sự tâm huyết với nghề. Đối
với người giáo viên giảng dạy môn sinh học 8 cần phải thực hiện tốt các
bước sau đây:
- Khâu chuẩn bị: Đọc bài, nghiên cứu tài liệu có liên quan từ các sách
chuyên môn và báo chí, các trang web
- Cập nhật thông tin mới có liên quan, sưu tầm những hình ảnh số liệu có
thể cung cấp cho học sinh cho bài học thêm sinh động, hấp dẫn đối với học
sinh.
- Thiết kế tiết dạy: Nếu có thể các tiết học về các bài vệ sinh nên sử dụng
công nghệ thông tin để soạn giảng.
Trang 20
- Phải luôn chú ý ưu tiên sử dụng phương trực quan, thực hành đồng thời
kết hợp với phương pháp vấn đáp.
- Áp dụng nguyên tắc “Học đi đôi với hành”. Sau phần truyền thụ kiến