Biện pháp giữ gìn vệ sinh môi trường cho sinh viên ký túc xá Học viện Quản lý giáo dục - Pdf 29

HỌC VIỆN QUẢN LÝ GIÁO DỤC
KHOA GIÁO DỤC
_____________

______________
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN
BIÖN PH¸P GI¸O DôC VÖ SINH M¤I TR¦êNG
CHO SINH VI£N Ký TóC X¸ HäC VIÖN QU¶N Lý GI¸O DôC
Mã số:
Giảng viên hướng dẫn
ThS. Ngô Thị Thùy Dương
Chủ nhiệm đề tài
Khúc Thị Nhung
Xác nhận của cơ quan chủ trì đề tài
(ký, họ tên, đóng dấu)
Hà Nội, 4/2015
DANH SÁCH THÀNH VIÊN THAM GIA NGHIÊN CỨU
1. Trần Thị Khai
2. Ngô Thị Nga
3. Nguyễn Thị Thu Uyên
ĐƠN VỊ PHỐI HỢP CHÍNH
1. Học viện Quản lí Giáo dục – 31 Phan Đình Giót – Thanh Xuân – Hà
Nội
2. Sinh viên ký túc xá Học viện Quản lý giáo dục
THÔNG TIN VỀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
1. Thông tin chung:
- Tên đề tài: Biện pháp giữ gìn vệ sinh môi trường cho sinh viên ký túc xá Học
viện Quản lý giáo dục
- Mã số:
- Chủ nhiệm: Khúc Thị Nhung

bạn SV trong KTX đã nhiệt tình giúp đỡ chúng tôi trong việc khảo sát, thu thập tài
liệu cần thiết phục vụ cho quá trình nghiên cứu.
Chúng tôi xin cảm ơn Ban lãnh đạo HVQLGD cùng tập thể cán bộ, giảng
viên đã tạo điều kiện tốt nhất về mặt thời gian và công việc để nhóm nghiên cứu
chúng tôi hoàn thành đề tài nghiên cứu khoa học này.
Đồng thời chúng tôi cũng gửi lời cảm ơn đến trung tâm thư viện HVQLGD
đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi nhất cho chúng tôi thu thập và tham khảo tài
liệu trong suốt quá trình làm đề tài sinh việc nghiên cứu khoa học.
Tuy đã dành nhiều thời gian và tâm huyết cho đề tài nghiên cứu khoa học,
nhưng do kiến thức và kĩ năng còn hạn chế nên đề tài này của chúng tôi còn nhiều
thiếu sót. Kính mong nhận được sự góp ý của các thầy cô và các bạn để đề tài của
chúng tôi có thể hoàn thiện hơn.
Chúng tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 21/04/2015
Nhóm sinh viên khoa Giáo dục
Trần Thị Khai
Ngô Thị Nga
Khúc Thị Nhung(CNĐT)
Nguyễn Thị Thu Uyên
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Mục đích nghiên cứu 3
3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu 3
4. Phạm vi nghiên cứu 3
5. Phương pháp nghiên cứu 3
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ GIÁO DỤC VỆ SINH MÔI
TRƯỜNG KÝ TÚC XÁ CHO SINH VIÊN 4
1.1 Cơ sở lý luận của vấn đề vệ sinh môi trường 4
1.1.1 Những lí thuyết liên quan về môi trường 4

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1: Đánh giá tình hình vệ sinh môi trường KTX HVQLGD hiện nay
Hình 1: Thực trạng ý kiến đánh gia của SV về tình hình môi trường KTX
Bảng 2: Thực trạng vệ sinh môi trường KTX
Bảng 3: Những yếu tố ảnh hưởng tới vấn đề VSMT KTX
Bảng 4: Kết quả khảo sát về phản ứng của sinh viên khi thấy sinh viên khác có
những hành vi làm mất vệ sinh môi trường KTX
Bảng 5: Tần suất tổ chức các buổi vệ sinh của kTX trong 6 tháng gần đây
Bảng 6: Hiệu quả các buổi tổng vệ sinh môi trường KTX
Bảng 7: Những ảnh hưởng của vấn đề mất vệ sinh đối với sinh viên KTX

Hình 2: Đánh giá ảnh hưởng của vấn đề mất vệ sinh môi trường KTX tới sinh
viên KTX
Bảng 8: Những ảnh hưởng của vấn đề mất vệ sinh đối với Học viện

Hình 3 : Đánh giá ảnh hưởng của vấn đề mất vệ sinh môi trường KTX tới Học
viện
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
STT Từ viết tắt Từ viết đầy đủ
1 BQL Ban quản lý
2 BTQ Ban tự quản
3 CBQLGD Cán bộ quản lý giáo dục
4 ĐH – CĐ Đại học – cao đẳng
5 GD – ĐT Giáo dục – Đào tạo
6 GD VS MT Giáo dục vệ sinh môi trường
7 MT Môi trường
8 SV Sinh viên
9 STT Số thứ tự
10 KTX Kí túc xá

KTX của Trường Đại học Bách khoa thành phố Hồ Chí Minh được xem là
KTX hiện đại nhất Việt Nam. Được thiết kế như chung cư cao cấp 12 tầng, trang bị
đầy đủ tiện nghi với mức phí 250.000 đồng mỗi tháng. Tổng diện tích xây dựng
khoảng 38.000 m² với kinh phí đầu tư hơn 120 tỷ đồng. Toàn bộ tòa nhà được thiết
kế theo hình chữ U, ở giữa có khuôn viên và ghế đá kết hợp với cây xanh. Bãi giữ
xe tự động là một tầng hầm có diện tích 5.000 m² sử dụng thẻ cảm ứng để quản lý.
Có 307 phòng dành cho sinh viên Việt Nam, tổng sức chứa là 2.456 người, được
1
trang bị giường tầng, tủ sách, bàn học, ghế ngồi bàn vi tính riêng cho từng sinh
viên. Hệ thống nhà VS, phòng tắm sân phơi quần áo khép kín trong phòng ở. Ngoài
ra, KTX còn có 20 phòng ở tầng 11 dành cho sinh viên nước ngoài với sức chứa là
80 người, đầy đủ tiện nghi. Ở tầng trên, cũng với số phòng đó của là nơi dành cho
khách và các giáo sư đến giảng dạy, được trang bị và phục vụ giống như một khách
sạn 3 sao. Mỗi tầng của sinh viên đều có phòng sinh hoạt chung để sinh viên có thể
họp nhóm, hội họp, xem truyền hình cáp.
Tuy vậy tại Hà Nội, KTX là nơi ở mơ ước của nhiều sinh viên nhưng những
sinh viên được ở trong KTX đôi khi cũng không sung sướng khi phải sống chung
với chuột. Tại Huế, có KTX với hơn 70 phòng với trên 800 sinh viên cư trú đang
xuống cấp trầm trọng. Có phòng 25 m² nhưng có tới 12 sinh viên cùng ở. Nhiều
giường gỗ mục ruỗng, cửa hoen gỉ, tường vôi cũ kỹ. Phòng ở quá chật chội, bức bí,
thiếu ánh sáng, mùa hè thì oi bức, ngột ngạt, mùa mưa thì ẩm thấp. Phòng vệ sinh
dùng chung lẫn đồ nấu ăn và áo quần trông rất nhếch nhác. Điện, nước, phòng vệ
sinh đều xập xệ xuống cấp.
Học viện quản lý giáo dục là trường đầu ngành về khoa học quản lý giáo
dục trong hệ thống các trường đại học Việt Nam. Và KTX HVQLGD là nơi sinh
hoạt, học tập, rèn luyện của hơn 200 sinh viên với những sự khác biệt về văn hóa,
vùng miền, điều kiện, hoàn cảnh xuất thân, giới tính, trình độ, nhận thức nên rất
phức tạp. Cũng trong tình trạng chung với nhiều trường CĐ – ĐH trên cả nước,
KTX HVQLGD tuy đã được quan tâm đầu tư nhưng thực tế còn rất nhiều khó khăn.
Đặc biệt là vấn đề vệ sinh môi trường trong khu KTX còn rất nhiều tồn tại và bất

4.1 Đối tượng nghiên cứu: Giáo dục vệ sinh môi trường cho sinh viên
KTX HVQLGD
4.2 Khách thể nghiên cứu: Qúa trình giáo dục
5. Phương pháp nghiên cứu.
5.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận
5.2. Các phương phương pháp nghiên cứu thực tiễn
5.3. Phương pháp quan sát.
5.2.3. Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi.
5.2.4. Phương pháp phỏng vấn.
5.2.5. Phương pháp xin ý kiến chuyên gia.
5.4. Phương pháp nghiên cứu hỗ trợ.
3
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ GIÁO DỤC VỆ SINH MÔI TRƯỜNG
KÝ TÚC XÁ CHO SINH VIÊN
1.1 Cơ sở lý luận của vấn đề vệ sinh môi trường
1.1.1 Những lí thuyết liên quan về môi trường
1.1.1.1. Môi trường
a) Khái niệm môi trường
Đến nay, có rất nhiều khái niệm khác nhau về môi trường
Theo định nghĩa của UNESCO (1981) thì môi trường của con nguời bao gồm
toàn bộ các hệ thống tự nhiên và các hệ thống do con người tạo ra, những cái hữu
hình và những cái vô hình ( tập quán, niềm tin…) trong đó con người sống và lao
động, họ khai thác tài nguyên thiên nhiên và nhân tạo nhằm thỏa mãn những nhu
cầu của mình. Như vậy, môi trường sống của con người theo định nghĩa rộng là tất
cả các nhân tố tự nhiên và nhân tố xã hội cần thiết cho sự sinh sống, sản xuất của
con người như tài nguyên thiên nhiên, không khí, đất nước ánh sáng, cảnh quan,
quan hệ xã hội…Với nghĩa hẹp, môi trường sống của con người chỉ bao gồm các
yếu tố tự nhiên và yếu tố xã hội trực tiếp liên quan tới chất lượng cuộc sống của con
người như số m2 nhà ở, chất lượng bữa ăn hằng ngày, nước sạch, điều kiện vui chơi

yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời
sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật”.
b) Phân loại môi trường
Môi trường sống của con người thường được phân chia thành:
Môi trường tự nhiên: gồm các nhân tố thiên nhiên như vật lý, hóa học, sinh
học, tồn tại ngoài ý muốn của con người nhưng cũng ít nhiều chịu tác động của con
người. Đó là ánh sáng Mặt Trời, núi, sông, biển cả không khí, động và thực vật, đất
và nước,….Môi trường tự nhiên cho ta không khí để thở, đất để xây nhà cửa, trồng
cấy và chăn nuôi, cung cấp cho con người các loại tài nguyên khoáng sản phục vụ
sản xuất và tiêu dùng.
Môi trường xã hội: là tổng thể các mối quan hệ giữa con người với con
người. Đó là luật lệ, thể chế, cam kết, quy định ở các cấp khác nhau. Môi trường xã
hội định hướng hoạt động của con người theo một khuôn khổ nhất định, tạo nên sức
5
mạnh tập thể thuận lợi cho sự phát triển, làm cho cuộc sống của con người khác với
các sinh vật khác.
Ngoài ra, còn có khái niệm môi trường nhân tạo, bao gồm tất cả các nhân tố
do con người tạo nên hoặc biến đổi theo, làm thành những tiện nghi trong cuộc sống
như ôtô, máy bay, nhà ở, công sở, các khu đô thị, công viên….
Các dạng tài nguyên và môi trường phản ánh các mối quan hệ của con người
với môi trường sống trên nhiều mặt:
Các mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên.
Các mối quan hệ giữa con người với con người.
Các mối quan hệ giữa con người với kinh tế.
Các mối quan hệ giữa con người với các thiết chế xã hội
Môi trường có tác động và ảnh hưởng lên con người như một tổng thể các
yếu tố, trong đó các thành tố hòa quyện vào nhau tạo nên những hợp lực, những tác
động tổng hợp. Điều này cần được chú ý đầy đủ trong khi phân tích các mối quan
hệ giữa môi trường với các quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội.
1.1.1.2. Giáo dục môi trường

Theo “Tuyên bố Tbilisi”, 1978 đã đưa ra các nguyên tắc giáo dục vệ sinh
môi trường như sau:
1. Xem xét môi trường trong tổng thể của nó môi trường tự nhiên và nhân
tạo, môi trường công nghệ và xã hội (kinh tế, chính trị, lịch sử văn hóa, đạo đức,
thẩm mỹ);
2. Là một quá trình liên tục suốt đời, bắt đầu từ cấp học mần non và tiếp diễn
thông qua những giai đoạn chính thức và không chính thức;
3. Mang tính liên thông giữa các môn học trong mọi cách đặt vấn đề, lấy nội
dung cụ thể ở từng môn học nhằm đạt đến một triển vọng hài hòa;
4. Khảo sát những vấn đề môi trường chủ yếu từ quan điểm địa phương,
quốc gia, khu vực và quốc tế để người học có thể hiểu rõ bản chất của các điều kiện
môi trường trong những điều kiện địa lý khác nhau;
5. Tập trung vào những tình huống môi trường đang tiềm tàng hiện nay,
đồng thời tính đến cả những viễn cảnh lịch sử;
7
6. Đề cao các giá trị, sự cần thiết của quá trình hợp tác địa phương, quốc gia
và quốc tế trong việc ngăn chặn và tìm giải pháp đối với các sự cố môi trường;
7. Xem xét kỹ lưỡng các khía cạnh về môi trường trong mọi kế hoạch tăng
trưởng và phát triển;
8. Tạo điều kiện cho người có học một vai trò trong việc hoạch định kinh
nghiệm học tập của mình, cho họ cơ hội ra quyết định và chịu trách nhiệm;
9. Nên gắn sự nhạy cảm, nhận thức về môi trường, các kỹ năng giải quyết
vấn đề, các giá trị đối với từng độ tuổi; đặc biệt trong những năm đầu nên nhấn
mạnh sự nhạy cảm môi trường trong cộng đồng của cá nhân người học;
10. Giúp người học phát hiện những dấu hiệu và nguyên nhân thực sự của
các sự cố môi trường;
11. Nhấn mạnh tính phức tạp của các vấn đề môi trường, từ đó cần hình
thành lối suy nghĩ phân tích, phán xét và kỹ năng giải quyết vấn đề;
12. Tận dụng các môi trường học tập đa dạng và các cách đặt vấn đề đối với
việc dạy và học về môi trường thông qua môi trường, trong đó nhấn mạnh các hoạt

Có quan điểm cho rằng: “Chỉ khi nào chủ thể ý thức được giáo dục môi
trường là giáo dục vì môi trường thì giáo dục môi trường mới thực sự diễn ra”
Vì vậy “Giáo dục trong và về môi trường chỉ có giá trị khi chúng được sử
dụng để cung cấp những kĩ năng và kiến thức nhằm hỗ trợ cho giáo dục vì môi
trường”[5].
Trong thực tế, một trong những hạn chế của giáo dục môi trường ở Việt Nam
vừa qua cho thấy, chủ yếu tập trung vào giảng dạy dựa vào những vấn đề môi
trường (giáo dục về môi trường). Hình thức này mới chỉ dừng lại ở chỗ giúp cho
người học đạt được những kĩ năng, và kiến thức, mà giá trị và thái độ ít được lưu
tâm (yêu cầu của giáo dục vì môi trường).
Rõ ràng để để đạt mục tiêu giáo dục môi trường đề ra, định hướng giáo dục
vì môi trường cần được thể hiện rõ hơn.
* Giáo dục vì môi trường
Giáo dục vì MT xây dựng trên nề của GD về và trong MT. Phát triển quan
niệm vì MT, xây dựng và phát triển một nền đạo đức MT. Xây dựng động cơ vè kỹ
năng tham gia trong việc cải thiện MT, đồng thời có những cách sống và sinh hoạt
cộng đồng tương đồng cho việc cải thiện và bảo vệ MT.
9
Như vậy, những vấn đề nêu ra ở trên ta mới chỉ xét tự giáo dục môi trường
như là một đơn vị giáo dục độc lập.
1.1.1.3. Bảo vệ môi trường
a) Khái niệm
Bảo vệ môi trường là hoạt động giữ cho môi trường trong lành, sạch đẹp;
phòng ngừa, hạn chế tác động xấu đối với môi trường; ứng phó sự cố môi trường,
khắc phục ô nhiễm, suy thoái, phục hồi và cải thiện môi trường; khai thác và sử
dụng hợp lí, tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ đa dạng sinh học.
b) Nguyên tắc bảo vệ môi trường
- Nguyên tắc bảo đảm các quyền của con người trong lĩnh vực bảo vệ môi
trường, trong đó đặc biệt chú ý đến quyền của người dân được sống trong môi
trường trong lành; quyền được thông tin về tình hình, chất lượng môi trường nơi

thường cho người bị thiệt hại.
c) Biện pháp bảo vệ môi trường
Bảo vệ môi trường có thể được thực hiện bằng nhiều biện pháp sau:
- Biện pháp mang tính tổ chức - chính trị: Đảng cộng sản Việt Nam luôn
quan tâm đến công tác bảo vệ môi trường. Đảng đề ra chủ trương, đường lối để lãnh
đạo công tác bảo vệ môi trường.
+ Bảo vệ môi trường là một trong những vấn đề sống còn của nhân loại; là
nhân tố bảo đảm sức khỏe và chất lượng cuộc sống của nhân dân; góp phần quan
trọng vào việc phát triển kinh tế - xã hội, ổn định chính trị, an ninh quốc phòng và
thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta.
+ Bảo vệ môi trường vừa là mục tiêu, vừa là một trong những nội dung cơ
bản của phát triển bền vững, phải được thể hiện trong các chiến lược, quy hoạch, kế
hoạch, dự án phát triển kinh tế - xã hội của từng ngành và từng địa phương. Khắc
phục tư tưởng chỉ chú trọng phát triển kinh tế - xã hội mà coi nhẹ bảo vệ môi
trường. Đầu tư cho bảo vệ môi trường là đầu tư cho phát triển bền vững.
+ Bảo vệ môi trường là quyền lợi và nghĩa vụ của mọi tổ chức, mọi gia đình
và của mỗi người, là biểu hiện của nếp sống văn hóa, đạo đức, là tiêu chí quan trọng
11
của xã hội văn minh và là sự nối tiếp truyền thống yêu thiên nhiên, sống hài hòa với
tự nhiên của cha ông ta.
+ Bảo vệ môi trường phải theo phương châm lấy phòng ngừa và hạn chế tác
động xấu đối với môi trường là chính kết hợp với xử lý ô nhiễm, khắc phục suy
thoái, cải thiện môi trường và bảo tồn thiên nhiên; kết hợp giữa sự đầu tư của Nhà
nước với đẩy mạnh huy động nguồn lực trong xã hội và mở rộng hợp tác quốc tế;
kết hợp giữa công nghệ hiện đại với các phương pháp truyền thống.
- Biện pháp tuyên truyền, giáo dục, nâng cao ý thức bảo vệ môi trường trong
dân chúng: tuyên truyền công tác bảo vệ môi trường trên các phương tiện thông tin
đại chúng; phát động các phong trào “Xanh - Sạch - Đẹp”; kỉ niệm ngày Môi trường
Thế giới 5/6; khuyến khích các cộng đồng dân cư phát huy tập tục tốt đẹp về bảo vệ
môi trường; xây dựng hương ước bảo đảm vệ sinh môi trường

Quản lý là một dạng hoạt động đặc biệt quan trong của con người, chứa đựng
nội dung rộng lớn, đa dạng, phức tạp và luôn vận động, biến đổi và phát triển. Xung
quanh khái niệm về quản lý có rất nhiều cách tiếp cận khác nhau.
Tùy theo từng tác giả muốn nhấn mạnh khía cạnh này hay khía cạnh khác
của quản lý để đưa ra khái niệm. Các cách đó đều có điểm chung là đề cập đến sự
tương tác giữa những người trong tổ chức nhằm hướng tới mục tiêu nhất định.
Một số định nghĩa về quản lý:
Theo F.W Taylor (1856 -1915) cho rằng: “Quản lý là hoàn thành công việc
của mình thông qua người khác và biết được một cách chính xác họ đã hoàn thành
công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất.[ ]
Theo H. Fayor ( 1886 -1925) : “ Quản lý chính là dự đoán, lập kế hoạch, tổ
chức, điều khiển, phối hợp và kiểm tra.”[ ]
Rõ ràng, các cách tiếp cận đều có điểm chung, thống nhất ở một mức độ nhất
định. Một cách khái quát về khái niệm QL: “QL là sự tác động hợp quy luật, có chủ
đích, có định hướng của chủ thể QL tới đối tượng QL nhằm đạt được mục tiêu mà
tổ chức đã đề ra”.[ ]
1.1.2.3. Khái niệm ký túc xá
- Kí túc xá (dormitory) là khu khuôn viên của trường Cao đẳng – Đại học, cùng
nằm chung hoặc có thể cách xa trường một khoảng cách ngắn và có thể ở trên
13
cùng một diện tích là các học viện, thư viện, các sân chơi thể thao, các hội thể
thao, các khu nhà ở…( Nguồn Internet).
- “ Ký túc xá (cư xá) là những công trình, tòa nhà được xây dựng để dành cho
việc giải quyết nhu cầu về chỗ ở, tá túc cho các sinh viên của các trường Đại
học, cao đẳng, Trung học chuyên nghiệp.
- Những sinh viên ở ký túc xá thường là sinh viên xa nhà, xa quê hoặc gặp hoàn
cảnh khó khăn và có nguyện vọng được ở tại ký túc xá, một số ký túc xá dành
cho các sinh viên nội trú.
- Ký túc xá thường được xây dựng trong một khuôn viên tương đối độc lập và
thiết kế theo dạng nhà ở tập thể với nhiều phòng và nhiều giường trong một

Đoàn, Hội SV trong công tác HSSV và các mặt công tác khác của trường.
Tổ chức các hoạt động chính trị, tư tưởng, đạo đức, nếp sống, giáo dục
truyền thống các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao, hoạt
động tự quản của HSSV.” [6]
1.2 Cơ sở thực tiễn của vấn đề nghiên cứu.
1.2.1 Tổng quan về Học viện Quản lý giáo dục
Học viện Quản lý giáo dục là một trường Đại học công lập là tiền thân là
Trường Cán bộ quản lý Giáo dục và Đào tạo được thành lập năm 1990, trên cơ sở
hợp nhất 3 Trường: Trường Cán bộ quản lí Giáo dục (thành lập năm 1976). Trường
Cán bộ quản lý Đại học, THCN và Dạy nghề và Trung tâm Nghiên cứu tổ chức
Quản lý và Kinh tế học Giáo dục ngày 03/04/2006 theo Quyết định số 501/QĐ –
TTg của Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng, trụ sở của Trường được đặt tại
phường Phương Liệt, quận Thanh Xuân, TP Hà Nội, Việt Nam.
Trường hiện đang tập trung đào tạo 5 chuyên ngành: Quản lý giáo dục, Tâm
lí học giáo dục, Giáo dục học, Kinh tế giáo dục, Công nghệ thông tin, đồng thời kết
hợp công tác nghiên cứu các đề tài, đề án về khoa học giáo dục. Đây được coi là
một trường đầu ngành về khoa học quản lý giáo dục trong hệ thống các trường đại
học Việt Nam.
Hiện Học viện Quản lý giáo dục đang đào tạo tiến sĩ và thạc sĩ chuyên
nghành Quản lý giáo dục.
Học viện Quản lý thực hiện các nhiệm vụ chính như sau:
15
a) Đào tạo, bồi dưỡng
Học viện QLGD là cơ sở giáo dục đại học trực thuộc Bộ giáo dục và đào tạo;
đào tạo trình độ đại học và thạc sĩ quản lý giáo dục (Quyết định số 501/QĐ -TTg
ngày 03 tháng 4 năm 2006 của Thủ tướng Chính phủ)
- Đào tạo ngắn hạn, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho
đội ngũ CBQLGD, công chức, viên chức của các cơ quan quản lý và các cơ sở GD
& ĐT trong hệ thống giáo dục quốc dân theo chuẩn quy định.
- Đào tạo trình độ thạc sỹ và cử nhân ngành Quản lý Giáo dục (gồm các

e) Thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của Điều lệ trường Đại
học, quy định của Pháp luật và các nhiệm vụ do cơ quan có thẩm quyền giao.
1.2.2 Tổng quan về tình hình KTX HVQLGD
Hiện nay, hầu hết các trường Đại học không chỉ quan tâm đến chất lượng
đào tạo mà còn rất quan tâm đến đời sống của sinh viên. Vì vậy, mỗi trường Đại
học đều có 1 khu KTX dành cho sinh viên.
Học viện Quản lý giáo dục từ khi thành lập trường cũng đã xây riêng một
khu KTX dành cho sinh viên đang theo học.
a) Cơ sở vật chất
Tổng diện tích Ký túc xá Học viện khoảng 800m2 trong đó khu để xe có diện
tích rộng khoảng 20 -30 m2.
KTX có khoảng sân rộng dành cho sinh viên của Học viện để học tập môn
Giáo dục Thể chất nói chung và dành cho sinh viên KTX vui chơi, giải trí nói riêng.
Có riêng một khu nhà ở dành cho sinh viên có sức chứa khoảng 300 sinh
viên, để tạo điều kiện về nhà ở cho những sinh viên thuộc diện chính sacgs cơ hoàn
cảnh khó khăn, vùng sâu vùng xa.
Số phòng được đưa vào sử dụng khoảng 40 phòng phòng ở, chia làm 4 tầng,
mỗi tầng có 10 phòng và mỗi tầng có 1 khu vệ sinh sinh hoạt chung.
Hàng năm, số lượng SV dao động 100 – 300 SV (chiếm khoảng 10 % tổng
số SV).
KTX có một ban quản lý KTX gồm 02 nhân viên và 01 nhân viên dọn vệ
sinh trong khu KTX.
17


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status