Bộ giáo dục v đo tạo Bộ y tế
Trờng đại học y h nội chuyên đề I
nghiên cứu hình ảnh học của u tế bo
thần kinh đệm hình sao
(astrocytoma)
đề ti
nghiên cứu đặc điểm lâm sng, chẩn đoán
hình ảnh v kết quả phẫu thuật u não tế bo hình sao
(astrocytoma) bán cầu đại não
chuyên ngnh: Phẫu thuật đại cơng
mã số: 3.01.21 Nghiên cứu sinh : Trần Chiến
Giáo viên hớng dẫn chuyên đề : PGS.Ts Nguyễn Duy Huề
Giáo viên hớng dẫn khoa học : Gs. Dơng Chạm Uyên 1
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Tế bào thần kinh đệm là một trong hai thành phần quan trọng hợp thành
hệ thần kinh trung ương, có khoảng từ 5 đến 10 tỉ tế bào trong hệ thần kinh
trung ương. Có nhiều loại u thần kinh đệm, nhưng chúng được chia làm 3
nhóm chính: u tế bào hình sao (Astrocytoma), u tế bào thần kinh đệm ít nhánh
(Oligodendroglioma) và u biểu mô ống nội tuỷ (Ependymoma)[3],[7].
U não tế bào sao(Astrocytoma) là một loại u thuộc tế bào thần kinh
đệm, về mô bệnh học được chia làm nhi
ều loại khác nhau từ lành tính đến ác
tính cao, là loại u gặp hàng đầu của u não: u não có 2/3 là u tiên phát, trong đó
hơn 1/2 là u thần kinh đệm, khoảng 3/4 u thần kinh đệm là u thần kinh đệm tế
bào hình sao, và hơn 3/4 của các u thần kinh đệm hình sao là u tế bào hình sao
giảm biệt hoá (anaplastic astrocytoma) và u nguyên bào thần kinh đệm đa
hình (glioblastoma multiforme) [7].
Lâm sàng u thần kinh đệm hình sao cũng nằm trong bệnh cảnh u não
nói chung, là tăng áp lực nội sọ và dấu hiệu định khu, không có triệu chứng
đặc hiệu [2],[3].
Do đó ch
ẩn đoán hình ảnh có vai trò hết sức quan trọng trong chẩn
đoán, phân loại u, vị trí u, tính chất u, từ đó giúp bác sĩ chuyên khoa đưa ra
các phương pháp chỉ định điều trị phù hợp, đặc biệt trong phẫu thuật loại
bỏ u.
Để cung cấp thông tin về hình ảnh học u não tế bào hình sao cho luận
án “Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, chẩn đoán hình ảnh và kết quả phẫu
thuật u não tế bào hình sao (Astrocytoma) bán cầu
đại não”, chúng tôi tiến
hành nghiên cứu về phân loại cũng như đặc điểm hình ảnh u thần kinh đệm tế
ế bào đệm lợp ống nội tủy - Ependymoma (độ II), bao gồm:
U tế bào đệm lợp ống nội tủy
3
U nhú tế bào đệm lợp ống nội tủy
U tế bào đệm lợp ống nội tủy mật độ thấp
U tế bào đệm lợp ống nội tủy thể rải rác (tanicytique)
- U tế bào đệm lợp ống nội tủy không biệt hóa (độ III)
- U nhú màng nhầy tế bào đệm lợp ống nội tủy
- U dưới biểu mô ống nội tủy
Các u đám rối màng mạch (plexus choroid)
- U nhú
đám rối màng mạch
- Carcinom đám rối màng mạch
Các u tế bào thần kinh đệm không rõ nguồn gốc
- U nguyên bào đệm hình sao (astroblastoma)
- U tế bào thần kinh đệm của não
- U thần kinh đệm đám rối màng mạch não thất III
Các khối u neuron và u hỗn hợp neuron - thần kinh đệm
- U hạch thần kinh (gangliocytoma)
- U hạch thần kinh tiểu não không biệt hóa (bệnh Lhermitte - Duclos)
- Astrocytoma/ ganlioglioma thể hợp bào ở trẻ em
- U biểu mô neuron không biệt hóa phôi thai
- U tế bào đệm hạch thần kinh (ganlioglioma)
- U tế
bào đệm hạch thần kinh không biệt hóa
- Neurocytoma thần kinh trung ương
- Liponeurocytoma tiểu não
- U tế bào đệm phó hạch thần kinh
Các khối u nguyên bào thần kinh (Neuroblastoma)
5
Các khối u màng não( Meningioma)
- U màng não (Meningioma)
- U màng não không điển hình ( Atypical meningioma)
- U màng não ác tính (Anablastic/ malignant meningioma)
- U hợp bào màng não
- U trung mô không phải hợp bào màng não
- U không rõ nguồn gốc
U lympho bào và u các cơ quan tạo máu
- U lympho ác tính
- U tương bào (plasmacytoma)
- U bạch cầu hạt (Granulocytic sarcoma)
Các khối u tế bào mần (Germ cell tumour)
- U tế bào mần (Germinoma)
- Ung thư biểu mô nguồn gốc phôi thai (Embryonal carcinoma)
- U túi noãn hoàng ( Yolk sac tumour)
- Ung thư nguyên bào nuôi (Choriocarcinoma)
- U quái (Teratoma)
- U tế bào mần hỗn hợp
Các khối u vùng hố yên
- U sọ hầu (Craniopharynglioma)
- U tế bào hạt ( Granular cell)
- U tuyến yên (Pituicytoma)
- Spindle cell oncocytoma of the adenohypophysis
Các khối u di căn
6
3. ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG CỦA U NÃO TẾ BÀO HÌNH SAO
U não tế bào hình sao (Astrocytoma) là một loại u não tiên phát, u tế bào
giác như là các đồ vật quay xung quanh mình hoặc bệnh nhân quay xung
quanh các đồ vật.
Chóng mặt có thể đồng thời với nôn và buồn nôn, và cũng xuất hiện từng
cơn. Chóng mặt có hệ thống được xem như là triệu chứng đầu tiên của u não
ở não thất IV, góc cầu tiểu não, thuỳ giun tiểu não.
3.1.4 Thay đổi ở đáy mắt.
Là tri
ệu chứng khách quan của u não, biểu hiện chủ yếu là ứ phù hoặc
teo gai thị. Biểu hiện hay gặp là ứ phù gai thị. Phù gai thị nguyên nhân là do
tăng áp lực nội sọ đè ép vào các bó dây thần kinh thị giác, đè ép vào tĩnh
mạch trung tâm của dây thần kinh thị giác làm cản trở dòng máu tĩnh mạch từ
võng mạc trở về, kết quả ứ máu tĩnh mạch dẫn đến phù gai thị. Phù gai thị kéo
dài dẫn tới teo gai th
ị.
3.1.5 Động kinh.
Các cơn động kinh trong u não có thể thấy 3 thể sau:
- Động kinh toàn thể: được xếp vào triệu chứng chung của u não, còn
cơn động kinh cục bộ và thân não được xếp vào triệu chứng khu trú.
Cơn động kinh toàn thể có thể xảy ra ở bất kỳ vị trí nào của u não,
nhưng ít xảy ra với u ở tiểu não và thân não.
- Cơn động kinh cục bộ: hay gặp trong các trường hợp u ở rãnh trung
tâm, ít th
ấy ở thuỳ trán, thái dương. Trong một số trường hợp thấy u
ở nền não như não thất III, u hố sau mà trước hết là u góc cầu.
- Cơn co giật thân não: biểu hiện bằng những cơn co cứng mất não. U
tiểu não gây nên cơn thân não là do hậu quả đè ép vào thân não.
8
3.2 Triệu chứng khu trú
4. TỔNG QUAN VỀ CÁC PHƯƠNG PHÁP CHẨN ĐOÁN HÌNH ẢNH
U não là nhóm bệnh nhân được nghiên cứu từ lâu. Lịch sử nghiên cứu u
não gắn liền với sự ra đời và những tiến bộ của các phương pháp thăm dò.
Trước đây việc chẩn đoán u não thường chỉ dựa vào lâm sàng, với hai
hội chứng chính là tăng áp lực nội sọ và dấu hiệu thần kinh khu trú. Do vậy
việc chẩn đoán th
ường muộn do phải đợi các triệu chứng lâm sàng điển hình.
Ngày nay, nhờ những tiến bộ của các phương pháp thăm dò, u não ngày
càng được chẩn đoán sớm hơn, chẩn đoán đúng các loại u khác nhau trong sọ.
Có thể nêu ở đây các phương pháp đước áp dụng trong chẩn đoán u não từ
trước tới nay:
4.1. Chụp Xquang
Tia X được nhà bác học người Đức Roentgen phát hiện ra vào năm
1895, với phát minh này ông nhận được giải th
ưởng Nobel vào năm 1901[1],
và cũng từ đó chúng ta đã có được những bước tiến dài trong lĩnh vực này
4.1.1. Xquang sọ quy ước ( Radiologie conventionnelle)
Chụp Xquang sọ quy ước, có ưu điểm là giẻ tiền và phổ biến nhất hiện
nay, áp dụng được cho các tuyến Y tế cơ sở. Tuy nhiên nó chỉ cho những hình
ảnh gián tiếp như các thay đổi về cấu trúc của xương sọ như sau:
Hình ảnh tăng áp lực nội s
ọ : Các đường khớp bị tách xa nhau (hay gặp
ở trẻ em). Trường hợp tăng áp lực nội sọ kéo dài, có thể thấy ″dấu ấn ngón
tay″của các hồi não ở mặt trong vòm sọ, thường phải tăng áp lực nội sọ từ
trên 6 tháng thì mới có hình ảnh trên. Hình ảnh biến đổi ở hố yên như lưng và
nền hố yên bị mỏng và mất chất vôi do tăng áp lực nội s
ọ lâu ngày.
Hình ảnh đóng vôi trong u não : U sọ hầu có thể thấy hình ảnh ngấm
vôi toàn bộ. U màng não có thể thấy đóng vôi lấm tấm hoặc đóng vôi đậm
đều. U thần kinh đệm ít nhánh (Oligodendroglioma) hay đóng vôi hơn và có
Theo các tài liệu của OMS phương pháp này có độ nhạy khoảng 60%
và độ đặc hiệu30% đối với các u nội sọ [18].
Hiện nay chụp mạch não giúp đánh giá nguồn cấp máu cho u, đường đi
của mạch trong u, nó đặc biệt có giá trị trong ph
ẫu thuật hoặc xạ trị tránh làm
11
tổn thương các động mạch chính trong não. Chụp mạch định hướng cho nút
mạch nuôi dưỡng u, hạn chế chảy máu trong phẫu thật loại bỏ u.
Chụp mạch số hoá xoá nền (Digital Subtraction Angiography), đây là
phương pháp chẩn đoán hình ảnh kết hợp giữa việc chụp X-quang và xử lý số
xử dụng thuật toán để xóa nền trên 2 ảnh thu nhận được trước và sau khi tiêm
chất cản quang vào cơ thể người b
ệnh, nhằm mục đích nghiên cứu mạch máu
trong cơ thể. Chụp mạch số hoá xoá nền ứng dụng trong chụp mạch máu não,
đánh giá sự cấp máu cho khối u…
4.1.3. Chụp não thất, chụp não bơm hơi, chụp não thất cản quang .
Chụp não bơm hơi do Dandy làm lần đầu (1918) trong chẩn đoán u não
nó có nguy hiểm do rút nhiều dịch não tủy nên dễ gây tụt kẹt não.
Chụp não thất bơm hơi (Dandy- 1918), chụp não thất b
ơm thuốc cản
quang (Sicard-1923) với lipiodol để chẩn đoán u não trong các trường hợp u
não thất, các u sâu trong trục mà chụp mạch không phát hiện được. Trên não
thất đồ có thể thấy hình ảnh của u, sự tắc nghẽn đường lưu thông dịch não tủy
hay sự dị lệch hệ thống não thất.
4.2. Các phương pháp chẩn đoán hình ảnh khác:
4.2.1. Xạ hình não ( Scintigraphie)
Từ những năm 40 của thế kỷ này, chất phóng xạ
đã được sử dụng để
nghiên cứu trong y học. Năm 1948 Moore là người đầu tiên dùng để pháp
được thông tin về những sự bất thường củ
a vùng cơ quan đó.
Chẩn đoán các bệnh trong não: với hình ảnh SPECT chụp não, bác sĩ
dễ dàng chẩn đoán trạng thái và các tổn thương xảy ra trong não, phát hiện
các u não giai đoạn sớm.
13
4.3. Phương pháp phổ biến và có giá trị chẩn đoán u não nhất trong giai đoạn
hiện nay:
4.3.1. Chụp cắt lớp vi tính (CTScanner)[1],[6].
Ngày 1/10/1971 Hunsfield cùng với Ambrose (Anh) cho ra đời chiếc
máy chụp cắt lớp vi tính sọ não đầu tiên. Thời gian chụp và tính toán cho 1
quang ảnh lúc đó cần 2 ngày.
Tháng 4/1972 những tài liệu đầu tiên về ứng dụng chụp cắt lớp vi tính
(CTScanner) trong chẩn đoán các bệnh lý sọ não đã được Ambrose báo cáo
tại hội nghị của Việ
n điện quang Anh. Hội nghị này đã đánh giá cắt lớp vi
tính là sự kiện lớn nhất trong ngành điện quang kể từ sau 1895, thời điểm
Roentgen phát minh ra tia X.
Chính vì thế, năm 1979, giải thưởng NOBEL về y học đã được trao cho
Cormack (Mỹ) và Hounsfiel (Anh) vì những đóng góp của hai ông cho sự
thành công của phương pháp chụp cắt lớp vi tính. Sự kiện này cũng nói lên
cống hiến của vật lý học cho y học, đồng th
ời cũng thể hiện giá trị của
phương pháp chụp cắt lớp vi tính trong chẩn đoán, điều trị và nghiên cứu
khoa học y dược.
Ưu nhược điểm của chụp cắt lớp:
Ưu điểm: chụp cắt lớp vi tính là một tiến bộ vượt bậc trong chẩn đoán
hình ảnh, từ khi ra đời nó đã làm thay đổi lớn trong chẩn đoán cũng như
điều
thông trong y học chẩn đoán hình ảnh. Các
thiết bị MRI đầu tiên ứng dụng y học xuất hiện vào đầu những năm 1980. Vào
năm 2002, có gần 22.000 máy MRI được sử dụng trên toàn thế giới. Cộng
hưởng từ thường tốt hơn các kỹ thuật hình ảnh khác và đã được cải thiện đáng
kể về độ chính xác trong chẩn đoán nhiều căn bệnh. Nó thay thế một số
phươ
ng pháp kiểm tra theo kiểu đưa thiết bị vào cơ thể, do đó giảm đau đớn,
rủi ro cũng như sự bất tiện cho bệnh nhân. Chẳng hạn sử dụng phương pháp
nội soi kiểm tra tuyến tuỵ có thể gây một số biến chứng.
15
Chỉ định và chống chỉ định của cộng hưởng từ:
Lợi thế của cộng hưởng từ là tính vô hại của nó: không sử dụng bức xạ
ion hoá giống như phương pháp chụp Xquang thường quy hoặc chụp cắt lớp
vi tính. Ngày nay, cộng hưởng từ được sử dụng để kiểm tra gần như mọi cơ
quan trong cơ thể. Kỹ thuật này đặc bi
ệt có giá trị trong việc chụp ảnh não chi
tiết hoặc tuỷ sống. Kể từ khi chụp cộng hưởng từ mang lại những ảnh 3 chiều,
dựng lại hình ảnh thật của tổn thương giúp cho bác sĩ đánh giá chính xác loại
tổn thương, kích thước vị trí tổn thương để tiên lượng, phẫu thuật chính xác
nhất. Chụp cộng hưởng từ thực sự là thiết bị an toàn do không có ả
nh hưởng
của bức xạ ion. Cộng hưởng từ cho hình ảnh chi tiết đặc biệt đối với tế bào
mềm, phân biệt rỏ các dấu hiệu nhỏ nhất về dấu hiệu bệnh. Và đây cũng là
một trong kỹ thuật giúp chẩn đoán bệnh mà không gây đau cho bệnh nhân.
Chụp cộng hưởng từ mang lại nhiều thông tin tốt hơn chụp cắt lớp vi
tính như: phát hiệ
n các tổn thương ở giai đoạn sớm hoặc đậm độ thấp, nhất là
với u ở vùng chất trắng như u sao bào ác tính thấp (độ II), dễ phân biệt chất
trắng với chất xám. Các khối u vùng tuyến yên, cho phép thấy trên các lớp
t
ừ là: u nang vùng tiểu não, tăng tín hiệu của nhân u nằm trên vách u, u của
dây thần kinh số II, vùng giao thoa thị giác.Vị trí u hay gặp lần lượt theo thứ
tự: tiểu não 60%, dây II và giao thoa thị giác (25-30%), não thất III, thân não.
Những u có kích thước lớn thường gặp ở tiểu não, kích thước nhỏ ở dây II và
giao thoa thị giác. Về hình thái gặp chủ yếu u ở dạng nang, với u dây II có
hình thoi dài kéo dài theo dây thần kinh, có điểm thắt tại đáy hốc mắt[9].
5.1.2. Hình ảnh u trên phim cắt lớ
p vi tính
Trên phim không tiêm thuốc cản quang: Hay gặp u ở dạng nang (đồng
hoặc tăng nhẹ tỷ trọng so với dịch não tuỷ), u dạng đặc ít gặp (thường giảm tỷ
trọng, số ít có thể đồng tỷ trọng so với tổ chức quanh u). Hình ảnh vôi hoá
trong u gặp 20%, hiếm khí có chảy máu trong u. Có thể thấy u là nguyên nhân
tắc lưu thông dịch não tủy gây giãn não thất. Phù não quanh u có thế có ít
hoặc không có[9].
17
Trên phim cắt lớp vi tính có tiêm thuốc cản quang: Với u nang: 50%
không tăng tỷ trọng phần dịch, tăng tỷ trọng mạnh phần nhân đặc. Với những
u dạng đặc trên 95% trường hợp có tăng tỷ trọng, 40% có hoại tử trung tâm,
tăng tỷ trọng không đồng nhất, 10% u đặc đồng nhất[9].
5.1.3. Hình ảnh cộng hưởng từ
Cộng hưởng từ có giá trị chẩn đoán chính xác cao u sao bào thể lông
n
ếu, gặp u nang ở tiểu não, giảm hoặc đồng tín hiệu với dịch não tuỷ trên
phim T1 và tăng tín hiệu trên phim T2, nhân đặc trên vỏ nang hoặc u đặc
đồng hoặc giảm tín hiệu so với chất xám trên phim T1 và tăng tín hiệu mạnh
so với chất xám trên phim T2. Với u vùng giao thoa thị giác hay vùng đồi thị
ở trên bệnh nhân bị bệnh NF1 khó phân biệt với các loại u khác bằng phim
cộng hưởng từ, khi đó kết hợp với lâm sàng sẽ có chẩn
Pilomyxiod astrocytoma: U giao thoa hay vùng đồi thị ở
trẻ vị thành
niên. U đặc và tăng tín hiệu. U ít phổ biến hơn, xâm lấn xung quanh hơn.
U nang mạch (Hemangioblastoma): U nang lớn, có nhân nhỏ tăng tín
hiệu ở vách u. U gặp ở người lớn.
U tế bào đệm hạch thần kinh (Ganglioglioma): U có ranh giới, dạng
đặc hoặc nang, u nằm ở nền vỏ não tăng tín hiệu. U thường có vôi hoá.
5.2. U tế bào đệm hình sao sắc tố vàng đa hình thái (Xanthoastrocytoma)
U tế bào đệm hình sao sắc tố vàng đa hình thái thuộc nhóm có m
ức độ
ác tính thấp (grade II), theo phân loại của Tổ Chức Y Tế Thế Giới. U có ranh
giới rõ, tiến triển chậm. Tỷ lệ gặp nhỏ hơn 1% tổng số các u sao bào. U tiến
19
triển ác tính gặp ở 10-25% trường hợp. Thời gian sống trung bình 10 năm
chiếm 70% [9],[11],[17].
5.2.1. Đặc điểm chung
U nằm ngay sát bề mặt của vỏ não, có tăng tín hiệu hình đuôi theo viền
vỏ u. Thường gặp u ở dạng nang có nhân đặc tăng tín hiệu nằm ở vỏ. U nằm ở
ngoại vi của bán cầu não, thường gồm vỏ não và màng não, gặp chủ yếu u ở
trên lều tiểu não 98%. Trong đ
ó hay gặp nhất ở thùy thái dương, sau đó lần
lượt: thùy đỉnh, thùy chẩm, thùy trán; hiến khi gặp ở tiểu não, tuỷ, vùng trên
yên. Kích thước u biến đổi, có thể to hoặc nhỏ.Về hình thái, 50-60% là u nang
có nhân đặc tăng tín hiệu, nằm sát vỏ não. U có ranh giới hình bầu dục, mặc
dù có ranh giới, nhưng tế bào u thường thâm nhập vào tổ chức não xung
quanh [9].
5.2.2. Hình ảnh cắt lớp vi tính
Trên phim không có thuốc cản quang: Có thể gặp u dạng nang hoặc
đặc, với u nang trên phim có hình ảnh giảm tỷ trọng, nhân đặc tăng tỷ trọng
5.2.4. Chẩn đoán phân biệt [9]
Trên hình ảnh u tế bào đệm hình sao sắc tố vàng đa hình thái cần phải phân biệt với
các loại u sau:
U tế bào sao thể lông (Pilocytic astrocytoma): U gặp nhiều ở dưới lều
hoặc giao thoa thị giác, vùng đồi thị. U có tăng tín hiệu của vỏ
và phần đặc
nhưng không tăng tín hiệu hình đuôi theo vỏ u.
U tế bào thần kinh đệm ít nhánh (Oligodendroglioma): U tăng tín hiệu,
có vôi hoá. U lan tỏa, xâm lấn hơn.
U màng não (Meningioma): U tăng tín hiệu mạnh khi có thuốc cản
quang, có tăng tín hiệu hình đuôi dính theo màng não. U thường gặp ở bệnh
nhân nhiều tuổi hơn.
U tế bào thần kinh đệm hình sao ác tính thấp (Astrocytoma grade II):
U có ranh giới, nằm ở chất trắng. Không tăng tín hiệu.
U tế bào đệm hạch thầ
n kinh (Ganglioglioma): U nằm bán cầu đại não,
thuỳ thái dương, sàn não thất. U có kích thước nhỏ, ranh giới rõ, đồng nhất,
21
cú nhng nang nh kốm vụi hoỏ. Tng tớn hiu khụng ng u, khụng cú
hỡnh nh uụi tng tớn hiu vin theo v u.
5.3. U t bo m hỡnh sao nn nóo tht th t bo khng l
(Subependymal giant cell astrocytoma) [8],[9].
U tế bào đệm hình sao nền não thất thể tế bào khổng lồ nằm trong bệnh
cảnh của đa u xơ cứng bì. T l gp 10-15% ca cỏc bnh nhõn mc bnh a u
x cng bỡ. Triu chng bnh thng biu hin khi bnh nhõn nh hn 20
tui. Theo T Chc Y T Th Gi
i u thuc nhúm ỏc tớnh thp nht ( I).
5.3.1. c im chung
U cú kớch thc ln, tng tớn hiu, v nm trong nóo tht trờn bnh
Hình 4: Bn Vũ Quang B 31 tuổi. U tế bào đệm hình sao nền não thất thể tế
bào khổng lồ trên phim cộng hưởng từ.( BA số 22957/D33)
5.3.4. Chẩn đoán phân biệt [9]
U tế bào đệm hình sao nền não thất thể tế bào khổng lồ cần ch
ẩn đoán phân
biệt trên hình ảnh với các loại u sau:
U đám rối màng mạch ( Choroid plexus): U nằm trong não thất, có thể
gặp ở các não thất tương ứng vùng màng mạch của các não thất, không nằm
quanh lỗ Monro. U tăng tín hiệu mạnh khi có thuốc đối quang từ, u tăng tín
hiệu không đồng nhất.
U tế bào thần kinh đệm hình sao(Astrocytoma): U nằm ở vùng chất
trắng. Giảm tín hiệu hoặc đồng tín hiệu. Hình ảnh vôi hoá trong u hiếm g
ặp.
U tế bào mần vùng tuyến tung(Germinoma): U đường giữa, thường
cạnh não thất III. Sớm gây đái đường. Sớm gây tắc lưu thông dịch não tủy.
U tế bào dưới biểu mô nội tuỷ (Subependymoma): U nằm dưới não thất
IV và sừng trán não thất bên là vị trí hay gặp nhất. U không tăng tín hiệu. U
gặp ở độ tuổi trung niên và người già.
5.4. U tế bào hình sao lan toả (Astrocytoma grade II)
U tế bao hình sao bào lan toả là loại u hay gặp của nhóm u sao bào,
chiếm 25-30% u th
ần kinh đệm ở người lớn, 10-15% của tất cả các u sao bào
23
nói chung. Tuổi thường gặp từ 20-45. U có xu hướng tiến triển thành u sao
bào kém biệt hoá. Thời gian sống trung bình của bệnh nhân từ 6-10
năm[7],[11].
5.4.1. Đặc điểm chung
U nằm ở chất trắng, khu trú hoặc xâm lấm tổ chức xung quanh. Trên
phim u không tăng tín hiệu so với chất trắng. U gặp chủ yếu ở bán cầu đại não