BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ ĐỒNG NAI
KHOA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
TIỂU LUẬN MÔN: THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
Đề tài
BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG
TRONG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
Nhóm thực hiện: Nhóm 14 của lớp 12DTH2LT4
Lớp: 12DTC3LT4
Danh sách nhóm: Phan Ngọc Đài Trang (NT)
Nguyễn Thanh Trúc
Lê Thanh Thảo
Biện Văn Long
Đỗ Xuân Đạt
Đồng Nai, tháng 5 năm 2013
LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian học tập tại trường Đại học Công Nghệ Đồng Nai cũng
như trong quá trình học môn Thương mại điện tử, chúng em đã nhận được sự
quan tâm và học hỏi được nhiều kiến thức vô cùng quý báu qua sự giúp đỡ
của thầy Sắc đã tạo cho chúng em một nền tảng kiến thức vững chắc về môn
học.
Vì thời gian học tập còn ngắn cho nên hiểu biết của chúng em còn hạn
chế, vì thế không thể tránh khỏi những thiếu sót trong quá trình làm bài.
Chúng em rất mong nhận được nhiều ý kiền đóng góp, chỉ dẫn của thầy để
kiến thức của chúng em ngày càng hoàn thiện hơn.
Em xin kính chúc thầy cùng toàn thể thầy cô trường Đại Học Công
Nghệ Đồng Nai luôn luôn mạnh khỏe và gặt hái được nhiều thành công.
Đồng Nai, tháng 05 năm 2013.
Nhóm thực hiện
.
chưa đầy đủ nên rất nhiều trường hợp chưa có ý thức tự bảo vệ hay nhờ tới sự
can thiệp bảo vệ của các cơ quan chức năng.
Nhóm 14
Do đó, nhóm chúng em chọn đề tài bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
trong TMĐT, vì thời gian và kiến thức còn hạn chế nên không thể tránh khỏi
những sai sót mong thầy góp ý thêm cho bài làm chúng em hoàn thiện hơn.
Chúng em xin chân thành cảm ơn.
Nhóm 14
Chương 1
Chương 1: Cơ sở lý luận
1.1 Tìm hiểu chung về thương mại điện tử
1.1.1 Khái niệm
Một số khái niệm thương mại điện tử được định nghĩa bởi các tổ chức uy
tín thế giới như sau:
Theo Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), "Thương mại điện tử bao
gồm việc sản xuất, quảng cáo, bán hàng và phân phối sản phẩm được mua bán
và thanh toán trên mạng Internet, nhưng được giao nhận một cách hữu hình, cả
các sản phẩm giao nhận cũng như những thông tin số hoá thông qua mạng
Internet".
Theo Ủy ban Thương mại điện tử của Tổ chức Hợp tác kinh tế châu Á -
Thái Bình Dương (APEC) định nghĩa: "Thương mại điện tử liên quan đến các
giao dịch thương mại trao đổi hàng hóa và dịch vụ giữa các nhóm (cá nhân)
mang tính điện tử chủ yếu thông qua các hệ thống có nền tảng dựa trên
Internet." Các kỹ thuật thông tin liên lạc có thể là email, EDI, Internet và
Extranet có thể được dùng để hỗ trợ thương mại điện tử.
1.1.2 Lợi ích của thương mại điện tử
TMĐT giúp cho các Doanh nghiệp nắm được thông tin phong phú về thị
trường và đối tác
TMĐT giúp giảm chi phí sản xuất
TMĐT giúp giảm chi phí bán hàng và tiếp thị.
6.Yêu cầu bồi thường thiệt hại khi hàng hóa, dịch vụ không đúng tiêu
chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, chất lượng, số lượng, tính năng, công dụng, giá cả
hoặc nội dung khác mà tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ đã công
bố, niêm yết, quảng cáo hoặc cam kết.
7.Khiếu nại, tố cáo, khởi kiện hoặc đề nghị tổ chức xã hội khởi kiện để
bảo vệ quyền lợi của mình theo quy định của Luật này và các quy định khác
của pháp luật có liên quan.
8.Được tư vấn, hỗ trợ, hướng dẫn kiến thức về tiêu dùng hàng hóa, dịch
vụ.
Nhóm 14
7
Chương 1
1.2.2 Các nội dung cơ bản về bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại
điện tử
1.2.2.1 Cơ chế bảo vệ minh bạch và hiệu quả
Các biện pháp, hành vi áp dụng vào môi trường thương mại điện tử nhằm
mục đích bảo vệ người tiêu dùng phải đảm bảo tính minh bạch và hiệu quả
giống như các biện pháp áp dụng đối với các loại hình giao dịch khác. Để thực
hiện nguyên tắc này, chính phủ, các doanh nghiệp và người tiêu dùng phải cùng
nhau hợp tác để xác định các tính chất riêng biệt của môi trường thương mại
điện tử từ đó xây dựng nên các cơ chế hiệu quả và rõ ràng.
1.2.2.2 Thực hiện các hành vi quảng cáo và kinh doanh lành mạnh
Các doanh nghiệp hoạt động trong môi trường thương mại điện tử cần
chú trọng tới lợi ích của người tiêu dùng và đảm bảo tuân thủ các quy định của
pháp luật về kinh doanh, quảng cáo và marketing. Theo đó, doanh nghiệp nên
ghi nhớ và cố gắng thực hiện các hành vi sau:
Không nên thực hiện các hành vi lừa dối, lừa đảo, giả mạo hoặc cố ý cung
cấp các thông tin có nội dung gây nhầm lẫn, hiểu nhầm hoặc đánh lừa người
tiêu dùng.
Không nên thực hiện các hành vi có khả năng gây ra tổn hại cho người
tin này có thể bao gồm: hồ sơ đăng ký kinh doanh, thông tin liên lạc của doanh
nghiệp (hiện nay nên có: địa chỉ hoạt động thực tế, số điện thoại, fax, email và
website); đường dây nóng liên hệ cho người tiêu dùng (nếu có); cơ chế giải
quyết khiếu nại, quy trình thủ tục; …Các tài liệu khác chứng minh sự tồn tại
của doanh nghiệp.
Thông tin về hàng hóa, dịch vụ
Doanh nghiệp nên cung cấp thông tin đầy đủ, rõ ràng, chính xác và dễ
dàng tiếp cận để người tiêu dùng có đầy đủ thông tin cần thiết để quyết định có
nên thực hiện giao dịch hay không. Các thông tin này phải được cung cấp theo
các cách thức mà người tiêu dùng có thể dễ dàng ghi lại/tải về.
Thông tin về giao dịch
Doanh nghiệp nên cung cấp các thông tin đầy đủ hướng dẫn người tiêu
dùng thực hiện các giao dịch. Các thông tin quan trọng để người tiêu dùng cân
Nhóm 14
9
Chương 1
nhắc trước khi thực hiện giao dịch là các điều khoản, điều kiện mua bán; hướng
dẫn sử dụng; giá cả, vận chuyển giao hàng, chính sách trả hàng; bảo hành và
thanh toán của sản phẩm.
Cần lưu ý hướng dẫn đơn vị tiền tệ được sử dụng trong các giao dịch.
Xác nhận giao dịch
Để tránh những quyết định nhất thời và có thời gian cân nhắc kỹ trước khi
chính thức giao dịch, doanh nghiệp cần xây dựng quy trình mua hàng, kiểm tra,
chỉnh sửa lại đơn hàng và các bước xác nhận giao dịch từ phía người tiêu dùng.
Người tiêu dùng phải được cung cấp tính năng hủy giao dịch trước khi xác
nhận chấp nhận giao dịch.
Thanh toán
Thanh toán nhanh, chính xác và dễ dàng là một trong những điều kiện
quyết định thành công của thương mại điện tử. Do vậy, bên cạnh việc cung cấp
phương thức thanh toán thuận tiện, chính xác, nhanh chóng và an toàn, bảo mật
chấp xảy ra, đặc biệt đối với các tranh chấp xẩy ra đối với việc mua hàng ngoài
biên giới quốc gia, vì còn phụ thuộc vào luật lệ của quốc gia đó… Để Thương
mại điện tử phát huy tốt ưu điểm của mình, các doanh nghiệp tham gia thương
mại điện tử, ngoài việc thực hiện nghiêm các quy định của pháp luật, còn phải
xây dựng lòng tin đối với NTD, đặc biệt trong việc bảo mật thông tin, tôn trọng
sự riêng tư của NTD cũng như giao hàng đúng hạn, trả lời và giải quyết tốt
khiếu nại của NTD.
Hiện nay, một số website TMĐT lớn như vatgia.com, enbac.com,
chodientu.vn, muare.vn… đã thu hút đông đảo thành viên tham gia giao dịch.
Theo số liệu của Cục TMĐT và Công nghệ thông tin (Bộ Công Thương), trị giá
hàng hóa, dịch vụ tham gia giao dịch TMĐT đạt hơn 4 nghìn tỉ đồng (năm
2011) và gần 10 nghìn tỉ đồng (năm 2012). Tổng doanh thu các sàn giao dịch
TMĐT đạt 111 tỉ đồng (năm 2011)
Tiềm năng lớn, nhưng chính các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực
này lại tự làm khó mình khi hoạt động thiếu minh bạch, thậm chí có các hành
Nhóm 14
11
Chương 1
vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng. Vi phạm pháp luật trong lĩnh vực TMĐT có
chiều hướng gia tăng, đã xuất hiện những vụ việc như lừa đảo, giao hàng hóa
không đảm bảo chất lượng, đánh cắp và sử dụng thông tin cá nhân trái phép…
Hàng loạt sai phạm đã khiến thương mại điện tử (TMĐT) ngày càng mất
niềm tin của người tiêu dùng.
Để TMĐT ở Việt Nam phát triển bền vững, tạo điều kiện vượt qua khủng
hoảng kinh tế, chắc chắn cả doanh nghiệp và người tiêu dung cần quan tâm
nhiều hơn nữa tới hai chữ “an toàn”.
Trưởng ban Bảo vệ người tiêu dùng – Cục Quản lý cạnh tranh cũng khẳng
định: “với những ưu điểm vượt trội, thương mại điện tử cũng mang lại nhiều
rủi ro cho người tiêu dùng nếu chúng ta không hiểu rõ các quy định cũng như
cách thức thực hiện thương mại điện tử… Các vấn đề về bảo mật, an toàn
phát triển như giao dịch trên Internet hiện nay.
Nhu cầu điều chỉnh pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong giao kết
hợp đồng điện tử
Hợp đồng điện tử đặc trưng cho các giao dịch được thiết lập từ xa. Trong
mối quan hệ này, người tiêu dùng luôn ở thế yếu so với nhà cung cấp dịch vụ,
hàng hóa. Thế yếu này bắt nguồn từ chính phương thức giao kết hợp đồng: phải
sử dụng biện pháp liên lạc từ xa (qua website, e-mail hay chat room…). Người
tiêu dùng có thể thiếu thông tin về tình hình thực tế hay pháp luật điều chỉnh
quan hệ hợp đồng. Đặc điểm này là nguyên nhân gây ra bất bình đẳng giữa các
bên. Dễ nhận thấy rằng, khi mua một mặt hàng bất kỳ (ví dụ như quần áo)
thông qua một website, người tiêu dùng không có dịp kiểm tra màu sắc, kích cỡ
Chương 2
hay chất liệu quần áo như khi mua ở một cửa hàng thời trang. Vì vậy, có thể sẽ
có rủi ro khi giao kết hợp đồng, sự đồng ý của người tiêu dùng sẽ không rõ
ràng như khi ký kết hợp đồng với sự hiện diện của các bên. Ở cấp độ thấp hơn,
việc mua hàng thiếu cân nhắc cũng rất đáng ngại, khi đó người tiêu dùng sẽ
không suy nghĩ chín chắn trước khi ký kết hợp đồng như trong giao dịch truyền
thống. Khi các hợp đồng điện tử đa phần dưới dạng là hợp đồng mẫu, thì vị thế
của người tiêu dùng từ xa lại càng yếu thế vì họ không có quyền thỏa thuận,
thương lượng. Do đó, cần thiết phải có sự can thiệp của pháp luật để bảo vệ
quyền lợi người tiêu dùng – bên yếu thế trong quan hệ hợp đồng điện tử.
Sự thành công của hợp đồng điện tử phụ thuộc vào việc xây dựng một
môi trường giao dịch thu hút cũng như an toàn đối với các bên tham gia. Điều
này đặc biệt đúng khi nói tới khía cạnh bảo vệ người tiêu dùng. Một yếu tố
quan trọng để tạo môi trường cho lòng tin và sự tín nhiệm trong giao kết hợp
đồng điện tử là phải bảo vệ được người tiêu dùng. Các bên tham gia giao kết
hợp đồng điện tử qua mạng Internet không nhất thiết hay không thể gặp mặt
nhau. Thông thường, người tiêu dùng không biết rõ các thông tin về hàng hóa,
dịch vụ được cung cấp như người bán hàng, khả năng chịu rủi ro sẽ cao hơn, do
đó cần có những quy định pháp luật bảo vệ họ.
1. Thông báo kịp thời cho người bán biết về thông tin nhập sai của mình
và người bán cũng đã xác nhận việc nhận được thông báo đó;
2. Trả lại hàng hoá đã nhận nhưng chưa sử dụng hoặc hưởng bất kỳ lợi ích
nào từ hàng hóa đó”.
Giải pháp tương tự cũng được quy định tại Điều 15 Nghị định số
57/2006/NĐ-CP về thương mại điện tử khi cho phép cá nhân mắc phải lỗi nhập
thông tin khi giao tiếp với một hệ thống thông tin tự động có thể rút bỏ phần
chứng từ điện tử có lỗi.
Tuy nhiên, có thể nhận thấy các quy định nêu trên mới chỉ là quy định
khái quát, mang tính nguyên tắc, để đi vào cuộc sống thì cần phải có những quy
định cụ thể, chi tiết hơn.
Dựa trên những yếu tố đặc thù của môi trường mạng, Thông tư số
09/2008/TT-BCT quy định về một quy trình giao kết hợp đồng tiêu biểu qua
Chương 2
website thương mại điện tử, qua đó giúp phân định phạm vi trách nhiệm của
mỗi bên trong các giao dịch này, đồng thời giảm bớt sự bất bình đẳng giữa
khách hàng và thương nhân trong giao kết hợp đồng. Bên cạnh những điều
khoản về quy trình giao kết hợp đồng, Thông tư số 09/2008/TT-BCT còn quy
định cụ thể việc cung cấp thông tin trên các website thương mại điện tử nhằm
bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong quá trình giao dịch với yêu cầu những
thông tin này phải:
a) rõ ràng, chính xác, dễ tìm và dễ hiểu;
b) được sắp xếp tại các mục tương ứng trên website và có thể truy cập
bằng phương pháp trực tuyến;
c) có khả năng lưu trữ, in ấn và hiển thị được về sau
d) được hiển thị rõ đối với khách hàng trước thời điểm khách hàng gửi đề
nghị giao kết hợp đồng.
Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam chưa có quy định cho phép người tiêu
dùng có quyền rút lui khỏi hợp đồng, trả lại hàng hóa đã mua và không phải bồi
thường, khi giao kết hợp đồng qua Internet trong một thời hạn nhất định như
mối nguy hại rất lớn đối với người tiêu dùng. Những vụ lấy trộm thông tin về
tài khoản ngân hàng, làm giả thẻ thanh toán để mua hàng trên mạng hay rút tiền
mà báo chí đã đăng tải trong thời gian qua là một biểu hiện cụ thể về tác hại
của thông tin cá nhân bị xâm phạm, tiết lộ, gây thiệt hại không nhỏ đến tài sản,
lợi ích của người thực hiện giao dịch.
Những vấn đề hạn chế trong thanh toán điện tử làm cho NTD không an
tâm khi thanh toán điện tử mà vẫn dùng hình thức thanh toán trực tiếp.
• Cơ sở hạ tầng, điểm chấp nhận thanh toán là yếu tố quyết định đến sự
thành công của thanh toán điện tử. Điểm chấp nhận thanh toán còn ít do
vậy tại một số nơi người tiêu dùng không có lựa chọn nào khác ngoài
việc sử dụng tiền mặt.
• Lo ngại về sự an toàn trong giao dịch cũng là một trở ngại, từ chỗ lo
ngại dẫn đến việc không tiếp cận do vậy không thấy được lợi ích của
thanh toán điện tử.
Chương 2
• Mặc dù luật giao dịch điện tử đã có hiệu lực từ ngày 1/3/2006 tuy nhiên
còn nhiều vấn đề liên quan đến yếu tố công nghệ vẫn chưa được đề cập
chi tiết như tội phạm công nghệ, tranh chấp qua giao dịch điện tử.
• Tuy nhiên sử dụng các hình thức thanh toán điện tử người dùng cũng
cần nâng cao nhận thức về việc bảo quản các mật mã, thiết bị bảo mật,
thẻ… Ngoài ra, vẫn tồn tại các hình thức lừa đảo xuất hiện trên Internet
thông qua các website nhằm thu thập thông tin bí mật của khách hàng
hoặc lừa đảo khách hàng chuyển tiền tới tài khoản của họ.
2.3 Bảo vệ người tiêu dùng trong việc chống lừa đảo, quản lý chất lượng
hành hóa trong giao dịch thương mại điện tử
Thực tế tại Việt Nam, số các sàn giao dịch thương mại điện tử có uy tín và
hoạt động hiệu quả cũng chỉ đếm trên đầu ngón tay. Trong khi tại các website
rao vặt, thông tin về sản phẩm không được kiểm chứng, giao dịch giữa người
bán - người mua chủ yếu được thực hiện qua điện thoại, thì các sàn giao dịch
chuyên nghiệp đều có tính năng đánh giá gian hàng. Theo đó người mua có thể
kém chi phí hơn, nhất là chi phí mặt bằng kinh doanh nên giá bán rẻ hơn nhiều
so với ở các siêu thị, điểm bán lẻ. Tuy nhiên, thực tế không hẳn như vậy. Một
đại diện của Hội Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng cho biết, không loại trừ khả
năng hàng giá rẻ cũng đồng nghĩa với mua hàng giả, hàng nhái, hàng sửa đát.
Mới đây hãng mỹ phẩm danh tiếng đến từ Pháp, L’Oreál đã phát hiện nhiều
website quảng cáo và chào bán các sản phẩm mang nhãn hiệu của L’Oreál với
giá rẻ bất ngờ. Nhà phân phối đã tiến hành kiểm tra và kết quả đúng như dự
đoán khi hầu hết sản phẩm đều là hàng nhái, hàng giả.
2.3.3 Quảng cáo sai chất lượng hàng hóa, hàng hóa khi giao hàng không
như hình trên website
Chị Lý ở quận Phú Nhuận thấy bạn cùng hội mặc chiếc áo mua trên mạng
giá khá rẻ, lại đẹp, chị liền lướt nhanh qua các website giảm giá như mách bảo.
Rất nhanh chóng, chị chọn ngay cái áo sơ mi và áo khoác ưng ý.
Tuy nhiên, khi cầm sản phẩm trong tay, chị mới tá hỏa vì nó khác xa với
hình ảnh quảng bá trên website trực tuyến. Sau nhiều lần trao đổi, người bán
giải thích: "Vì không có máy ảnh và người mẫu mặc đồ nên chủ cửa hàng chọn
Chương 2
đại một ảnh trên Internet để làm hình mình họa". Chị cũng không đồng ý với lý
giải "kiểu dáng hoàn toàn giống nhau, chỉ có điều người mẫu mặc nên nó đẹp
thế" của người bán và cũng không chịu hoàn tiền lại cho chị.
2.3.4 Hàng sắp hết hạn sử dụng
Lan, ở quận Tân Phú ấm ức vì mua chai nước hoa nhãn ngoại trên một
trang điện tử nước ngoài, có giá hơn 2 triệu (đã giảm giá 35%). Chưa kịp mừng
vì sở hữu sản phẩm mong đợi từ lâu, Lan bực bội khi chỉ còn một tháng nữa là
hết hạn sử dụng.
"Tôi chỉ dùng nước hoa khi đi dự tiệc, mà cả tháng mới đi một lần. Với
chai 75ml làm sao tôi có thể sử dụng hết trong một tháng" chị Lan nói. Nếu gửi
trả hàng ra nước ngoài sẽ tốn nhiều thời gian và tiền bạc nên chị đành cho qua
mọi chuyện và coi như “của đi thay người”
2.3.5 Công ty lừa đảo
điển hình. Ngay khi các lãnh đạo của nhommua được cơ quan chức năng mời
phối hợp để điều tra thì hàng loạt đơn vị kinh doanh dịch vụ, đối tác của
nhommua đã từ chối và không chấp nhận thanh toán voucher do nhommua phát
hành. Còn NTD thì “lao đao”, đứng trước nguy cơ “mất trắng” số tiền đã bỏ ra
mua voucher. Vậy giữa nhommua và các đối tác đó không có ràng buộc gì sao?
Khi nhommua “ăn nên làm ra” thì các đối tác cùng hưởng lợi nhưng khi có
“vấn đề”, NTD lại “chịu thiệt.
Đứng trên góc độ pháp lý, việc giảm giá “khủng” của các trang mạng
cũng để lộ một số “lỗ hổng” trong kiểm tra, giám sát. Nếu như các hoạt động
khuyến mại, giảm giá của các DN đều phải thông báo với Sở Công Thương thì
liệu các trang mạng kinh doanh theo nhóm có phải làm việc đó không? Và Sở
Công Thương có kiểm soát được? Hơn nữa, tại Điều 12.4, mục 2, chương II,
Nghị định 37/2006/NĐ-CP có quy định về thời gian khuyến mại, giảm giá đối
với mỗi sản phẩm không được vượt quá 90 ngày trong một năm. Cũng tại Điều
5.1, mục 1, chương II của Nghị định này, hạn mức tối đa về giá trị hàng hóa,
dịch vụ được khuyến mại không được vượt quá 50% giá của đơn vị hàng hóa,
dịch vụ trước thời gian khuyến mại. Vậy các trang mạng này có vi phạm Nghị
Chương 2
định 37/2006/NĐ-CP không, khi mà phần lớn các trang web kinh doanh theo
nhóm đều có mức khuyến mại giảm giá một số sản phẩm hàng hóa, dịch vụ
trên 50%, thậm chí có những sản phẩm, dịch vụ mức giảm lên đến 90%. Một
mức giảm giá khó mà tin nổi.Có thể thấy, thương mại điện tử tại nước ta vẫn
còn nhiều vấn đề “bất cập”, cần phải xử lý, như việc nguồn gốc, chất lượng
hàng hóa, mức giá mà các DN đưa ra, sự chặt chẽ trong hợp đồng liên kết của
website với các đối tác Nếu những điều trên không được giải quyết kịp thời,
nhanh chóng và triệt để thì mô hình kinh doanh kiểu này sẽ vấp phải nhiều khó
khăn và khó có thể phát triển tiếp tại nước ta.
2.3.6.2 Luật không theo kịp thực tế
Những năm gần đây, tình trạng lừa đảo người tiêu dùng thông qua thương
mại điện tử (TMĐT) liên tục bị phát hiện. Trong khi đó, các ngành chức năng
năm 2013, Bộ Công Thương sẽ trình Chính phủ dự thảo Nghị định mới về quản
lý lĩnh vực này, trong đó đề xuất cấm mô hình kinh doanh đa cấp. Cục TMĐT
và Công nghệ thông tin cũng sẽ xây dựng chế tài xử phạt những trường hợp vi
phạm trong lĩnh vực TMĐT.
Thứ trưởng Bộ Công Thương Trần Tuấn Anh cho rằng: Theo quy định
hiện nay, việc cấp đăng ký cho các sàn giao dịch online chỉ căn cứ vào hồ sơ
đăng ký kinh doanh của DN, có đối chiếu với thông tin thể hiện trên website tại
thời điểm đăng ký. Tuy nhiên, đây không phải là một sự bảo đảm về uy tín của
đơn vị hay chất lượng của hàng hóa, dịch vụ quảng bá trên website.
Chương 3: Giải pháp và kiến nghị
3.1 Giải pháp của cơ quan nhà nước và doanh nghiệp
3.1.1 Xây dựng cơ sở hạ tầng
Có thể nói, thành công của TMĐT tùy thuộc vào sáng kiến cần thiết để phát
triển một cơ sở hạ tầng thích hợp nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc sử
dụng Internet và thực hiện sự bảo vệ cần thiết đối với NTD. Cơ sở hạ tầng bao
gồm: truy cập Internet, kết nối mạng Internet (kể cả các yêu cầu tiêu chuẩn đối
với cáp nối quang, băng thông rộng, kết nối quốc tế, các dịch vụ bảo vệ, cung
cấp dịch vụ bảo vệ giữa các công ty với nhau; báo cáo sự cố an ninh mạng,
Chương 2
dịch vụ thanh toán, giao dịch điện tử an toàn, quản lý quyền lợi bằng kỹ thuật
số, phát triển các nhà cung ứng dịch vụ ứng dụng, phát triển thương mại dịch
vụ ứng dụng, dịch vụ nhắn tin). Tất cả các yếu tố cơ sở hạ tầng phải do nhà
nước đề ra mục tiêu và các giải pháp thực hiện.
3.1.2 Hành lang pháp lý cho TMĐT
Phải mang tính toàn diện, phải đề cập đến các vấn đề sau: Định nghĩa về
thương mại điện tử phải rộng bao gồm email, điện thoại, fax, Internet, hệ thống
nhắn tin ngắn, điện thoại di động. Hợp đồng điện tử, việc cấp giấy phép phải
đảm bảo thực hành kinh doanh ngay thẳng: để xử lý tình huống mà thông tin
được cung cấp gây hoặc có khả năng gây hiểu lầm mang tính lừa đảo. Pháp luật
bảo vệ NTD hiện hành nên được áp dụng trong các giao dịch thương mại điện
tử của Bộ Công Thương.
3.1.3 Đảm bảo an toàn và tính riêng tư
Phát triển Internet và thương mại điện tử tạo nên nhiều mối đe dọa với
tính riêng tư của NTD. Vì vậy chính các công ty cần thiết chế một luật định để
bảo vệ tính riêng tư cho NTD. Sự thành công của TMĐT phụ thuộc vào việc
truyền dữ liệu một cách an toàn như số của thẻ tín dụng, thông tin tài chính và
các thông tin nhạy cảm khác cần có sự phối hợp giữa chính phủ và các công ty
để thực hiện các biện pháp an ninh và cưỡng chế thi hành những người vi phạm
pháp luật.
3.1.4 Lòng tin
Cần làm rõ quy tắc hành nghề, nhãn hiệu uy tín. Ngoài ra làm tăng sự tin
tưởng của NTD còn bao gồm tính an toàn, khả năng bảo mật tôn trọng tính
riêng tư, giao hàng đúng hạn, trả lời khiếu nại của khách hàng.
3.1.5 Bồi thường và cưỡng chế thi hành
Trong các tranh chấp trên mạng, đặc biệt các tranh chấp xuyên biên giới
vấn đề bồi thường gặp rất nhiều khó khăn. Vì vậy trong bối cảnh thương mại
điện tử, kế hoạch giải quyết tranh chấp trên mạng (ODR) là một dịch vụ giải
quyết tranh chấp thông qua phương tiện điện tử, bao gồm hòa giải, trọng tài,
hội đồng xét xử giả, trợ giúp khiếu nại, thương thảo tự động và thương thảo có
giúp đỡ. Dù rằng thương mại điện tử giúp cho NTD với người bán hàng bất kể