Đề cương lịch sử văn minh thế giới - Pdf 25

Đề cương LỊCH SỬ VĂN MINH THẾ GIỚI
Câu 1: Những tác động tiêu cực của tính chất chuyên chế đến tiến trình phát
triển nền văn minh của phương Đông
Trong các nguyên nhân dẫn đến việc văn minh phương Đông “đi trước về sau”, thì
nguyên nhân chính trị là nguyên nhân quan trọng nhất, có ảnh hưởng lớn hơn các
nguyên nhân còn lại.
Trước hết, yếu tố tự nhiên tuy có tác động lớn, nhưng không thể là nguyên nhân chính
được. Vì văn minh là sản phẩm của con người, phụ thuộc vào nhận thức của con
người, nên nguyên nhân quan trọng nhất dẫn đến sự phát triển và thụt lùi của một nền
văn minh chỉ bắt nguồn từ những hoạt động của con người, chứ không xuất phát từ tự
nhiên. Xét các nguyên nhân kinh tế, văn hóa, tôn giáo tuy đều là những hoạt động
thuộc kiểm soát của con người, nhưng những thứ đó cũng không phải là nguyên nhân
chính, vì những thứ đó suy cho cùng đều là sản phẩm của một thứ, đó là thiết chế
chính trị - xã hội. Chế độ chính trị đóng một vai trò định tính, giới hạn cho những
quan hệ kinh tế, những tư tưởng giáo lí … Theo lí thuyết về hình thái kinh tế xã hội
của Mác, thì ba yếu tố quan trọng nhất của một hình thái kinh tế xã hội đó là lực lượng
sản xuất, cơ sở hạ tầng kinh tế, và kiến trúc thượng tầng pháp lí. Ba bộ phận này có
mối quan hệ biện chứng với nhau, trong đó kiến trúc thượng tầng (chế độ chính trị)
được xem là đặt lên trên cơ sở hạ tầng, và là công cụ để bảo vệ, duy trì và phát triển
cơ sở hạ tầng kinh tế. Vì vậy có thể nói rằng nguyên nhân chính dẫn đến việc văn
minh phương Đông đi trước về sau, đó là yếu tố chính trị.
Ta có thể lấy 1 dẫn chứng về lịch sử các kiểu nhà nước của phương Đông và phương
Tây. Trước hết, nói về phương Đông, thì nhà nước phong kiến ra đời sớm nhất vào
năm 221 TCN, và được xem là kết thúc vào đầu thế kỉ XX. Như vậy nhà nước phong
kiến phương Đông có lịch sử tồn tại hơn 2000 năm. Còn ở phương Tây, nhà nước
phong kiến ra đời muộn hơn, vào thế kỉ V. Tuy vậy, trong cùng khoảng thời gian đó,
phương Tây lại tiếp tục cho ra đời hai kiểu nhà nước mới, đó là nhà nước tư bản chủ
nghĩa (thế kỉ XVII) và nhà nước xã hội chủ nghĩa (đầu thế kỉ XX). Vậy là trong hơn
2000 năm mà phương Đông chỉ tồn tại một chế độ phong kiến, thì phương Tây đã tồn
tại tới ba kiểu nhà nước, mặc dù nhà nước phong kiến phương Tây ra đời muộn hơn.
Có lẽ đó là yếu tố tác động đến sự phát triển rực rỡ đỉnh cao của văn minh phương

phẩm tiêu biểu của ông:
+ Catropque hay hình học những tia phản chiếu.
+ Những dữ kiện.
+ Phép chia các hình.
+ Quang học.
+ Đặc biệt là bộ Elements - Những khái niệm cơ bản: gồm 13 tập, trong đó ông đã sắp
xếp một cách hợp lý, hoàn chỉnh, sáng tạo thêm, chứng minh chặt chẽ hơn tất cả 465
mệnh đề không chỉ về hình học mà cả lý thuyết số và đại số sơ cấp trên tinh thần của
hình học, trong đó có tiên đề mang tên ông - Tiên đề Euclite. Bộ sách Cơ bản gồm 13
cuốn vẫn được giữ đến ngày nay (phần lớn chương trình hình học ở phổ thông ngày
nay sử dụng lại hầu như toàn bộ 6 cuốn trong bộ Cơ bản của ông). Trong lịch sử Toán
học, đây là tác phẩm khoa học duy nhất đã tồn tại 2000 năm mà giá trị không hề giảm
sút.
- Archimede (285 – 212 TCN): ông đã để lại cho nhân loại những tri thức khoa học
vô giá về lý luận, thực tiễn trong toán học và cơ học.ông là người đã đưa ra phương
pháp tính diện tích hình nón và hình cầu, tính được trị số Pi nằm giữa hai số 3 x 10/71
và 3 x 1/7.
Có thể tóm lược những đóng góp khoa học của Archimede trong một số tác phẩm tiêu
biểu sau:
+ Về trạng thái cân bằng: nghiên cứu về trọng tâm, hình bình hành, hình tam giác.
2
+ Cầu phuơng hình parabol: cho lời giải về cơ học và cả lời giải toán học.
+ Về trạng thái cân bằng (tập 2): nghiên cứu về trọng tâm của đới parabol.
+ Bàn về hình cầu và hình viên trụ (tập 1 & 2).
+ Bàn về cá hình xoắn.
+ Đo đường tròn.
+ Nghiên cứu vế các vật nổi.
+ Arénaire: về hệ đếm các số lớn.
- Ác si mét (287-212 TCN) là người đầu tiên tính chính xác số π, ông cho rằng chu vi
đường tròn bị giới hạn bởi đa giác nội tiếp và ngoại tiếp đường tròn. Sử dụng đa giác

chấp nhận nó như một điều tất yếu. Họ bằng lòng với cuộc sống theo cách thức sản
xuất mà ông cha để lại, không dám đi xa, mạo hiểm, họ bó hẹp bản thân ở nơi mình
3
sinh ra. Đó là mặt hạn chế cơ bản của con người nông nghiệp phương Đông trong sự
so sánh với con người phương Tây vốn quen tác phong nhanh nhẹn, chính xác và làm
việc hết mình.
Thứ hai, xã hội nông nghiệp mang tính chất cô lập, tách biệt, cộng với những quy tắc
hà khắc đã làm hạn chế lí trí của con người trong những khuôn khổ chật hẹp. Họ sùng
bái những thứ họ không thể giải thích, thần thánh hóa mọi thứ. Xã hội phương Đông,
vì vậy, mang tính chất thụ động, quân bình, ít thay đổi. Tình trạng trì trệ của xã hội
phương Đông đã cản trở các cá nhân đến với con đường đổi mới, sáng tạo, nghiên
cứu. Và đó chính là cơ sở làm cản trở sự phát triển của xã hội. Bên cạnh đó, lối tư duy
thiên về trực giác của phương Đông, ít duy lí, phân tích, mổ xẻ cũng phần nào làm cho
khoa học kĩ thuật không phát triển mạnh được như phương Tây. Những phát kiến về
khoa học – kĩ thuật của phương Đông trước đây chủ yếu gắn với sản xuất, nảy sinh từ
sản xuất và chỉ dừng lại ở mức độ đáp ứng vừa đủ chứ không có mục đích đào sâu,
phát triển lên một bậc mới.
Ví dụ: - Xuất phát từ nhu cầu đo đạc ruộng đất, người Lưỡng Hà đã sớm phát hiện ra
quan hệ giữa ba cạnh trong tam giác vuông. Tuy nhiên, Pitagore mới được nhắc đến là
đỉnh cao trong thành tựu về hình học này với định lý mang tên ông.
- Ở Ai Cập đã sớm phát hiện ra quan hệ giữa các cạnh trong tam giác để xây dựng kim
tự tháp, tuy nhiên Thales là người đạt tới đỉnh cao với việc phát triển tỷ lệ thức, cho ra
đời định lý mang tên ông.
Câu 4: Những ảnh hưởng về mặt điều kiện tự nhiên đã làm cho Việt Nam không
thể trở thành nền văn minh biển trong lịch sử.
Việt Nam là một nước đa dạng về thiên nhiên và môi trường sinh thái. Địa hình Việt
Nam có đủ các loại địa hình. Không chỉ rộng lớn về diện tích núi rừng, đồng bằng,
sông ngòi mà biển cũng giành một diện tích khá lớn, là Việt Nam với “rừng vàng biển
bạc”. Thế nhưng trong lịch sử Việt Nam không phải là một nền văn minh biển do sự
tác động của nhiều yếu tố. Điều kiện tự nhiên bên cạnh những mặt tích cực cũng tồn

nhưng do bị chi phối bởi nhiều yếu tố, trong đó có điều kiện tự nhiên mà Việt Nam đã
không được xướng danh là một nền văn minh biển như bao nước tiến bộ khác như Hy
Lạp, Lã Mã… Đây là một sự thất thoát không nhỏ nguồn lợi từ biển đối với nền kinh
tế xã hội của đất nước.
Câu 5: Nguyên nhân chung dẫn đến sự xuất hiện của tử ngữ ở các nước phương
đông
Sự đa dạng của các tộc người dẫn đến sự đa dạng về nguồn văn hoá, chữ viết cũng
khác nhau, cho đến khi thống nhất sử dụng một loại chữ nhất định thì các chữ viết kia
sẽ bị loại bỏ theo ý chí của giai cấp áp đặt. Chữ viết bị loại bỏ đó lâu dần bị lãng quên
và không còn ai nhắc đến nữa.
Sự thay thế dần dần của các chữ viết khác tinh giản hơn. Chữ viết lúc đầu dần mất đi
chỗ đứng, chỉ còn một số ít những người có thể hiểu và đọc được nhưng lâu dần cũng
chết, không còn ai dạy hay hướng dẫn cách học và viết vì thế cũng trở thành tử ngữ.
Các quốc gia cổ đại phương đông từ khi được hình thành đa số đều có tư duy ổn định
và chống giặc ngoại xâm nên nền văn hoá của họ không được đa dạng như các nước
đi xâm lược, bởi các nước đi xâm lược có sự giao thoa với các vùng đất mà nó chiếm
đánh. Vậy nên các nước dẫn quân đi đánh chiếm luôn có sự tiến bộ hơn, nên họ dễ
dàng áp đặt được cái mới của họ vào nước bị xâm chiếm chứ không bị ảnh hưởng bởi
quốc gia bị xâm chiếm. Nhờ vậy mà các quốc gia cổ đại bị xâm lược toàn bị ảnh
5
hưởng, bị áp đặt đến mức thay thế chứ không gìn giữ được hoàn toàn nền văn hoá sơ
khai của mình. Và điều này cũng không ngoại lệ với chữ viết.
Các chữ viết hầu như rất phức tạp, cầu kỳ, khá rắc rối, khó học, khó sử dụng , chưa
đạt đủ yêu cầu của người sử dụng về sự tiện ích và hợp lí và chưa thể hiện đầy đủ các
khái niệm mà con người muốn truyền đạt ( như tình cảm, yêu,ghét,vui ).
Chữ viết đã được cải biên nhiều lần mà vẫn không đem lại hiệu quả cao thì việc loại
bỏ nó để sáng tạo ra một cái mới là điều hoàn toàn đúng đắn. Sự ra đời của chữ viết
mới, cái tiến bộ đã thay thế cái cũ cái lỗi thời nhằm để phục vụ cho nhu cầu sử dụng
của con người cứ ngày một tăng cao như vậy.
Hầu hết đều tồn tại một địa hình khép kín. Các quốc gia cổ đại phương Đông giống

rất chú trọng đến giáo dục, thi cử nên luôn tích cực áp đặt tư tưởng nho giáo đẩy mạnh
việc học chữ bằng các chế độ khoa thi cử, tiến cử người có tài để đưa vào hệ thống quan
lại, nhờ vậy mà chữ viết cũng được tích cực truyền bá.
Câu 6: Trình bày khái quát những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự ra đời của
phong trào văn hoá Phục hung (thế kỉ XIV- XVII).
Phong trào văn hoá Phục hưng ra đời với ba nguyên nhân chủ yếu sau:
- Nguyên nhân quan trọng dẫn đến sự ra đời của phong trào văn hóa Phục hưng chính là
sự xuất hiện của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa cùng với sự phát triển của kinh tế
hàng hóa và thủ công nghiệp.
- Cát cứ phong kiến làm dấy lên sự bất mãn rộng rãi, đồng thời hệ tư tưởng khắt khe của
Giáo hội Thiên Chúa cũng kìm kẹp, làm rào cản lớn cho sự phát triển của giai cấp tư sản.
- Những thành tựu về văn hóa từ thế kỉ XI-XIII không đáp ứng được nhu cầu của giai cấp
tư sản mới ra đời trong khi hệ tư tưởng cũ vẫn đang khắc chế, kìm hãm.
Do đó, điều quan trọng và cần thiết được đặt ra đối với giai cấp tư sản là cần phải có một
hệ tư tưởng và nền văn hóa riêng để phục vụ cho đời sống tinh thần của mình và để đấu
tranh với hệ tư tưởng lỗi thời của giáo hội và của giai cấp quý tộc phong kiến đang cản
trở sự phát triển của xã hội.
Trước tình hình trên, giai cấp tư sản nhận thấy rằng văn hóa Trung cổ là bước thụt lùi so
với văn hóa cổ điển của Hy Lạp và La Mã cổ đại. Vì thế họ tìm cách “ Phục hưng” lại
trên mặt tư tưởng và văn hóa của xã hội thời đó. Hay nói cách khác, phong trào văn hóa
Phục hưng là một cuộc cách mạng tư tưởng của giai cấp tư sản.

1. Thời cổ đại
Phương Đông
- Văn minh Phương Đông xuất hiện sớm nhất trong lịch sử, gồm có 4 nền văn minh tiêu
biểu của nhân loại: Ai Cập, Lưỡng Hà xuất hiện khoảng 200 năm cuối thế kỷ IV TCN;
Ấn Độ đầu thế kỷ II TCN; Trung Hoa cuối thế kỷ III TCN… Các nền văn minh này hình
thành trên lưu vực các con sông lớn (sông Nile, sông Euphrates, Tigris, sông Ấn, sông
Hằng, sông Hoàng Hà, Trường Giang). Từ đó hình thành các đồng bằng phù sa màu mỡ,
tạo điều kiện nông nghiệp sớm phát triển dẫn đến nhà nước ra đời, dân cư sớm bước vào

Trong đó, Phương Tây là người chủ động tiếp thu, kế thừa và phát triển văn minh
Phương Đông. Ngoài ra, sự tiếp xúc văn minh Đông – Tây còn được thông qua con
đường tơ lụa.
2. Thời trung đại
Sự giao lưu, tiếp xúc văn hóa, văn minh ngày càng phát triển thông qua chính trị, con
đường tơ lụa, các cuộc phát kiến địa lý.
8
Phương Tây
Lịch sử trung đại, nói chung, là ls của chế độ PK, chia thành 3 GĐ: sơ kỳ, trung kỳ và
mạt kỳ. Trên nền tảng nền Văn minh Hy Lạp, La Mã, xuất hiện nhiều quốc gia lớn ở Tây
Âu như Pháp, Đức, Ý (Thế kỷ IX), Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha (tk XV)…
* Sơ kỳ (tk V – X)
- Tình hình chung: sự diệt vong của các đế quốc Tây LM, tộc người Gecman xâm nhập,
thành lập nhiều vương quốc mới, sau bước vào chế độ phong kiến. Kinh tế Tây Âu thời
kỳ này mang nặng tính tự cấp, tự túc, VH và GD k đc chú ý phát triển, đánh dấu một GĐ
suy thoái của VH Tây Âu.
- Dưới thời cai trị của Charlemagne, VH ở vương quốc Franc có bước phát triển đáng ghi
nhận, thường được gọi là “VH phục hưng” thời Carolingien. MĐ: đào tạo quan lại, giáo
sĩ để quản lý các công việc của NN và truyền đạo; mở trường học cung đình, khuyến
khích con em quý tộc vào học, mời các thầy giáo nổi tiếng đến dạy… lấy thần học làm
ND dạy và học, lấy cung đình và nhà thờ làm tủng tâm. Tồn tại rất ngắn ngủi và bị suy
sụp k lâu sau cái chết của Charlemagne.
* Trung kỳ (tk XI – XV)
- Kinh tế phát triển với sự xuất hiện của các thành thị Tây Âu nhờ những bước tiến
qtrọng của nông nghiệp và thủ công nghiệp. Những thành thị đầu tiên thường hình thành
trên nền các thành phố cổ thời La Mã hoặc là những tụ điểm thuận lợi về giao thông (đò,
đầu cầu, ngã ba sông…). Thợ thủ công và nông nô đến để trao đổi hàng hóa của mình.
- Hình thành tầng lớp dân cư mới – thị dân. Văn hóa Tây Âu cũng bắt đầu khởi sắc. KT
phát triển đòi hỏi tri thức, VH – XH cũng ngày càng cao. Các trường đại học tiêu biểu
xuất hiện: Sorbonne, Toulouse, Oxford, Cambridge… Ngôn ngữ giảng: Latin. PP: giảng

trong bmnn.
3. Thời cận đại
Phương đông: Xuất hiện nhiều nền văn minh mới, bị chi phối bởi các nhà nước chuyên
chế. Hạn chế ngày càng nhiều, một trong những nguyên nhân tạo sự trì trệ, chính sách bế
quan toả cảng làm cho văn minh phương đông ít tiếp xúc thế giới nên việc kế thừa, tiếp
thu hạn chế, phát triển chậm, trì trệ, bảo thủ, lạc hậu. Thời kỳ chính thức khẳng định
phương đông đi trước về sau, bị phương Tây vượt mặt. Phương đông chịu chi phối tư bản
phương tây (Ví dụ: trung quốc sáng tạo thuốc súng nhưng anh mới gửi tặng thuốc súng
nhiều nhất). Các thành tựu về tư tưởng, chính trị, khoa học kỹ thuật, quân sự và cả lối
sống phương tây được du nhập vào Phương Đông, làm cho xã hội phương Đông có
những chuyển biến lớn. Các phong trào duy tân ở châu Á xuất hiện ngày càng nhiều.
10
Phương tây: Thời đại của văn minh công nghiệp, gắn với công nghiệp, thủ công nghiệp,
sự xuất hiện quan hệ sản xuất và sản xuất tư bản chủ nghĩa, kinh tế hàng hoá phát triển
mạnh; các hoạt động thương mại trở nên nhộn nhịp, thành thị sầm uất, việc trao đổi buôn
bán mở rộng trên phạm vi thế giới. Tác động mạnh của phát kiến địa lý (cống hiến quan
trọng cho khoa học; kiến thức địa lý, thiên văn, kỹ thuật…). Trong thế kỷ 18, khoa học tự
nhiên phát triển, thế kỷ ánh sáng, thành tựu phát triển, hình thành các nước đế quốc chủ
nghĩa với phong trào xâm chiếm thuộc địa ở châu Á, châu Phi, châu Mỹ, châu Úc, tạo
điều kiện cho khu vực Tây Âu trở nên giàu có do sử dụng mọi thủ đoạn tàn bạo, khai
thác, vơ vét tài nguyên, bóc lột…
- Các cuộc cách mạng công nghiệp đánh dấu chuyển biến lịch sử, biến đổi nền kinh tế;
thay đổi lao động thủ công sang sản xuất cơ khí, ứng dụng máy hơi nước, than đá,
phương thức sản xuất TBCN. Nông nghiệp chuyển biến, đồng thời đạt nhiều thành tựu
như trong ngành luyện kim, dệt. Nhiều phát minh khoa học kỹ thuật ra đời trong thời cận
đại (thiên văn học có Kepler; vật lý có Newton; hóa học ra đời bảng hệ thống tuần hoàn
Mendeleev; y học nổi bật với Pasteur tìm ra vaccine; sinh học có Darwin; Graham Bell
phát minh ra điện thoại…). Nhiều học thuyết xã hội (trào lưu triết học Khai sáng; học
thuyết tư tưởng quyền tự do cá nhân, dân tộc; chủ nghĩa xã hội không tưởng, chủ nghĩa
xã hội khoa học) cùng nhiều thành tựu văn học – nghệ thuật ra đời.

chính trị ủng hộ việc thiết lập một xã hội phi nhà nước, không giai cấp, bình đẳng, dựa
trên sự sở hữu chung và điều khiển chung đối với các phương tiện sản xuất và tài sản nói
chung. -> tiến bộ đối với cntb.
- Hình thành các cuộc cách mạng khoa học lần 1 và lần 2 với nhiều thành tựu to lớn.
12


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status