CHƯƠNG 1. TỔNG QUÁT
1.1. Tầm quan trọng của đề tài
Học thuyết của Mác, trên cơ sở xây dựng hệ thống lý luận và hình thành phương
pháp tư duy khoa học về các quá trình kinh tế, đã trình bày một cách sáng tỏ bản
chất và nội dung của hình thái giá trị trong sản xuất và lưu thông hàng hóa.
Nổi bật trong hệ thống quan điểm của Mác là các học thuyết về giá trị thặng dư
và các hình thái biểu hiện có liên quan. Trong đó, lợi nhuận của tư bản thương
nghiệp – hay lợi nhận thu được từ quá trình lưu thông hàng hóa là một bộ phận
không thể tách rời, và có vai trò quan trọng trong việc hình thành mối quan hệ phân
chia giá trị thặng dư giữa các tập đoàn tư bản.
Do đó, việc nghiên cứu và tìm hiểu về lợi nhuận của tư bản thương nghiệp có ý
nghĩa quan trọng trong việc củng cố, hoàn thiện những lý luận có liên quan về quy
luật giá trị thặng dư, đặc biệt là trong khâu lưu thông hàng hóa.
1.2. Mục đích thực hiện đề tài
Góp phần trang bị kiến thức về những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác –
Lênin nói chung và hiểu biết về phạm trù lợi nhuận thương nghiệp nói riêng trong
nội dung môn học.
Chứng minh mối liên hệ giữa thương nghiệp cũng như tư bản thương nghiệp với
giá trị và giá trị thặng dư.
Hình thành phương pháp luận trong việc xác định, phân tích cũng như vận dụng
lý luận thực tiễn vào hoạt động chuyên ngành Quản trị kinh doanh tổng hợp.
1.3. Phương pháp nghiên cứu đề tài
Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, mà
trực tiếp là học thuyết về giá trị - lao động và học thuyết giá trị thặng dư của Các
Mác.
Sử dụng phương pháp lập luận dựa trên nền tảng của phép duy vật biện chứng và
phương pháp trừu tượng hóa khoa học, kết hợp việc thống kê, phân tích, tổng hợp
bản chất, nguồn gốc lợi nhuận của thương nghiệp với các hình thức có liên quan
trong quy luật giá trị thặng dư để làm rõ vấn đề.
CHƯƠNG 2. NỘI DUNG
2.1. Nguồn gốc lợi nhuận của tư bản thương nghiệp.
tư bản công nghiệp và tư bản thương nghiệp đều có thể tập trung điều kiện sẵn có
cho chức năng hoạt động của riêng mình trong sự phối hợp giữa mỗi bên để từ đó
tạo ra sự liên kết mang tính bắc cầu mang lại lợi ích từ giá trị hàng hóa cho cả hai
phía.
Từ mối liên hệ có tính chất bắc cầu giữa tư bản thương nghiệp và tư bản công
nghiệp nêu trên, có thể nhận ra rằng tư bản thương nghiệp có đặc điểm vừa phụ
thuộc vào tư bản công nghiệp, nhưng cũng đồng thời độc lập một cách tương đối.
Tư bản thương nghiệp phụ thuộc vào tư bản công nghiệp vì hình thức hoạt động
của tư bản thương nghiệp có thể hiểu một cách đơn giản là loại hình kinh doanh mua
đi – bán lại. Bởi vậy, tư bản công nghiệp có vai trò giống như một nguồn cung cấp
yếu tố chính và quan trọng cần thiết cho sự vận động của tư bản thương nghiệp, đó
là hàng hóa. Không có hàng hóa, tư bản thương nghiệp không có lý do và mục đích
để hoạt động, dẫn đến không thể tồn tại hình thái tư bản thương nghiệp. Đây là sự
phụ thuộc có tính chất khách quan và không mang ý nghĩa áp đặt hoàn toàn và lệ
thuộc tuyệt đối, vì tư bản thương nghiệp với chức năng hoạt động vốn có trên cơ sở
mua đi bán lại thực chất lại chính là cánh tay đắc lực cho tư bản công nghiệp thực
hiện giá trị hàng hóa.
Tuy nhiên, tư bản thương nghiệp cũng đồng thời độc lập một cách tương đối với
tư bản công nghiệp xuất phát từ tính chất và loại hình chuyển hóa giá trị hàng hóa
trong sự so sánh với tư bản công nghiệp. Đặc điểm đơn giản và dễ nhận thấy nhất đó
là chức năng hoạt động của tư bản công nghiệp là sản xuất ra hàng hóa, sản phẩm.
Quá trình này gắn liền với sự tư hữu về tư liệu sản xuất và nhân công lao động và
kết tinh các giá trị ban đầu vào trong sản phẩm dưới dạng hình thức giá trị sơ khai
gắn với thành phẩm tổng hợp từ các yếu tố: vốn đầu tư ban đầu, sức lao động và tư
liệu sản xuất. Trong khi đó, tư bản thương nghiệp thực hiện việc chuyển giao hàng
hóa từ tư bản công nghiệp vào lưu thông trên thị trường. Việc làm này đòi hỏi tư bản
thương nghiệp cũng cần có một số lượng tư hữu nhất định về tư bản, sức lao động
cũng như tư liệu sản xuất, nhưng để phục vụ cho việc phân phối, chuyển hóa giá trị
sử dụng tới tay người mua để đổi lấy giá trị. Việc làm này không trực tiếp sản xuất
ra sản phẩm mang giá trị. Sự khác nhau này xuất phát từ loại hình hoạt động của
2.1.4.1. Dịch vụ thương nghiệp là một loại hàng hóa, có giá trị và giá trị sử dụng
Khi mở rộng khái niệm cũng như quan điểm nhìn nhận về hàng hóa tồn tại trong
xã hội, chúng ta có thể xác định dịch vụ phân phối, lưu thông hàng hóa mà bộ phận
thương nghiệp cung cấp trong xã hội cũng là một loại hình hàng hóa.
Khác với những hàng hóa là sản phẩm hữu hình ra đời từ quá trình sản xuất,
hàng hóa mà dịch vụ thương nghiệp cung cấp cho xã hội ở đây là tất cả những khâu
được xử lý bên trong quá trình hình thành chức năng mua và bán sản phẩm như: bảo
quản, đóng gói, chuyên chở… Loại hàng hóa này có tính chất tồn tại vô hình và
được tổng hợp thông qua quá trình định tính và định lượng để từ đó xác định mức độ
hiệu quả và khả năng thực hiện chức năng của bộ phận thương nghiệp.
Khi xem xét dịch vụ thương nghiệp dưới vai trò là một loại hàng hóa, chúng ta
đồng thời liên hệ loại hàng hóa này với học thuyết giá trị của Mác và rút ra được
những nhận định cơ bản như sau:
- Giá trị sử dụng của hàng hóa dịch vụ thương nghiệp được nói đến ở đây chính
là hiệu quả mà bộ phận thương nghiệp mang lại trong việc chuyển hóa hàng hóa, sản
phẩm của tư bản công nghiệp thành giá trị tư bản. Dịch vụ thương nghiệp càng
nhanh chóng thực hiện các khâu phân phối, lưu thông sản phẩm một cách hiệu quả,
nhanh chóng thu về giá trị hàng hóa, thì giá trị sử dụng của loại hình hàng hóa dịch
vụ ấy lại càng cao.
- Giá trị của hàng hóa dịch vụ thương nghiệp liên quan tới các vấn đề về hao phí
lao động kết tinh trong quá trình ngành thương nghiệp tạo ra loại hàng hóa dịch vụ
này. Đó là kết tinh từ hao phí lao động của các thương nhân và kết tinh từ hao phí
lao động của bộ phận công nhân phụ trách việc bán hàng trong các lĩnh vực, ngành
nghề thương nghiệp.
Hai thuộc tính giá trị và giá trị sử dụng của hàng hóa dịch vụ thương nghiệp có
mối quan hệ chặt chẽ, vừa thống nhất, vừa mâu thuẫn với nhau và tuân theo đúng
học thuyết về giá trị của Mác.
2.1.4.2. Nguồn gốc lợi nhuận của tư bản thương nghiệp
Qua quá trình nhìn nhận và phân tích nêu trên, chúng ta có thể có được những
đánh giá ban đầu về sự hình thành cũng như nguồn gốc lợi nhuận của tư bản thương
Lợi nhuận của tư bản thương nghiệp được hình thành thông qua quá trình tư bản
thương nghiệp thực hiện chức năng phân phối và lưu thông hàng hóa. Dù tư bản
thương nghiệp chỉ đơn thuần thực hiện vai trò cầu nối trung gian (tương ứng khách
quan), hay tự bản thân nó tạo ra một loại hàng hóa đặc biệt (tương ứng chủ quan) để
mang trao đổi trong quá trình mua và bán thì cuối cùng, tư bản thương nghiệp cũng
đã trực tiếp tạo ra giá trị hàng hóa từ quá trình này.
Bên cạnh đó, qua quá trình phân tích nêu trên, một lần nữa khẳng định sự phù
hợp và bảo vệ cũng như củng cố cho những lý luận trong các học thuyết về giá trị
của Mác. Lúc này tư bản thương nghiệp và loại hình dịch vụ thương nghiệp khi thực
hiện chức năng phân phối trung gian và được xem xét dưới góc độ của một hình thái
sản phẩm, đã đáp ứng đúng theo các thuộc tính cơ bản cũng như thể hiện mối quan
hệ vừa thống nhất vừa mâu thuẫn giữa hai thuộc tính cơ bản của hàng hóa. Đây là
tiền đề tạo điều kiện cho việc tiếp tục đi sâu nghiên cứu và khái quát hóa hơn nữa về
bản chất lợi nhuận của tư bản thương nghiệp. Bởi lẽ chúng ta chỉ có thể có được sự
nhìn nhận thực chất về bản chất lợi nhuận của tư bản thương nghiệp, khi đã có sự
liên kết chặt chẽ và vận dụng hợp lý các nền tảng lý luận cơ sở trong việc xác định
đúng nguyên nhân cũng như đặc điểm, hình thái tồn tại của loại hình này.
HÀNG HÓA SẢN
PHẨM
HÀNG HÓA SẢN
PHẨM + HÀNG HÓA
DỊCH VỤ
THỊ TRƯỜNG
TIÊU DÙNG
2.2. Bản chất lợi nhuận của thương nghiệp
2.2.1. Lợi nhuận thương nghiệp
Khái niệm: lợi nhuận của tư bản thương nghiệp là một phần giá trị thặng dư, mà
nhà tư bản công nghiệp phải “nhượng lại” cho tư bản thương nghiệp do tư bản
thương nghiệp bán hàng hóa cho tư bản công nghiệp.
Theo học thuyết của Mác, giá trị thặng dư được tạo ra trong sản xuất, không hề
số vốn bỏ ra ban đầu.
Nếu xét lợi nhuận của tư bản thương nghiệp dưới góc độ bản chất khách quan
của chủ thể khi tham gia vào quá trình chuyển hóa và tạo ra giá trị, thì phần lợi
nhuận này cũng chính là phần giá trị thặng dư kết tinh trong sản phẩm, có được từ
khâu sản xuất ra sản phẩm thông qua việc chiếm đoạt giá trị dôi ra ngoài giá trị sức
lao động do người công nhân tạo ra trong quá trình sản xuất.
Trong công thức vận động của tư bản thương nghiệp:
T – H – T’
Theo công thức này, ban đầu tư bản thương nghiệp phải ứng ra một số vốn tư
bản là T để mua về hàng hóa H. Với cách hiểu về lợi nhuận thương nghiệp như đã
nêu ở trên, chúng ta có thể nhận thấy rằng trong số vốn tư bản mà tư bản thương
nghiệp ứng ra cho tư bản công nghiệp để mua trước hàng hóa H đã bao gồm một
phần giá trị thặng dư mà nhà tư bản công nghiệp mong muốn nhận được. Phần giá
trị thặng dư còn lại nằm trong sản phẩm hàng hóa, tư bản thương nghiệp sẽ thu về
phần giá trị thặng dư này cùng với số vốn tư bản đầu tư ban đầu bằng việc bán lại
hàng hóa với đúng giá trị khi lưu thông trên thị trường.
Gọi giá trị chưa bao gồm giá trị thặng dư của sản phẩm là T1.
Gọi giá trị thặng dư mà tư bản công nghiệp mong muốn thu về là T2.
Gọi giá trị thặng dư mà tư bản thương nghiệp được hưởng chênh lệch thông qua
giá mua hàng hóa là T3.
Lúc này, giá trị thực của sản phẩm là :
T’ = T1 + T2 + T3
Phần giá trị bao gồm giá trị thặng dư mong muốn thu về mà tư bản công nghiệp
nhận được khi bán hàng hóa cho tư bản thương nghiệp là:
T = T1 + T2
Công thức về sự chuyển hóa giá trị trong lưu thông của tư bản thương nghiệp lúc
này trở thành:
(T1 + T2) – (T3) – (T1 + T2 + T3)
Ở giai đoạn thứ nhất, tư bản thương nghiệp ứng ra một số tiền để mua lại hàng
hóa từ tư bản công nghiệp, do đó hàng hóa sau khi mua về nếu xét trong tổng thể
động của các nhân tố tham gia bên trong bao gồm các thương nhân và công nhân
bán hàng.
Giả sử hoạt động thương nghiệp gắn liền với việc tạo ra sản phẩm này chính là
quá trình sản xuất của tư bản thương nghiệp, chúng ta có thể xem xét việc hình
thành giá trị thặng dư của tư bản thương nghiệp dưới góc độ của việc sử dụng và
chiếm đoạt giá trị tăng thêm từ giá trị sức lao động của người lao động trong lĩnh
vực ngành nghề kinh doanh buôn bán. Trước tiên, xét về góc độ định tính thì sản
phẩm vô hình của tư bản thương nghiệp xuất hiện là để giải quyết vấn đề lưu thông
cho hàng hóa được sản xuất bởi tư bản công nghiệp, do đó tư bản thương nghiệp
không thể tái cấu trúc hàng hóa tư bản công nghiệp lại một lần nữa để định ra giá
bán mới. Như vậy, họ chỉ có thể tạo ra giá trị tăng thêm từ chính sản phẩm vô hình
của chính mình, không bằng cách nào khác ngoài việc chiếm đoạt giá trị này từ
người lao động trong lĩnh vực ngành nghề thương nghiệp.
Chúng ta có thể hình dung về phương thức này thông qua một ví dụ thực tế trong
cuộc sống, khi tư bản thương nghiệp yêu cầu nhân công lao động thực hiện nhiệm
vụ và phải đạt chỉ tiêu đề ra về doanh thu và giá bán, nhưng sự thật là chỉ cần thực
hiện gần tới chỉ tiêu đề ra thì tư bản thương nghiệp đã có thể thu về lợi nhuận mong
muốn. Phần lợi nhuận có được từ việc hoàn thành đúng, hoặc vượt chỉ tiêu mà người
lao động trong lĩnh vực thương nghiệp thực hiện được ở đây, chính là phần giá trị
sức lao động tăng thêm mà người lao động đã bỏ ra và kết tinh vào trong sản phẩm
dịch vụ vô hình của tư bản thương nghiệp.
Quá trình hoạt động của tư bản thương nghiệp khi thực hiện chức năng lưu thông
hàng hóa của bản thân mình, cũng đồng thời xuất hiện những hao phí có liên quan.
Đây cũng chính là lý do khiến cho tư bản thương nghiệp có thể thực hiện hành vi
đầu cơ để nâng giá bán, hoặc bán cao hơn giá trị thực của hàng hóa, nhằm thu về
phần lợi nhuận tăng thêm để từ đó bù đắp cho những chi phí phát sinh trong quá
trình thực hiện chức năng lưu thông hàng hóa trên thị trường.
2.2.3. Tiểu kết
Bằng những lập luận và phân tích cụ thể như đã trình bày ở trên, chúng ta lại một
lần nữa công nhận sự phù hợp và đúng đắn của học thuyết Mác khi ứng dụng trong
Quá trình tìm hiểu và xây dựng các luận điểm để hình thành phương pháp tư
duy, đánh giá về nguồn gốc cũng như bản chất của lợi nhuận thương nghiệp giúp
cho sinh viên chuyên ngành kinh tế có được sự tiếp xúc về mặt lý luận cần thiết,
nâng cao trình độ hiểu biết và khái quát hóa về những vấn đề có liên quan tới thương
nghiệp và lợi nhuận thương nghiệp. Đây chính là cơ sở nền tảng, là điểm khởi đầu
mang ý nghĩa xây dựng tiên quyết trong việc bồi dưỡng cho sinh viên chuyên ngành
kinh tế những nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng, cũng như vai trò của các thành
phần có liên quan khi áp dụng vào trong thực tế đời sống.
Cụ thể hơn, với chuyên ngành Quản trị kinh doanh là một chuyên ngành yêu cầu
ngay từ khâu tiếp xúc và nắm bắt bất kỳ một hiện tượng, một đối tượng nào có liên
quan tới công tác chuyên môn cũng cần phải có sự hiểu biết và quan điểm đúng đắn
ngay từ đầu. Từ đó xây dựng phương hướng chiến lược phù hợp nhằm nâng cao
hiệu quả và tối ưu hóa hoạt động, trong mục tiêu hướng tổ chức tới năng lực thực
hiện công việc cao nhất, thì những lý luận thực tiễn có được từ quá trình nghiên cứu
đề tài càng trở nên quan trọng và hữu dụng hơn bao giờ hết. Hiểu được quy luật vận
động của giá trị và tầm quan trọng của tư bản thương nghiệp trong quá trình tạo ra
giá trị, chúng ta sẽ biết cách khai thác hình thái này sao cho thật phù hợp và mang
lại lợi ích nhiều hơn cho xã hội và nhất là cho người lao động.
2.3.3. Tồn tại thực tế và biện pháp kiến nghị
Trong giai đoạn phát triển mới hiện nay trên toàn thế giới, trình độ kỹ thuật và
những tiến bộ khoa học đã góp phần tạo ra những hệ thống kinh tế có ưu thế vượt
trội. Các cường quốc tư bản nhờ việc tận dụng sức mạnh tư bản tài chính vốn có,
cùng với việc áp dụng những thành quả khoa học tiên tiến, đã tạo ra một khoảng
cách phát triển rất lớn với các quốc gia khác. Trong bối cảnh như vậy, để tìm ra một
con đường đi hiệu quả cho việc xây dựng và phát triển đất nước đòi hỏi chúng ta
phải nhìn nhận một cách toàn diện và đánh giá đúng mức tầm quan trọng của một số
thành phần kinh tế, đặc biệt là bộ phận thuộc lĩnh vực ngành nghề thương nghiệp.
Bộ phận này có thể nói chính là cánh tay đắc lực trong việc đưa sản phầm và hàng
hóa Việt Nam đến với thị trường thế giới, góp phần cải thiện cũng như nâng cao
hình ảnh đất nước trong quá trình hội nhập không chỉ trong khu vực, mà còn trên