LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành tốt đợt thực tập và hoàn thành bài khóa luận này, ngoài sự
nỗ lực của bản thân, chúng tôi đã nhận được sự quan tâm, hướng dẫn, giúp đỡ
của các tập thể, cá nhân trong và ngoài nhà trường.
Tôi xin chân thành cảm ơn:
Lãnh đạo trường Đại học Tây Nguyên, lãnh đạo khoa Chăn nuôi Thú y và
các Phòng, Ban đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập.
Quý thầy cô trong bộ môn Cơ sở Thú y, Thú y Chuyên Ngành, Ngoại
nhiễm – Ký sinh, Chăn nuôi chuyên khoa đã tận tụy, truyền thụ những kiến thức
quý báu về nghề nghiệp cho chúng tôi trong suốt khóa học.
Xin trân trọng cảm ơn:
Thạc sĩ Đoàn Thị Kim Phượng – giảng viên Khoa Chăn nuôi Thú y đã tận
tình hướng dẫn, giúp đỡ chúng tôi trong suốt quá trình thực tập và hoàn thành
khóa luận này.
Thạc sĩ Nguyễn Thị Vân Anh – cố vấn học tập lớp Thú y K2009 đã luôn
theo sát, động viên chúng tôi trong quá trình học tập.
Tiến sĩ Đinh Nam Lâm, cô Huỳnh Thị Hồng Ngọc đã chỉ bảo hết mình, tận
tình giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài tại phòng thí nghiệm.
Trạm Thú y Thành phố Buôn Ma Thuột đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi
hoàn thành khóa luận này.
Xin cảm ơn sự động viên, giúp đỡ của gia đình, bạn bè và tập thể lớp Thú y
K2009.
Buôn Ma Thuột, tháng 6 năm 2014
Tác giả
Hồ Viết Thành
1
MỤC LỤC
NỘI DUNG Trang
Lời cảm ơn i
Danh mục bảng biểu, đồ thị iv
PHẦN I
3.3.5. Phương pháp xử lý số liệu 20
PHẦN IV
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1. Một số đặc điểm của khu vực nghiên cứu 21
4.1.1. Điều kiện tự nhiên Thành phố Buôn Ma Thuột 21
4.1.2. Đặc điểm kinh tế xã hội 21
4.2. Tình hình chăn nuôi chó và công tác thú y tại Thành phố Buôn Ma
Thuột 23
4.2.1. Tình hình chăn nuôi chó 23
4.2.2. Công tác thú y trên địa bàn Thành phố Buôn Ma Thuột 24
4.3. Tỷ lệ nhiễm theo khu vực 25
4.4. Tỷ lệ nhiễm theo tuổi 26
4.5. Tỷ lệ nhiễm theo giống chó 28
4.6. Tỷ lệ nhiễm theo quy mô đàn 30
4.7. Tỷ lệ nhiễm giun đũa giữa chó mẹ và chó con trên cùng một đàn 31
4.8. Tỷ lệ nhiễm giun đũa theo phương thức nuôi 34
4.9. Liên quan giữa yếu tố vệ sinh và tỷ lệ nhiễm giun đũa 36
4.10. So sánh khả năng tẩy giun của thuốc Exotral và Bio-rantel 37
4.11. Đề xuất biện pháp phòng trị giun đũa trên chó nuôi tại địa bàn Thành
phố Buôn Ma Thuột 39
4.9.1. Phòng bệnh 39
4.9.2. Trị bệnh 40
PHẦN V
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
5.1. Kết luận 42
5.2. Kiến nghị 42
3
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, BIỂU ĐỒ
Danh mục bảng biểu Trang
Bảng 4.3: Tỷ lệ nhiễm giun đũa theo khu vực 25
người chọn nuôi thú cưng để thư giãn đầu óc của mình, có người nuôi chim,
nuôi chuột, người thì nuôi gà, nuôi rắn, nhưng đặc biệt vật nuôi được lựa chọn
nhiều nhất là chó. Nuôi chó không chỉ để trông nhà mà có thể làm bạn với con
người, bởi nó thông minh, gần gũi và rất trung thành với chủ.
Ở Việt Nam có rất nhiều giống chó được con người nuôi dưỡng, ở các vùng
nông thôn, giống chó cỏ được nuôi nhiều nhất, tuy nhiên vẫn có những giống
chó quý như chó Phú Quốc, chó cộc H’Mông,… Ở các đô thị lớn, do điều kiện
kinh tế tốt hơn nên người ta thường nuôi các giống chó ngoại, chó quý, đắt tiền,
có thể kể ra như: Berger, Chihuahua, Fox, Nhật, Bắc Kinh, Bulldog…để làm
bạn, làm cảnh.
Nhưng cùng với việc phát triển nuôi chó là sự phát triển các dịch bệnh của
chúng. Do kỹ thuật nuôi dưỡng của con người chưa đúng, không có biện pháp
phòng bệnh thích hợp nên dịch bệnh xảy ra trên chó là khó tránh khỏi. Các bệnh
truyền nhiễm như bệnh Caré, viêm ruột tiêu chảy do Parvo, dại…gây chết rất
nhanh cho thú cưng. Tuy nhiên, nguy hiểm hơn là một số bệnh có thể lây sang
người gây nên các bệnh cho con người, rất khó chữa trị, ngoài bệnh dại còn có
các bệnh liên quan đến ký sinh trùng. Con người luôn gần gũi với chó, đặc biệt
là trẻ em, nên khả năng lây nhiễm ký sinh trùng từ chó sang người là rất cao,
trong đó có giun đũa. Giun đũa cũng là một trong những mối nguy hiểm đó.
Chúng không chỉ gây nên những bệnh trên chó mà khi lây lan sang người chúng
cũng gây ra những hậu quả cực kỳ nghiêm trọng. Khi người ăn phải ấu trùng
6
gây nhiễm, ấu trùng sẽ di hành đến một số cơ quan như: gan, phổi, não, mắt làm
gan sưng, tích nhiều bạch cầu ưa acid, sốt, ho.
Hiện nay đã có nhiều công trình nghiên cứu ký sinh trùng ở Việt Nam cho
thấy giun đũa không những gây tác hại cho chó, nhất là chó con mà còn gây
bệnh cho con người.
Xuất phát từ thực tế trên, được sự đồng ý của Trường Đại học Tây Nguyên,
Khoa Chăn Nuôi Thú Y, Bộ môn Cơ sở thú y, chúng tôi tiến hành thực hiện đề
tài:
Bệnh giun sán là bệnh nội ký sinh trùng phổ biến và gây nhiều tác hại cho
người và gia súc. Vì vậy đã có nhiều công trình nghiên cứu về bệnh ký sinh
trùng ở vật nuôi, trong đó có các công trình nghiên cứu bệnh giun sán trên chó.
Ở nước ta, các công trình nghiên cứu về vấn đề này chỉ bắt đầu vào những năm
đầu thế kỷ XX, có thể tổng kết một số công trình nghiên cứu như sau:
Lê Hữu Nghị và Nguyễn Văn Duệ (2000) đã xét nghiệm phân 130 chó tại
thành phố Huế, cho biết tỷ lệ nhiễm Toxocara canis và Toxascaris leonina có tỷ
8
lệ tương ứng là: chó sơ sinh đến 6 tháng tuổi: 88,46%, 73,08%; chó từ 6 tháng
đến 1 năm tuổi: 50%, 36,36%; chó từ 1 đến 3 năm tuổi: 14,29%, 0%; chó từ 3
năm đến 5 năm tuổi: 28,57%, 14,29%; chó từ 5 năm đến 10 năm tuổi: 66,67%,
0%.
Từ năm 1970 đến 1972, Đỗ Hài (1972) đã xét nghiệm 174 mẫu phân chó
nuôi ở miền Bắc cho thấy tỷ lệ nhiễm giun đũa chung là 47,1%. Ở chó con (thời
kỳ chưa mở mắt) kiểm tra phân đã thấy trứng giun đũa. Chó một tháng tuổi đến
cai sữa đều có nhiễm. Từ 4 đến 5 tháng tuổi trở đi, giun đũa giảm rõ rệt. Chó mẹ
nuôi con nhiễm với tỷ lệ 73,7%, chó trưởng thành nhiễm 17,1%.
Phạm Sỹ Lăng và cộng tác viên (1991) đã xét nghiệm 364 mẫu phân chó
cảnh tại vườn thú Thủ Lệ (Hà Nội), cho thấy tỷ lệ nhiễm giun đũa là 20,4% và
tác giả đã nhận định rằng bệnh giun đũa gây tác hại rất lớn cho chó con từ 1-4
tháng tuổi.
Trịnh Văn Thịnh và ctv (1982) đã xét nghiệm phân và mổ khám 104 chó
săn ở Hà Nội, tỷ lệ nhiễm giun đũa Toxocara canis là 29%, Toxacaris leonina là
31,1%. Trong đó chó con có tỷ lệ nhiễm cao nhất, 17-20 ngày tuổi đã có triệu
chứng bệnh. Tỷ lệ nhiễm của chó sơ sinh đến 4 tháng tuổi là 53%, chó từ 6
tháng đến 12 tháng tuổi là 25%, chó trưởng thành 12%.
Ngô Huyền Thúy (1996) khi nghiên cứu thành phần giun sán trên đường
tiêu hóa của chó ở Hà Nội, công bố có hai loài giun đũa ký sinh là Toxocara
canis và Toxascaris leonina với tỷ lệ nhiễm qua phương pháp mổ khám tương
ứng là 13,2% và 21,17%, qua phương pháp xét nghiệm phân là Toxocara canis
Toxocara canis đầu hơi cong về mặt bụng và có 3 môi, cánh đầu rộng, giữa
thực quản và ruột có dạ dày nhỏ, đây là một đặc điểm của họ Anisakidae. Con
đực dài 50 – 100mm, đuôi hơi tù, có 2 gai giao hợp bằng nhau: 0,075 –
0,085mm. Giun cái dài 90 – 180mm. Trứng hơi tròn, kích thước 0,080 – 0,085 x
0,064 – 0,072. vỏ trứng dày sần sùi, không trơn láng. (Nguyễn Văn Diên, 2006)
Toxascaris leonina đầu có 3 môi, thực quản đơn giản, hình trụ, không có
hành thực quản và không có dạ dày. Giun thường ký sinh ở ruột non của chó
trên 6 tháng tuổi và chó trưởng thành. Đầu hẹp hơi cong về phía lưng và có cánh
10
đầu. Con đực dài 40-80 mm, đuôi nhọn không tù như Toxocara canis. Hai gai
giao hợp dài bằng nhau 0,7-1,5 mm. Con cái dài 60-100 mm. Trứng hình bầu
dục, lớp vỏ bên ngoài nhẵn, đường kính 75-85x60-75 µm, lớp vỏ giữa dày.
(Nguyễn Văn Diên, 2006)
2.2.3. Chu trình phát triển của giun đũa
* Chu trình phát triển của Toxocara canis
Toxocara canis có chu trình phát triển hoàn hảo nhất và tiêu biểu cho họ
giun đũa. Giun ký sinh ở ruột non của chó, cáo. Trứng mới đẻ có 1 tế bào phôi
bên trong, tế bào phôi sẽ phát triển thành ấu trùng 1 rồi tiếp tục lột xác thành ấu
trùng 2 trong trứng. Thời gian phát triển thành trứng gây nhiễm khoảng 10 – 15
ngày và có 4 cách truyền bệnh như sau:
(1) Chó dưới 3 tháng tuổi nuốt phải trứng gây nhiễm, ấu trùng 2 nở ra ở
ruột, chui qua thành ruột theo hệ thống tuần hoàn di hành đến gan. Tại đây
chúng lột xác thành ấu trùng 3, rồi đến phổi và tiếp tục ra khí quản, hầu. Khi gia
súc ho, ấu trùng 3 được nuốt xuống ruột non, lột xác 2 lần nữa để thành ấu trùng
5 và trưởng thành sau 1 tháng.
(2) Ở chó lớn hơn dạng di hành trên xảy ra ít hơn và ở 6 tháng tuổi dường
như không có sự di hành này. Thay vào đó, ấu trùng 3 sau khi từ gan đến phổi sẽ
trở về các mô gan, phổi, não, tim và tích trữ ở đó.
(3) Đến khi chó mang thai:
- Vào lúc 3 tuần trước khi sinh, ấu trùng 3 di hành qua nhau đến phổi của
12
Trước đây một số tác giả cho rằng vòng đời của Toxascaris leonina tiến
triển cũng giống như các loài giun đũa khác, tức là có sự di chuyển bắt buộc của
ấu trùng theo hệ thống tuần hoàn. Nhưng sau đó, người ta xác nhận là, trong cơ
thể chó ấu trùng không di chuyển theo hệ thống tuần hoàn. Trứng Toxascaris
leonina thải ra rất nhanh chóng đạt tới giai đoạn gây nhiễm (Theo A.N. Petrov
và A.M. Borockova), sự phát triển của trứng đến giai đoạn hình thành ấu trùng ở
nhiệt độ 19-22
o
C kéo dài 4 ngày, ở nhiệt độ 28-30
o
C chỉ 3 ngày và nhiệt độ 38
o
C
đến 40
o
C trở lên trứng bị chết.
Chó bị nhiễm bệnh là do ăn phải trứng Toxascaris leonina cùng với thức ăn
và nước uống. Trong ruột chó, ấu trùng chui ra khỏi trứng, xâm nhập vào thành
ruột và lần lượt lột xác. Những ấu trùng này không di chuyển vào máu, mà đi
vào lòng ruột, tiếp tục lột xác, phát triển và đạt tới giai đoạn trưởng thành. Thời
gian Toxascaris leonina phát triển đến giai đoạn trưởng thành trong ruột chó kéo
dài từ 55 đến 72 ngày. Ta có thể mô tả khái quát chu trình phát triển của loài
Toxascaris leonina qua sơ đồ sau:
13
Trứng gây nhiễm (Phôi L2)
Phôi L2 ở dạ dày
Ký chủ trung gian Chó, Mèo
Phôi từ dạ dày di Phôi L2 lột xác thành L3
hành, đóng kén ở cơ và tại niêm mạc ruột non
Phương thức bảo vệ chủ yếu dựa vào miễn dịch đặc hiệu.
Khi ký sinh xâm nhập, cơ thể tăng cường sản xuất IgE đặc hiệu và bạch cầu
ái toan. Chúng hoạt động theo cơ chế gây độc tế bào phụ thuộc kháng thể
(ADCC).
IgE cũng đóng vai trò quan trọng trong quá mẫn type I (quá mẫn tức khắc,
quá mẫn nhanh điển hình theo cách phân loại cũ). Tế bào B sản xuất ra IgE với
sự giới thiệu kháng nguyên của APC (Tế bào trình diện kháng nguyên) và T
H
.
Tế bào B ở vùng kháng nguyên xâm nhập sản xuất tại chỗ IgE, IgE sẽ gắn kết
với tế bào ái kiềm và mast tại vùng đó, lượng IgE sẽ gia nhập tuần hoàn và tiếp
tục gắn vào các tế bào này trong tuần hoàn.
15
IgE có phần Fc phù hợp với receptor trên bề mặt của tế bào mast,
basidophil và eosophil. Chúng thường cắm phần đầu Fc vào các tế bào trên, còn
phần Fab thì hướng ra ngoài, nên IgE lưu hành tự do trong máu với số lượng rất
ít (1/1000 so với IgE gắn trong tế bào). Đời sống của IgE (T
1/2
) trong máu là 2,5
ngày so với IgG là 20 ngày, nhưng khi gắn trên tế bào thì chúng tồn tại nhiều
tuần.
Khi IgA ở trên bề mặt niêm mạc (ruột, hô hấp) không ngăn được sự xâm
nhập của ký sinh trùng thì IgE sẽ được sản xuất mạnh mẽ. Nó có thể cùng bạch
cầu ưa acid ra lòng ruột diệt ký sinh, hoặc kích hoạt tế bào mast gây phản ứng
viêm, tăng hiệu quả thực bào, khu trú và diệt ký sinh; nó cũng kích thích IgG và
bổ thể ra lòng ruột diệt ký sinh.
(Theo Nguyễn Như Thanh, 2005)
2.2.6. Tác hại của giun đũa trên người
Hình 2.2.6. Vòng đời giun đũa gây hại trên con người
Toxocara là loại giun tròn ký sinh ở động vật, người thường nhiễm
không vị, không tan trong nước nhưng tan trong cồn.
Levamisole
Tính chất: Thuộc nhóm imidazothiazole, là dạng đồng phân S (-) của
Tetramisole.
2.3.1.2. Cơ chế tác dụng
Niclosamide
Thuốc thấm vào thân sán dây và giun tròn qua các vết bị tổn thương do
thuốc tạo ra. Thuốc ảnh hưởng đến sự chuyển hóa năng lượng của sán có thể do
ức chế sự sản sinh ra Adenosin Triphosphat (ATP) ở ty lạp thể. Thuốc cũng ức
chế sự thu nhận glusoce của nội ký sinh trùng, tách đôi các phản ứng
phosphoryl-oxy hóa ở ty lạp thể, kết quả là chu trình Krebs bị phong bế nên tích
lũy acid lactic gây độc. Tác dụng còn tùy vào tuổi giun sán. Con non ít chịu tác
dụng của thuốc hơn con trưởng thành. Sán chết được tiêu hóa trước khi ra khỏi
cơ thể.
Levamisole
Thuốc ức chế Succino-dehydrogenase ở cơ giun, cản trở sự chuyển Fumarat
sang Succinat, từ đó làm giảm năng lượng cho co cơ. Do vậy làm giun bị tê liệt
và tống ra ngoài. Thuốc không hề tác dụng lên Succino-dehydrogenase của vật
chủ. Cơ giun, sán bị co quắp mạnh do Acetylcholin tăng nhanh tại các synap
thần kinh cơ của giun, sán.
Niclosamide và Levamisole là hai thành phần chính trong sản phẩm Exotral
để phòng trị giun tròn đường ruột, giun tim, sán dây. Thuốc có thể diệt được giai
18
đoạn trưởng thành, ấu trùng L4 của Ascaris, Ancylostoma, Uncinaria, Taenia,
Angiostrongylus, Dirofilaria,…
2.3.2. Thuốc tẩy giun Bio-rantel
Bio-rantel là sản phẩm của công ty thuốc thú y và thuốc thủy sản Bio,
chuyên sử dụng để tẩy giun sán trên chó mèo.
Trong một viên Bio-rantel có:
Praziquantel 25mg
PHẦN III
NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng, thời gian, địa điểm nghiên cứu
3.1.1. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài được thực hiện trên các loại chó nuôi tại các hộ gia đình nuôi chó
trên địa bàn Thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đăk Lăk.
3.1.2. Thời gian nghiên cứu
Từ 3/2014 đến 7/2014
3.1.3. Địa điểm nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu tại 3 phường Khánh Xuân, EaTam, Thắng Lợi và
xét nghiệm mẫu tại Bộ môn cơ sở thú y – Khoa Chăn nuôi Thú y – trường Đại
học Tây Nguyên.
3.2. Nội dung nghiên cứu
- Một số đặc điểm của khu vực nghiên cứu
- Tỷ lệ nhiễm giun đũa theo khu vực
- Tỷ lệ nhiễm giun đũa theo quy mô đàn
- Tỷ lệ nhiễm giun đũa theo lứa tuổi
- Tỷ lệ nhiễm giun đũa theo giống
- Tỷ lệ nhiễm giun đũa giữa chó mẹ và chó con trên cùng một đàn
- Tỷ lệ nhiễm giun đũa theo phương thức nuôi
- Liên quan giữa yếu tố vệ sinh và tỷ lệ nhiễm giun đũa
- Thử nghiệm tẩy trừ giun đũa bằng thuốc Exotral và Bio-rantel
- Đề xuất biện pháp phòng trị giun đũa cho đàn chó nuôi tại Thành phố
Buôn Ma Thuột.
3.3. Phương pháp nghiên cứu
3.3.1. Phương pháp lấy mẫu
Chúng tôi thực hiện lấy 180 mẫu ngẫu nhiên tại 3 phường là Khánh Xuân,
EaTam, Thắng Lợi.
22
Cách tiến hành
lỗ/cm
2
để loại bỏ cặn bã. Dung dịch phân đã lọc được cho vào lọ penicilin cho
đến khi quan sát thấy mặt nước trên miệng lọ hơi vồng lên. Đặt trên miệng lọ
một phiến kính khô và sạch. Sau 5 – 10 phút lấy lam kính ra rồi đặt vào phiến
kính một lamen, đem quan sát dưới kính hiển vi ở vật kính 10 và 40. Nếu thấy
có trứng giun đũa kết luận dương tính, ngược lại là âm tính.
3.3.3. Phương pháp xác định cường độ nhiễm giun đũa trên chó
Sử dụng phương pháp đếm trứng Mc. Master, xác định số lượng trứng giun
có trong 1g phân bằng buồng đếm Mc. Master.
Buồng đếm Mc. Master gồm:
- 2 lam kính, cách nhau 1,5mm
- 2 buồng đếm, mỗi buồng 6 ô
- Kích thước mỗi buồng là 1cm x 1cm ở mặt trên.
Cách thực hiện
Cân 4g phân cho vào cốc thủy tinh, thêm 56ml dung dịch nước muối bảo
hòa, khuấy đều cho tan phân. Lọc qua lưới thép vào một cốc khác và khuấy đều.
Trong khi đang khuấy, lấy công tơ hút hút dung dịch phân nhỏ đầy cả 2 buồng
đếm Mc. Master (mỗi buồng đếm có dung tích 0,5ml). Để yên 5 phút rồi kiểm
tra dưới kính hiển vi (độ phóng đại 10 x 10).
Trong thực tế, để dễ phát hiện và dễ đếm trứng, có thể cải tiến như sau:
- Bước 1: cân 4g phân vào cốc thủy tinh, thêm nước cất (khoảng 100-
150ml), khuấy tan phân, lọc bỏ bã thô. Nước lọc để lắng trong 1 – 2 giờ, gạn bỏ
nước, giữ lại cặn.
- Bước 2: cho 56ml dung dịch nước muối bảo hòa, khuấy đều cho tan cặn.
Trong khi đang khuấy , lấy công tơ hút hút lấy 1ml dung dịch nhỏ đầy 2 buồng
đếm Mc. Master. Để yên trong 5 phút rồi kiểm tra dưới kính hiển vi (độ phóng
đại 10 x 10).
Đếm toàn bộ trứng trong những ô của 2 buồng đếm, rồi tính theo công thức
sau :
25
Số chó dương
tính với giun đũa
Tổng số chó
khảo sát
Số chó có kết quả âm
tính
x100%
Số chó được xét
nghiệm phân
x100%