skkn dạy học văn biểu cảm ở trường thcs - Pdf 25

A. ĐẶT VẤN ĐỀ
I. LỜI MỞ ĐẦU
Như chúng ta đã biết, trước khi đến trường các em đã được tiếp xúc với văn
chương qua lời ru của bà, của mẹ. ngay từ lúc lọt lòng mẹ, các em đã được nghe
những điệu hát ru dân ca mượt mà đằm thắm, lớn lên chút nữa các em lại được
thưởng thức những giai điệu quê hương qua đài, tivi, qua truyện tranh, sân khấu,
xem phim qua các nghệ thuật ấy các em đã tiếp xúc với văn chương. Mỗi em ở
mức độ khác nhau, đã phân biệt được một cách đại thể cái tốt, cái xấu, cái hay cái
dở đó là những cảm xúc hình thành “như một năng lực bẩm sinh, hồn nhiên nhưng
rất mạnh, rất dai dẳng và lâu bền, đúng hoặc sai cũng đều như vậy”.
Khi đến trường các em được tiếp xúc với văn chương qua môn học Tiếng Việt và
tập đọc ( ở Tiểu học). Lên THCS các em mới được học văn chương với tư cách là
môn học. Các em thực sự đối diện với tác phẩm văn chương qua hình tượng nghệ
thuật một cách có hướng dẫn và khi đó những cảm xúc thẩm mỹ của các em mới
thực sự được và cần phải được uốn nắn, sửa chữa và bồi dưỡng nâng lên thành năng
lực cảm thụ thẩm mỹ đúng đắn. song trong thực tế tác phẩm văn chương lại được
phân chia thành nhiều loại khác nhau. hiện nay, chương trình và sgk mới đưa ra sáu
kiểu văn bản: tự sự, miêu tả, biểu cảm ( trữ tình), lập luận (nghị luận), thuyết minh
và hành chính công vụ, mỗi kiểu văn bản có một vị trí và chức năng riêng trong toàn
bộ chương trình trong đó văn biểu cảm là loại hình chiếm vị trí đặc biệt hơn cả trong
chương trình THCS. Biểu cảm (trữ tình) là loại hình chiếm vị trí khá quan trọng
trong chương trình và sgk ngữ văn THCS. Cũng như tác phẩm tự sự các tác phẩm
trữ tình chiếm đến gần một nữa khối lượng và thời gian trong chương trình sgk chưa
kể những bài kí, những nghị luận mà yếu tố trữ tình khá đậm. đó là những bài thơ,
bài ca dao trữ tình và trào phúng, những bài thơ đường luật, những bài thơ lục bát,
thơ năm chữ, những bài thơ tự do rất phù hợp với sự hiểu, cảm của học sinh. đó là
những sáng tác, những nhà thơ lớn của dân tộc từ nguyễn trãi, nguyễn du, nguyễn
khuyến cho đến Hồ Chí Minh, Tố Hữu,Huy Cận là tiếng nói cao đẹp về tình yêu
quê hương đất nước, tình yêu con người, là tiếng đập khẽ khàng của con tim trước
vẻ đẹp thiên nhiên, của tình người mà bất kì học sinh nào đặt chân đến trường cũng
cần được học tập, bồi dưỡng để mở rộng tâm hồn, nâng cao mơ ước và bồi dưỡng

được khám phá với tư cách là một môn học độc lập.
- Mặt khác hiện nay do nhận thức sai lệch về chọn môn học của học sinh và các bạc
phụ huynh thường coi trọng học toán hơn học văn. Nên phần lớn các em chưa thực
sự ham học môn văn và cũng chưa đầu tư cho việc mua tài liệu phục vụ cho môn
học này.
- Một nguyên nhân quan trọng khác là phương pháp dạy học mới theo sgk cải cách
còn gây nhiều lúng túng đối với giáo viên. Đặc biệt việc dạy học tác phẩm theo đặc
trưng thể loại ít được quan tâm đúng mức trong dạy học. Quan niệm văn bản tự sự
hay biểu cảm cũng đều là văn bản văn học, việc học, dạy tác phẩm tự sự cũng như
trữ tình đều như nhau vẫn còn tồn tại. Vì vậy phương pháp dạy học tác phẩm trữ
tình ít được trú trọng trong quá trình dạy học do đó chưa kích thích được trí tò mò,
sự yêu thích môn học của học sinh.
2. Kết quả thực trạng.
Qua khảo sát chất lượng đầu năm 2009 – 2010 của hai lớp 6A, 9A chất lượng bộ
môn cụ thể là:
Lớp Sĩ số Điểm < 5 Điểm 5 - 6 Điểm 7 - 8 Điểm 9 - 10
B. GIẢI QUYẾT VÂN ĐỀ
I. NHỮNG GIẢI PHÁP THỰC HIỆN
Nắm chắc bao quát toàn bộ chương trình sgk
Tìm ra phương pháp dạy học phù hợp đối với kiểu văn bản biểu cảm( trữ tình),
phát huy được năng lực cảm thụ, tư duy sáng tạo của học sinh cũng như các chức
năng cơ bản của môn học ngữ văn ở THCS .
- Nắm đặc điểm của tác phẩm trữ tình
- Nắm các biện pháp, hình thức dạy học tác phẩm trữ tình
+ Đọc thơ trữ tình
+ Giảng bình thơ
+ Tìm hiểu tâm trạng trong tác phẩm trữ tình
+ Tìm hiểu các yếu tố thi pháp thơ trữ tình
- Phác thảo diện mạo về mặt lý thuyết một bài dạy học tác phẩm trữ tình
II. CÁC BIỆN PHÁP TỔ CHỨC THỰC HIỆN:

súc, gợi cảm, giàu nhạc điệu .
Những bài thơ trữ tình được chọn lọc đưa vào chương trình Ngữ văn THCS từ bài
lượm, Đêm nay Bác không ngủ, đến Qua đèo ngang, Ông Đồ, Viếng lăng Bác đều
là tiếng lòng thầm kín của tác giả trước cuộc đời bằng thứ ngôn ngữ đặc biệt đó.
2. Các biện pháp, hình thức dạy học tác phẩm trữ tình.
a. Đọc thơ trữ tình:
Đọc diễn cảm là bước đầu tạo tiền đề cho hoạt động tái hiện và khả năng thực hiện
dễ dàng, đầy đủ hoạt động tái hiện . Với tác phẩm trữ tình đọc vừa là đồng cảm, vừa
là diễn cảm. Cũng nhờ đọc mà học sinh như vừa được chứng kiến vừa được thể
nghiệm. vì thế, đọc, tái hiện, tri giác hình tượng là hoạt động không thể coi nhẹ
trong quá trình dạy học thơ trữ tình . Tái hiện hình tượng thơ không những là một
thao tác tư duy để đi vào tác phẩm mà còn là một bí quyết truyền thụ nữa. Một bài
thơ như “ Bếp lửa” ở Ngữ văn 9 mà việc đọc và tái hiện hình tượng không được
thực hiện tốt thì khó mà thu được kết quả. Cả một dòng hoài niệm tuôn chảy theo
thời gian, sống dậy trong tâm tưởng nhà thơ, nếu không được tái hiện thì khó mà gợi
được rung động, cảm xúc. Chỉ một đoạn thơ ngắn ở phần đầu cũng là một sự liên
tưởng mạnh mẽ:
“ Lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khói.
Năm ấy là năm đói mòn đói mỏi.
Bố đi đánh xe khô rạc ngựa gầy.
Chỉ nhớ khói hun nhèm mắt cháu
Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay ”
Nhờ đọc và tái hiện hình tượng và cảm quan nghe, nhìn được khơi động theo âm
vang của ngôn ngữ tác phẩm. Kết quả nhận thức bằng cảm giác, tri giác tạo điều
kiện cho tưởng tượng bay bổng và tái hiện được sáng rõ những hình ảnh do tác giả
vẽ nên trong tác phẩm. ngoài đọc diễn cảm, giáo viên cần mô tả, kích thích trí tưởng
tượng ở học sinh. hình ảnh càng sáng rõ, sức cảm thụ càng mạnh, sức đồng cảm
càng cao, giáo viên và học sinh càng có điều kiện giao cảm với nhau và với tác giả.
Để dạy tốt bài thơ trữ tình, giáo viên cần nghiên cứu kĩ, tìm ra giọng điệu và do đó
tìm ra cách đọc, cách tái hiện hình tượng thích hợp để hướng học sinh đọc tốt; chỗ

phẩm trong văn cảm, chỉ ra giá trị nghệ thuật của từ, ngữ , câu, đoạn chỉ ra sức
thông báo đặc biệt của chi tiết nghệ thuật đó.
Sự kết hợp giữa giảng và bình cũng rất cần linh hoạt; có khi giảng trước bình sau,
có khi bình trước giảng sau, có khi giảng kết hợp với bình, giảng có thể có có thể
không nhưng nhất thiết phải có bình, nhất thiết phải phân tích giá trị văn học của
ngôn ngữ nghệ thuật. người bình phải biết chọn để bình, chọn lọc cách bình và tốt
nhất phải dừng lại đúng lúc, đúng chỗ để cho học sinh tự suy nghĩ, liên tưởng, mơ
mộng.
Giảng bài “ Bạn đến chơi nhà” của Nguyễn Khuyến -Ngữ văn 7- tập 1 có thể
chọn cụm từ “ ta với ta” để bình.
Lâu ngày bạn mới đến chơi nhưng nhà không có trẻ nhỏ để sai bảo, không gần
chợ để mua thức ăn, không bắt được gà vì vườn quá rộng, rào lại thưa, không chài
được cá vì ao quá sâu, không có cải vì cải chưa ra cây, không có cà vì cà mới nụ,
không có bầu vì bầu vừa rụng rốn, không có mướp vì mướp đương hoa. kể cả miếng
trầu tiếp khách cũng không có nữa. nhưng “ bác đến chơi đây ta với ta” là cái cần
nói nhất. cụm từ “ta với ta” chính là cái cười xoà, là sự kết hợp giữa hai người: tuy
hai mà một, tuy một mà hai.
Để giảng bình một cách có hiệu quả, giáo viên phải có sự hiểu biết nhiều, có tình
cảm đẹp, có sự nhạy cảm thẩm mĩ và có năng lực diễn đạt. Đó là kết quả của một sự
phấn đấu rèn luyện rất cao.
c. Tìm hiểu tâm trạng trong tác phẩm trữ tình.
Nếu hình tượng trong tác phẩm tự sự là hình tượng tính cách thì hình tượng trong
tác phẩm trữ tình là hình tượng tâm tư. Tiếng nói trong tác phẩm trữ tình là tiếng nói
tình cảm mãnh liệt, là sản phẩm của những tâm trạng. thơ trữ tình chứa đầy tâm
trạng nên việc tìm hiểu tâm trạng trong thơ trữ tình cần được chú ý và hướng dẫn
học sinh tìm hiểu.
Đoạn thơ Kiều ở lầu Ngưng Bích-Ngữ văn 9 chứa đầy tâm trạng. Kiều sống ở lầu
Ngưng Bích lúc này chẳng khác gì một cô gái “ cấm cung”. Từ trên lầu cao trông ra,
nàng ngắm dãy núi xa, mảnh trăng gần như trong cùng một bức tranh đẹp:
“Bốn bề bát ngát xa trông

Tâm trạng cảm xúc trong thơ phải là tâm trạng cảm xúc rất thật. Tâm trạng của
Viễn Phương khi Viếng lăng Bác là tâm trạng điển hình, cũng là tâm trạng chung
của nhiều người, của chúng ta khi Viếng lăng Bác. bởi thế, tìm hiểu tâm trạng nhà
thơ, giáo viên cũng phải cảm được trạng thái cảm xúc của nhà thơ, phải có tâm trạng
cảm xúc rất thật.
d. Tìm hiểu các yếu tố thi pháp thơ trữ tình.
- Nói đến thơ là nói đến chất thơ, lời thơ. Điều đáng chú ý từ dấu hiệu đầu tiên
của hình thức thơ là nhịp điệu. Thơ là văn bản được tổ chức bằng nhịp điệu của
ngôn từ. Nhịp điệu thơ được tổ chức đặc biệt thể hiện nhịp điệu tâm hồn, nhịp điệu
cảm nhận thế giới một cách thầm kín. nhịp điệu được tạo ra bằng sự trùng điệp,
trùng điệp của âm vận, trùng điệp ở nhịp, trùng điệp ở ý thơ, trùng điệp ở câu thơ
hoặc bộ phận của câu thơ. bài thơ “ Mùa xuân nho nhỏ” của Thanh Hải-Ngữ văn 9
thành công nổi bật là ở việc sử dụng nhịp điệu. Sự gợi cảm của bài thơ nhờ ở cách
đặt câu ngắn gọn, trùng điệp ở câu thơ, ở các bộ phận thơ. Cách gieo vần cũng rất
linh hoạt. Nhịp điệu trong thơ còn có sự cộng hưởng với nhịp điệu bên trong của
tâm hồn:
“ Tiếng suối trong như tiếng hát xa”. Sự rung động của vần điệu nằm trong sức rung
động mạnh mẽ của cảm hứng sáng tạo. Bài thơ “ Lượm” của Tố Hữu-Ngữ văn 6 là
một biểu hiện thành công trong sử dụng nhịp điệu. Chính nhịp điệu góp phần dựng
lại hình ảnh một bé Lượm hồn nhiên, nhí nhảnh, yêu đời phân tích bài thơ Lượm
phải chú ý đến việc phân tích nhịp điệu là vì thế.
- Hình ảnh thơ: hình ảnh trong thơ trực tiếp truyền đạt sự cảm nhận thế giới một
cách chủ quan. Hình ảnh thơ thường gợi lên sự ngâm ngợi và liên tưởng. hình ảnh
có khi là những nhân tố trực tiếp của nội dung, là những bức tranh nhỏ trong cuộc
sống:
Bước tới đèo ngang bóng xế tà
Cỏ cây chen đá lá chen hoa
Lom khom dưới núi tiều vài chú
Lác đác bên sông chợ mấy nhà.
hình ảnh có khi được qua sự so sánh:

Đọc và hướng dẫn đọc: làm sao đọc diễn cảm thể hiện được tâm trạng nhân vật trữ
tình qua hình ảnh, qua nhịp điệu Tốt nhất là giáo viên đọc diễn cảm hoặc đọc một
cách nghệ thuật. Cũng có thể cho học sinh diễn thành văn xuôi-để hiểu và cảm được
chữ nghĩa của lời thơ.
+ Hướng dẫn học sinh tìm hiểu tác phẩm.
- Đọc-liên tưởng, đọc-tưởng tượng
- Đọc để giảng bình, mở rộng, đào sâu, hệ thống hoá, khái quát hoá
- Đàm thoại, gợi mở : liên hệ-giáo viên bổ sung, hệ thống hoá.
c. Hướng dẫn luyện tập -tổng kết.
+ Đọc diễn cảm, ngâm thơ, hát.
+ Bài tập về nhà:
- Diễn ra văn xuôi bài thơ, vẽ minh hoạ
- Sáng tác theo thể tài. phát biểu cảm nghĩ
- Học thuộc lòng, tập ngâm thơ
trên đây là một số biện pháp, hình thức cơ bản tối thiểu nhất khi dạy học văn bản biểu
cảm mà bất cứ một giáo viên văn thcs nào cũng cần phải nắm vững. nó góp phần nâng
cao hiệu quả dạy học-phát huy được tính tích cực chủ động-phát triển năng khiếu văn
học ở học sinh. từ đó giúp các em có cách học mới tự tìm ra kiến thức.
II. Kết quấu khi thực hiện đề tài
Thực tiễn khảo sát sau khi áp dụng đè tài.
Sau thời gian áp dụng đề tài và qua kết quả thi các học kì của các lớp tôi trực tiếp
giảng dạy và áp dụng đề tài ở trường thcs nga thiện đã cho kết quả khả quan, cụ thể
như sau:
- Học kì I, II năm học 2009-2010:
lớp
sĩ số
học kì điểm < 5 điểm 5 - 6 điểm 7 - 8 điểm 9 - 10
sl % sl % sl % sl %
6a
30

tạo trong nhận thức và rèn luyện được các kỹ năng rất khác nhau cho học sinh.
+ Cũng là dạy học tác phẩm văn chương, nhưng với văn bản biểu cảm, học sinh
phải thật sự rung cảm với tác phẩm. muốn thế giáo viên phải thật sự hiểu và cảm tác
phẩm, khâu phát hiện phát động trí liên tưởng, tưởng tượng của học sinh.
+ Hướng dẫn học sinh tìm hiểu theo các bước nhưng phải phù hợp với từng thể tài
+ Trong quá trình áp dụng đề tài đòi hỏi giáo viên phải có sự phối hợp linh hoạt
với các phương pháp dạy học khác tránh sự máy móc. phải có sự chuẩn bị kĩ lưỡng
và hướng dẫn tỉ mĩ với học sinh quan trọng hơn cả là phải thực sự có lòng yêu nghề,
có năng khiếu sư phạm và năng lực cảm thụ văn học.
II. NHỮNG ĐỀ XUẤT
Đối với cụm chuyên môn khi sinh hoạt ngoài việc thực tập các giờ dạy cần
đưa ra thảo luận, thống nhất chung nhất về phương pháp dạy học tác phẩm văn
chương theo thể loại nói chung và dạy học văn biểu cảm nói riêng. ứng dụng vào
dạy một số bài cụ thể.
Trên đây là một số ý kiến nhỏ của bản thân rất mong được sự góp ý bổ sung của
các đồng nghiệp. Tôi xin chân thành cảm ơn!SỞ GIÁO DỤC - ĐÀO TẠO THANH HÓA
Phßng gi¸o dôc - ®µo t¹o nga s¬n
Trêng T.H.C.S nga thiÖn
DẠY HỌC VĂN BIỂU CẢM Ở TRƯỜNG THCS
NGƯỜI THỰC HIỆN: PHAN THỊ HỢP
CHỨC VỤ: GIÁO VIÊN
ĐƠN VỊ CÔNG TÁC: THCS NGA THIỆN
SKKN MÔN: NGỮ VĂN
N¨m häc: 2011 – 2012
Hội chữ thập đỏ nga sơn
Chi hội Trờng T.H.C.S nga thiện
Biên bản

dạy học văn biểu cảm ở trường thcs

tên tác giả : phan thị hợp
tổ : xã hội
chức vụ : giáo viên
đơn vị công tác : trường thcs nga thiện
năm học 2007 – 2008
những tư liệu tham khảo
1. sách giáo khoa, sách giáo viên ngữ văn 6-9
2. bồi dưỡng thường xuyên chu kì iii (2004-2007) môn ngữ văn
3. phương pháp dạy học văn- nhà xuất bản gd 1994
mục lục
nội dung trang
- tư liệu tham khảo 2
- lí do chọn đề tài 3
- mục đích nghiên cứu 4
- khách thể và đối tượng nghiên cứu 4
- giả thuyết khoa học 4
- các nhiệm vụ nghiên cứu 4
- giới hạn đề tài 4
- những luận điểm bảo vệ 4
- những đóng góp mới cũng như ý nghĩa lí luận 4
- cơ sở phương pháp – phương pháp nghiên cứu 5
- cơ sở lí luận 5
- tình hình thực tiễn 5
- kết quả 12
SỞ GD ĐT THANH HÓA
PHONG
TRƯỜNG
DẠY HỌC VĂN BIỂU CẢM Ở TRƯỜNG THCS


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status