PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HUYỆN VĂN GIANG
TRƯỜNG THCS LIÊN NGHĨA
***************
ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
NÂNG CAO HIỆU QUẢ TRONG
LÀM VĂN BIỂU CẢM
Họ và tên : HOÀNG THỊ KHOA
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường THCS Liên Nghĩa
Năm học 2013-2014
1
PHẦN MỞ ĐẦU
Học Ngữ Văn cái khó của tất cả các em là làm thế nào để học và áp dụng
làm bài tập làm văn thật tốt. Đó không chỉ là những suy tư , thắc mắc của
học trò mà còn là nỗi băn khoăn, trăn trở của rất nhiều giáo viên đang giảng
dạy. Và vấn đề đặt ra là các thầy cô giáo luôn tìm ra phương pháp làm thế
nào để học sinh làm tốt bài viết văn, nhất là bài văn biểu cảm.
Phần A: ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Thực trạng vấn đề
Trong nhà trường cở sở việc học môn Ngữ Văn đã là một cái khó đối với
đa số học sinh , nhưng để làm một bài văn, nhất là bài văn biểu cảm thì
không phải học trò nào cũng làm được. Trong quá trình giảng dạy ở một số
năm tôi nhận thấy cần phải làm thế nào để học sinh cảm nhận một cách rõ
nhất về thể loại biểu cảm và áp dụng để làm bài văn kiểu này cho tốt đó là
vấn đề khiến tôi cũng như nhiều giáo viên muốn bày tỏ. Trong những năm
tôi dạy các em đa số còn chưa nắm được phương pháp làm bài. Từ thực tiễn
đó tôi đã đưa ra vấn đề để chúng ta cùng tham khảo. Đó là làm thế nào để
học sinh làm tốt bài văn biểu cảm.
2. Ý nghĩa và tác dụng của giải pháp mới
Bài văn biểu cảm không những giúp các em nhìn nhận sự vật, sự việc
xung quanh với cái nhìn mang tính nhân văn , mà qua các bài văn biểu cảm
nh trong đời sống con ngời. Đối với học sinh, đây là kiểu bài văn trình bày
cảm nghĩ, trong đó ngời viết trình bày cảm xúc, suy nghĩ sâu sắc nhất của
mình về một đối tợng nào đó trong cuộc sống xung quanh (thiên nhiên, con
ngời, tác phẩm văn học nghệ thuật ). Mặc dù không mới mẻ nhng để làm
đợc bài văn biểu cảm trọn vẹn đúng phơng pháp thì lại không phải là điều dễ
dàng.
3. Cỏc bin phỏp tin hnh, thi gian to ra gii phỏp
Trong thực tế giảng dạy tôi nhận đợc rất nhiều ý kiến phản hồi từ học sinh
cho rằng đây là kiểu bài khó viết. Mặc dù các em đều thừa nhận nhu cầu biểu
3
cảm rất lớn, luôn thờng trực trong mỗi ngời và mong muốn đợc bộc lộ song
lại sợ viết bài biểu cảm do không có kĩ năng và không nắm đợc phơng pháp.
Vậy làm thế nào để rèn cho học sinh đợc kĩ năng làm bài văn biểu cảm
để các em vừa viết đúng đặc trng kiểu bài, vừa diễn tả đợc những tình cảm
chân thành, sâu lắng, có d âm, tạo ấn tợng cho ngời đọc? Đó là điều mà tôi
luôn băn khoăn trăn trở và muốn góp một tiếng nói nhỏ bé của mình trong
câu trả lời ấy.
Trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu và áp dụng đề tài vào thực tế
giảng dạy tôi đã thu đợc những kết quả khả quan. Vì vậy tôi xin mạnh dạn
trình bày kinh nghiệm của mình khi dạy phần kiến thức trên.
Phần nội dung
1. Mc tiờu : Nhim v ca ti.
Trong bộ môn Ngữ văn, phân môn Tập làm văn chiếm một phần quan
trọng. Chơng trình Tập làm văn trong sách giáo khoa mới chú trọng và đa ra
6 kiểu bài văn nh: Miểu tả, tự sự, biểu cảm, thuyết minh, nghị luận và hành
chính công vụ.
ở đây với thời gian có hạn, tôi chỉ đi sâu tìm hiểu về một kiểu văn bản
trong chơng trình Ngữ văn 7 đó là Biểu cảm. Bên cạnh đó, tôi chú trọng vào
việc rèn luyện kĩ năng viết bài biểu cảm cho học sinh.
2. Mụ t gii phỏp ti:
đợc sự dàn trải về tình cảm trong bài, lu lại đợc ấn tợng nhất định cho ngời
đọc ngời nghe để từ đó khêu gợi đợc lòng đồng cảm.
Ví dụ : Biểu cảm về cây phợng :
+ Có thể là nỗi nhớ da diết khi nhớ về cây phợng già nua góc sân thủa nào .
+ Có thể là niềm vui mừng, phấn khởi khi chứng kiến sự trởng thành của
phợng.
+ Có thể là nỗi ân hận, day dứt không nguôi vì có những phút giây ngẫu
hứng, bồng bột: Bẻ cành phợng, hoa phợng làm trò chơi.
Nh vậy tình cảm chủ yếu trong bài văn biểu cảm phụ thuộc hoàn toàn
vào tình cảm, sở thích, năng lực của cá nhân học sinh. Nó phải là cái tự nhiên
đến trong mỗi học sinh, mọi sự gợng ép, gò bó, khuôn mẫu đều khiến bài
viết trở nên mờ nhạt, sáo rỗng thậm trí giả tạo về tình cảm. Đây là điều tối
kị trong bài biểu cảm. Bởi nó sẽ gây sự phản cảm nơi ngời đọc, ngời nghe.
Và nh vậy bài viết sẽ không có giá trị.
b. Cách thức biểu cảm:
5
- Để biểu đạt tình cảm, ngời viết có thể chọn một hình ảnh có ý
nghĩa ẩn dụ, tựng trng (là một đồ vật, loài cây hay một hiện tợng nào đó)
để gửi gắm tình cảm, t tởng, hoặc biểu đạt bằng cách thổ lộ trực tiếp
những nỗi niềm, cảm xúc trong lòng.
- Văn biểu cảm có thể biểu hiện gián tiếp hoặc biểu hiện trực tiếp.
b 1. Biểu cảm trực tiếp:
Là phơng thức (cách thức) trữ tình bộc lộ những cảm xúc, ý nghĩ thầm
kín bằng những từ ngữ trực tiếp gọi ra tình cảm ấy bằng những lời than nh:
ôi, hỡi ôi và ngời viết xng ngôi 1.
Ví dụ: Tôi yêu Sài Gòn da diết nh ngời đàn ông vẫn ôm ấp bóng
dáng mối tình đầu chứa nhiều ngang trái. Tôi yêu nắng sớm, một thứ
nắng ngọt ngào vào buổi chiều lộng gió nhớ thơng, dới những cơn ma
nhiệt đới bất ngờ. Tôi yêu thời tiết trái chứng với trời đang ui ui buồn bã,
bỗng nhiên trong vắt lại nh thuỷ tinh. Tôi yêu tất cả đêm khuya tha thớt
Ví dụ: Cảm nghĩ về một loài cây quê hơng
Đặc điểm gợi cảm của nó: Thân, rễ, hoa, lá, quảvề hình dáng, tác
dụng của cây.
b. Văn biểu cảm về con ngời.
Đối tợng để ngời viết nêu tình cảm, cảm xúc của bản thân là con ngời
nh: Bóng dáng ngời thân, bố mẹ, ông, bà, thầy (cô) giáo, một ngời bạn
Ví dụ:
- Phát biểu cảm nghĩ về bóng dáng một ngời thân yêu.
- Phát biểu cảm nghĩ về một ngời bạn thân thiết của em.
Các đặc điểm gợi cảm của dạng bài này lại khác so với dạng 1. Bởi đối
tợng biểu cảm là con ngời nên ngời viết phải chú ý đến: Hình dáng, tính
cách, cách c xử và ngôn ngữ của nhân vật. Chú ý đến các đặc điểm này
học sinh mới làm đúng đặc trng của dạng bài.
c. Văn biểu cảm về một tác phẩm văn học.
Đối tợng để ngời viết phát biểu cảm nghĩ là tác phẩm văn học
Ví dụ:
- Phát biểu cảm nghĩ về bức tranh chiều quê trong bài thơ Buổi
chiều đứng ở phủ Thiên Trờng trông ra của Trần Nhân Tông.
- Phát biểu cảm nghĩ về bài Cảnh khuya (Rằm tháng giêng) của
Hồ Chí Minh.
- Cảm nghĩ của em về tình bà cháu trong bài thơ Tiếng gà tra của
Xuân Quỳnh.
7
Đối tợng là một tác phẩm văn học (có thể là một bộ phận của tác phẩm
văn học) nên khi dạy bài này tôi thờng nhấn mạnh các em phải chú ý đến nội
dung, nghệ thuật chủ yếu và tình cảm của tác giả để biểu cảm.
24. Cách làm bài văn biểu cảm .
Nh phần 23 ta thấy, khi làm bài văn biểu cảm, ở mỗi dạng bài có cách
tiếp cận đối tợng riêng biệt. Mỗi cách tiếp cận phải phụ thuộc vào từng đối t-
ợng cụ thể. Có nh vậy bài biểu cảm mới đạt kết quả tốt. ở cách làm bài văn
b. Tìm ý và sắp xếp ý :
b 1. Tìm ý:
Để tìm ý tôi thờng cho các em tìm ý bằng cách đặt câu hỏi để tìm đặc
điểm biểu cảm của đối tợng. Nhng để đặt câu hỏi ta phải bám sát vào đối t-
ợng và định hớng tình cảm.
Ví dụ: Cảm nghĩ về nụ cời của mẹ
Đối tợng: Nụ cời của mẹ
Định hớng tình cảm: Cảm nghĩ, cảm xúc của bản thân.
Căn cứ vào đó ta có thể đặt câu hỏi.
Từ thủa ấu thơ, có ai không nhìn thấy nụ cời của mẹ ?
Nụ cời của mẹ có đặc điểm gì? (Những góc độ khác nhau trong nụ
cời của mẹ ?)
Có phải lúc nào mẹ cũng nở nụ cời không ?
Đó là những lúc nào ?
Lúc ấy em cảm thấy thế nào ?
Làm sao để luôn luôn đợc thấy nụ cời của mẹ?
Bằng cách đặt câu hỏi nh trên ta sẽ có các ý :
- Nụ cời của mẹ
+ Nụ cời yêu thơng, nụ cời vui
+ Nụ cời mãn nguyện.
+ Cời khuyến khích.
+ Nụ cời để an ủi
- Những khi vắng nụ cời của mẹ
b 2. Sắp xếp ý:
- Sau khi tìm ý, phải sắp xếp ý cho hợp lý. Trong quá trình sắp xếp ý
chúng ta phải làm công việc sàng lọc, bổ sung lần cuối các ý cho phù hợp với
yêu cầu của đề về chất lợng.
- Đối với bài văn biểu cảm cách sắp xếp ý rất linh hoạt. Nó không tuân
theo trình tự diễn biến các sự việc trong văn tự sự, hay thứ tự khoa học của
các luận cứ để làm sáng rõ luận điểm nh trong văn nghị luận. Mà chủ yếu bài
xong bài coi nh hoàn thành nhiệm vụ. Cũng có thể vì ngại lập dàn ý, vì
không hiểu, không biết làm bài nh thế nào, sợ lãng phí thời gian. Đôi khi do
khách quan tác động: xuất hiện nhiều văn mẫu, học sinh có thể sao chép tài
liệu nên không lập dàn ý ( cho dù yêu cầu của đề không thật giống (bài
10
mẫu). Một nguyên nhân nữa phải kể đến đó là: Thời gian trong chơng trình
dành để rèn luyện thao tác này ít. Đôi khi giáo viên cha thực sự coi trọng
việc rèn luyện kỹ năng này cho học sinh.
Riêng đối với lập dàn ý tôi thờng tiến hành một số công việc:
Thứ nhất:Tôi hớng dẫn các em biết lập dàn ý.
Dàn ý của bài văn biểu cảm cũng có bố cục 3 phần
Mở bài:
+ Giới thiệu khái quát về đối tợng.
+ Nêu ấn tợng, cảm nghĩ sâu sắc nhất của bản thân (có thể giới thiệu
tác phẩm, nêu hoàn cảnh tiếp xúc với tác phẩm nếu có một tác phẩm văn
học).
Thân bài:
+ Triển khai các ý trong phần tìm ý và sắp xếp ý theo một trình tự hợp lí.
(Tôi thờng cho các em bổ sung các chi tiết quan trọng để có một dàn ý
chi tiết). Đó là cảm xúc, suy nghĩ do đối tợng gợi lên.
Đối với bài biểu cảm thờng là bổ sung các chi tiết nói về tình cảm,cảm
xúc phù hợp với mỗi ý trong phần tìm ý và sắp xếp ý.
Điều này cũng nhằm tránh một hiện tợng bắt gặp trong một số bài làm
của học sinh. Học sinh viết lần lợt theo từng ý trong phần tìm ý sau sau đó
viết tách riêng một ý(một đoạn), nêu cảm xúc, suy nghĩ của bản thân. Cách
làm này dẫn đến làm sai lệch kiểu bài, không đáp ứng đợc yêu cầu của đề
bài.
Kết bài:
- Nêu ấn tợng chung.
- Trên cơ sở các ý đã tìm đợc, ta dùng ký hiệu, các quy ớc đánh số, ghi ký
khi lập dàn ý và có thể thao tác từ 5 =>7 phút cho một dàn ý.
Thứ ba: Trong các bài viết tập làm văn 90 phút tôi thờng đa ra đề bài với
2 yêu cầu:
a. Lập dàn ý.
b. Viết bài hoàn chỉnh .có giới hạn số chữ.
Việc làm này nhằm mục đích tạo thói quen lập dàn ý trớc khi viết bài.
Đồng thời thông qua đó giáo viên cũng đánh giá đợc mức độ thành thạo về
kỹ năng lập dàn ý của học sinh.
Chú ý:
- Sau khi lập dàn ý tôi hớng dẫn học sinh về nhà hoặc xen vào bài tập
của Tiếng Việt những bài viết đoạn biểu cảm vì:
12
+ Bớc viết đoạn không đợc sách giáo khoa Ngữ văn 7 đề cập song cá
nhân tôi nghĩ nếu rèn luyện cho học sinh đợc thao tác này sễ rất có ích, đặc
biệt đối với phát biểu cảm nghĩ về tác phẩm văn học.
+ Khi viết đoạn trớc tiên giúp ngời viết xác định đợc khía cạnh chủ
yếu của nội dung và tình cảm,cảm nghĩ chủ đạo của đoạn. Tiếp đó ngời viết
cũng hình dung đợc vai trò chức năng của mỗi đoạn là khác nhau trong phần
thân bài. Mỗi một đoạn đảm nhận một nhiệm vụ riêng, nhng đều góp phần
làm nổi bật một tình cảm chủ yếu trong bài, nh vậy sẽ góp phần định hớng
trong khi viết đoạn.
- Trong một bài văn có thể có nhiều đoạn. Mỗi ý có thể có một hoặc
vài đoạn nhỏ. Nhng về mặt hình thức phải lu ý cho học sinh: Một đoạn đợc
bắt đầu bởi chữ in hoa, viết lùi vào đầu dòng một chữ.
- Chú ý khi viết đoạn phải xem kĩ biểu cảm. Có thể biểu cảm trực tiếp
bằng một từ, hoặc một cụm từ, một câu hoặc vài câu. Có thể biểu cảm gián
tiếp. Dù bằng cách nào cũng phải luôn chú ý đến đích biểu cảm. Nếu quên
mất điều đó ngời viết sẽ làm sai lệch kiểu bài.
d. Lập ý.
- Để giúp cho học sinh viết đợc đoạn văn giàu cảm xúc, có chiều sâu
mặt thanh thoát của con tựa nghiêng trên gối mềm, đôi môi hé mở và
thỉnh thoảng chúm lại nh đang mút kẹo.
( Cổng tr ờng mở ra của Lí Lan - Ngữ văn 7- Tập 1- trang 5).
Liên hệ hiện tại với tơng lai.
Sau khi học sinh đã nhận dạng đợc từng cách lập ý trong viết đoạn tôi
cho học sinh thực hành. Cho học sinh làm một số bài tập.
Ví dụ: Bài tập Viết một đoạn văn biểu cảm từ 7 đến 10 câu cho mỗi
đề sau.
Mỗi đề thực hiện một cách lập dàn ý khác nhau.
Đề 1: Cây bàng già ở góc trờng trong ký ức tuổi thơ của em.
Đề 2: Cảm nghĩ về ngời thầy (cô) giáo mà em yêu quí.
Đề 3: Cảm nghĩ về một cảnh đẹp mà em từng đợc đến thắm.
Đề 4: Cảm nghĩ về một bài thơ của Hồ Chí Minh mà em đã đợc học .
e. Viết bài:
Khi đã có những đoạn văn ta tiến hành viết bài. Nói nh vậy không có
nghĩa đơn giản là lắp ráp các đoạn một cách đơn thuần mà phải lắp ráp một
cách có nghệ thuật. Đối với đặc trng của kiểu bài biểu cảm phải chú ý mạch
chảy tự nhiên của tìn cảm, cảm xúc. Bất kì một sự đứt đoạn nào cũng sễ
14
khiến tình cảm thiếu tự nhiên, chân thành, . bài viết khuôn sáo, thiếu thuyết
phục.
Viết bài là khâu cuối cùng quýêt định đến chất lợng sản phẩm vì vậy
ngời viết cần dồn hết trí lực trong khi viết.
Một bài viết văn biểu cảm thành công phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố.
Các bớc tiến hành trớc khi viết bài nh: Tìm hiểu đề ; Tìm ý và sắp xếp ý ;
Lập dàn ý; viết đoạn văn, nếu thể hiện tình cảm chủ đạo, khơi gợi đợc sự
đồng cảm của ngời đọc thì có thể xem nh các bớc đó góp phần quan trọng
trong việc tạo thành công cho bài biểu cảm. Còn nếu ngợc lại thì cho dù trớc
đó ta rất công phu cho từng bớc thì cũng coi nh là thất bại. Luôn phải nhấn
mạnh để cho học sinh thấy đợc trong khi viết bài cốt lõi làm nên thành công
ơng nhiên khi đó là một đề văn) nhng cách thể hiện tình cảm phải khác nhau.
Sự khác nhau ấy là do cá tính, sở thích, ngôn ngữ diễn đạt ở mỗi học sinh
là khác nhau. Điều này là quan trọng bởi nó sẽ lu lại dấu ấn của từng học
sinh. Mà dấu ấn cá nhân trong việc bộc lộ tình cảm, cảm xúc lại rất quan
trọng. Sở dĩ phải nhấn mạnh điều này cho học sinh bởi trong thực tế giảng
dạy giáo viên sẽ bắt gặp những bài viết của học sinh na ná nhau. Sự na
ná ấy không chỉ bắt nguồn từ văn mẫu mà còn do thiếu hứng thú trớc đối t-
ợng biểu cảm nên viết cứng nhắc theo dàn ý, hoặc cha có sự đầu t để tìm các
đặc tính gợi cảm của đối tợng để biểu cảm
Ví dụ:Khi cho đề bài viết về ngời bà.Ta thờng thấy học sinh viết:
+Về làn da nhăn nheo, tóc bạc, da mồi, lng còng.
+Về tiếng ru ầu ơ khi tuổi thơ.
+Về những đêm trăng nghe truyện cổ tích.
Những điều đó là không sai khi viết về bà. Song nếu dễ dãi chấp nhận
một mô típ viết thì sẽ tạo nên sự đơn điệu trong việc thể hiện tình cảm.
Một số lu ý trên là để khi viết học sinh cần lựa chọn cách viết phù hợp
với cá tính, tình cảm của bản thân.
g. Đọc lại và sửa chữa:
Thờng là bớc không mấy đợc các em quan tâm. Tâm lý viết xong bài
là xong có không ít ở trong học sinh. Vì thế giáo viên cần làm cho học sinh
nhận thức đợc: Sửa bài là khâu quan trọng ảnh hởng đến chất lợng bài viết.
Đơng nhiên ta không thể sửa lại và thay đổi ý bởi thờng là không đủ thời
gian. Song ta có thể khắc phục đợc nh lỗi nhỏ: từ, câu, diễn đạt, lỗi chính tả.
Những lỗi này không qua lớn song đôi khi hạt sạn lại làm ta mất đi cảm giác
về một bát cơm ngon.
16
Khi nhận thức đợc tầm quan trọng của vấn đề các em sẽ tự tạo cho
mình thói quen sửa lại bài sau khi viết.
25. Bài tập luyện kỹ năng.
a. Một số bài tập rèn kỹ năng tìm hiểu đề.
Cảm xúc lạ lùng trong em mỗi khi hè về ?
Các ý :
- Em yêu nhất mùa xuân trên quê hơng.
- Mùa xuân có Tết cổ truyền, có nhiều điều thú vị.
- Cảm giác nao nức, mong chờ và tràn ngập vui sớng mỗi khi Tết đến xuân về.
Đề 2: Các câu hỏi tìm ý :
- Lý do nào gợi em nhớ bóng dáng ngời thân yêu?
- Những kỉ niệm, những đồ vật, những ấn tợng nào gợi em nhớ ngời thân yêu
đó.?
- Giờ đây cảm xúc của em về ngời thân yêu nh thế nào?
- Nghĩ về ngời thân em sẽ làm gì ?
Các ý :
- Mùa xuân về Tết đến mọi nhà đều đoàn tụ, bỗng thấy trống trải bởi thiếu
bóng dáng bà.
- Từ ngày thờng đến ngày lễ Tết bà luôn lo chu đáo, tơm tất mọi việc
Căn nhà luôn ấm cúng vì có bà.
- Nỗi trông trải, cô đơn, hụt hẫng khi không có bà.
- Nguyện học thật giỏi nh điều bà hằng mong ớc.
Đề 3: Câu hỏi tìm ý :
- Suy nghĩ của em về tình cảm của tác giả đợc thể hiện trong bài?
- ấn tợng của em về toàn cảnh bức tranh làng quê ở phủ Thiên Trờng?
- Cảnh cụ thể đợc tác giả miêu tả trong bức tranh?
Các ý : Tình cảm gắn bó máu thịt của vị vua đối với làng quê.
- Bức tranh chiều quê đẹp quyến rũ lòng ngời:
+ Cảnh thôn xóm huyền ảo, mơ màng,nửa h nửa thực (hai câu đầu).
+ Cảnh đồng vào buổi chiều rất đặc trng nơi làng quê(hai câu kêt).
Bài tập 2: Hãy sắp xếp ý cho các đề trong bài tập 1:
Hớng dẫn :
Đề 3: Có thể sắp xếp.
- Bức tranh chiều quê đẹp quyến rũ lòng ngời:
Mở bài:
Nỗi nhớ da diết và tình yêu thơng dành cho bà.
Thân bài:
-Mùa xuân về Tết đến mọi nhà đều đoàn tụ, không khí gia đình ấm
áp. Bỗng thấy trống trải bởi thiểu bóng dáng bà.
-Từ ngày thờng đến ngày lễ tết bà luôn lo chu đáo, tơm tất mọi công
việc. Căn nhà luôn ấm cúng vì có bà.
19
- Nỗi trống trải cô đơn hụt hẫng khi không còn bà.
- Nguyện học thật giỏi nh điều bà hằng mong ớc.
Kết bài:
Tình cảm yêu thơng kính trọng bà.
Để có một dàn ý chi tiết ta có thể đặt câu hỏi bổ sung chi tiết.
Ví dụ: Đề 3.
Câu hỏi:
- Cách miêu tả bức tranh chiều quê có gì đáng chú ý ?
- Những chi tiết nào làm nên vẻ đẹp của bức tranh ?
- Những nét đẹp khác nhau ấy để lại cho em ấn tợng gì?
- Suy nghĩ của em về tác giả bài thơ ?
Với câu hỏi trên ta có dàn ý nh sau:
Mở bài:
Giới thiệu khái quát về tác phẩm Buổi chiều đứng ở phủ Thiên Tr-
ờng trông ra và nhà thơ Trân Nhân Tông ,hoàn cảnh tiếp xúc với tác phẩm.
Thân bài:
+ Đó là bức tranh chiều quê đẹp quyến rũ lòng ngời.
Cảnh đợc miêu tả từ gần đến xa
+ Hai câu đầu: Cảnh thôn xóm gợi lên một cảm giác nửa h nửa thực
khung cảnh huyền ảo mơ màng nhng ấm áp lạ kỳ với sơng khói nhạt nhoà.
Gây ấn tợng sâu sắc cho ngời đọc về một làng quê no ấm
+ Hai câu cuối: Cảnh cánh đồng với ánh sáng hoàng hôn quyến rũ
+ Cách mua Cốm.
Kết bài:
Dàn ý 2:
Mở bài:
Thân bài:
- Cảm nhận về quy luật tình cảm của con ngời với mùa xuân.
+ Khẳng định tình cảm với mùa xuân là quy luật.
+ Thơng nhớ thuỷ chung với mùa xuân.
- Cảm nhận về cảnh sắc, không khí chung của mùa xuân Hà Nội đất Bắc:
+ Mùa xuân khơi dậy năng lực sống cho muôn loài.
+ Khơi dây năng lực tinh thần cao quý cho con ngời.
+ Khơi dậy tình yêu cuộc sống, quê hơng.
+ Hân hoan, biết ơn, thơng nhớ mùa xuân đất Bắc.
- Cảm nhận về cảnh sắc không khí của tháng giêng mùa xuân:
21
+ Cảnh sắc thiên nhiên nửa sau tháng giêng.
+ Bữa cơm giản dị thờng mật.
Kết bài:
e. Một số bài tập rèn kỹ năng viết bài.
Bài tập 1:
Từ các dàn ý trên viết thành bài viết hoàn chỉnh:
Giáo viên thực tế làm bài:
Ví dụ - Đề bài: Cảm nghĩ về ngời mẹ thân yêu(Đồng thời yêu cầu học
sinhviết)
Bài viết của giáo viên
Để mỗi chúng ta có mặt trên cuộc đời này thì hẳn ai cũng phải có một
ngời mẹ. Mẹ là ngon lửa sởi ấm tâm hồn ta và soi đờng để ta bớc đi trên đ-
ờng đời này. Vì vậy ai trong số chúng ta đều biết ơn, yêu thơng và kính trọng
mẹ. Tôi cũng vậy!
Mẹ tôi không còn trẻ nữa nhng mẹ vẫn trẻ hơn so với tuổi. Tôi thờng
rầu rầu và chỉ nói Con làm mẹ nẫu cả ruột. Chỉ có vậy thôi nhng cả tôi và
chị tôi đều cảm thấy có lỗi và sợ trớc cách thể hiện ấy của mẹ. Với riêng tôi,
tôi có một kỉ niệm buồn với mẹ cho mãi sau này cũng không khi nào tôi
quên. Đó là lần tôi và lũ bạn dãi nắng trên con đê ven làng. Chúng tôi hết hái
quả dâu để ăn (Ngày ấy quê tôi trồng rất nhiều dâu để chăn tằm chứ không
bạt ngàn là lúa, là cam nh bây giờ, lại thi nhau đào những củ giong giềng
mọc hoang để tối về nhà luộc. Say sa với những trò ấy nên khi chúng tôi trở
về ánh nắng chiều tà đã tắt từ bao giờ. Trên đờng thi thoảng tôi lại nhận đợc
những lời nhắc nhỏ Mẹ cháu đang ngợc xuôi đi tìm! Về nhanh lên. Tôi bớc
đi trong nỗi phấp phỏng lo âu. Về đến nhà thấy mẹ đang ngồi đợi tôi. Mẹ
liền hỏi:
Con đi đâu, làm gì?
Tôi đã nói hỗn với mẹ. Cánh tay mẹ giơ lên nhng tôi đã kịp tránh. Tôi
oà khóc! Lúc ấy tôi chẳng hiểu vì sao mình lại khóc. Cho đến bây giờ thì tôi
đã biết! Có lẽ tôi đã biết đợc cái cảm giác bị đánh là nh thế nào mặc dù tôi
cha nhận đợc cái tát của mẹ. Có lẽ lòng tự trọng trẻ con của tôi bị tổn thơng:
mình bị đánh!. Và có lẽ tôi nghĩ mẹ không yêu tôi. Cũng lúc ấy mẹ ôm tôi và
mẹ khóc. Tôi chẳng hiểu mẹ khóc vì cái gì chỉ thấy mình đợc an ủi vỗ về.
Cho đến bây giờ mỗi lần nhớ lại trong tôi hiện lên biết bao câu hỏi, rồi
tôi lại miên man trong dòng suy nghĩ để tìm câu trả lời, lí giải nhng cũng chỉ
dội lên cảm giác: Tôi sợ thấy mẹ phải khóc vì tôi!
23
Cứ thế chị em tôi lớn lên trong tình yêu thơng, sự quan tâm chăm sóc
và cả những uốn nắp kịp thời của mẹ. Tôi cha khi nào trực tiếp bày tỏ sự kính
trọng lòng biết ơn và tình yêu thơng của mình với mẹ. Nhng trong trái tim tôi
luôn có mẹ. Tiếng gọi mẹ luôn là tiếng thiêng liêng, cao cả trong tâm trí
tôi.
Tôi cho học sinh so sánh bài viết của giáo viên và bài viết của một số
học sinh. Cho học sinh nhận xét, rút ra kết luận cho bản thân.
3. Kết quả đạt đợc:
số việc sau:
- Nghiên cứu kĩ kiểu văn bản, vị trí của nó trong chơng trình, nắm
chắc đợc đặc trng cơ bản của kiểu văn bản để giúp học sinh phân biệt nó với
các kiểu văn bản khác.
- Trong các giờ dạy, bằng những phơng pháp giảng dạy linh hoạt, sáng
tạo, giáo viên phải gây đợc những hứng thú cho học sinh giúp các em chủ
động tiếp cận và nắm chắc đợc những kiến thức lí thuyết cơ bản của kiểu bài.
- Dành thời lợng thích hợp cho khâu thực hành, đặc biệt là luyện nói,
luyện viết và không phải chỉ trong phân môn mà trong tất cả các phân môn
khác của môn Ngữ văn.
- Vận dụng sáng tạo nhiều hình thức tổ chức học tập tạo điều kiện và
không khí học tập tích cực, chủ động để học sinh có thể tranh luận với nhau,
với giáo viên và tự đánh giá kết quả học tập của mình, của bạn.
- Tăng cờng sử dụng các thiết bị dạy học, đồ dùng và phơng tiện dạy
học theo phơng châm phục vụ thiết thực nhất, hợp lý nhất và hiệu quả nhất
cho mỗi giờ học.
* Điều kiện áp dụng, s dng gii phỏp
- Giáo viên phải nắm vững các phơng pháp dạy học mới, cách sử dụng
các phơng tiện thiết bị hiện đại và áp dung vào quá trình dạy học.
- Phải có sự chuẩn bị chu đáo giáo án cũng nh các điều kiện dạy học
và định hớng trớc định hớng trớc các hình thức tổ chức cho mỗi hoạt động.
- Phải luôn chú ý tích hợp trong giảng dạy
- Học sinh phải chuẩn bị cẩn thận trớc các bài học theo sự hớng dẫn
của giáo viên.
- áp dụng đối với mọi đối tợng học sinh
* Những triển vọng trong việc vận dụng và phát triển giải pháp
25