SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỈM SƠN
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
CÁC GIẢI PHÁP DẠY HỌC SINH LỚP 7
VIẾT VĂN BIỂU CẢM
MỤC LỤC
TT NỘI DUNG TRANG
1 Đặt vấn đề 2
2 Giải quyết vấn đề 3
3 Cơ sử lý luận của vấn đề 3
4 Thực trạng viết văn biểu cảm của học sinh 3
5 Các giải pháp và tổ chức thực hiện 3
6 Củng cố những kiến thức, kĩ năng cơ bản cần nắm vững khi
làm văn biểu cảm
3
7 Luyện tập về văn biểu cảm 7
8 Bài làm của học sinh về văn biểu cảm 11
9 Kiểm nghiệm 12
10 Kết luận và đề xuất 13
11 Tài liệu tham khảo 14
2
PHẦN A - ĐẶT VẤN ĐỀ
Văn học có vai trò rất quan trọng trong đời sống và trong sự phát triển tư
duy của con người .
Là một môn học thuộc nhóm khoa học và xã hội, môn Ngữ văn có tầm
quan trọng trong việc giáo dục quan điểm, tư tưởng, tình cảm cho học sinh.
Đồng thời cũng là môn học thuộc nhóm công cụ, môn Ngữ văn còn thể hiện rõ
mối quan hệ với các môn học khác. Học tốt môn Ngữ văn sẽ tác động tích cực
tới các môn học khác và ngược lại, các môn học khác cũng góp phần học tốt
môn Ngữ văn.
Môn Ngữ văn trong nhà trường bậc THCS chia làm ba phân môn : Văn
nhưng nhiều em không phân biệt được văn miêu tả và văn biểu cảm nên bài viết
không phải viết về thái độ, tình cảm của mình đối với một loại cây cụ thể mà tả
về loài cây đó. Hoặc viết bài tập làm văn số 3 đề yêu cầu “ Cảm nghĩ về người
thân của em”, học sinh sa vào kể lại người thân. Mặc dù biết rằng trong văn biểu
cảm có sử dụng yếu tố miêu tả và tự sự. Song miêu tả và tự sự chỉ nhằm bộc lộ
cảm xúc, chứ không phảI phương thức biểu đạt chính.
5
III. CÁC GIẢI PHÁP VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN :
1. Củng cố những kiến thức, kĩ năng cơ bản cần nắm vững khi làm
văn biểu cảm.
Đây là khâu quan trọng đầu tiên, không phải chỉ riêng văn biểu cảm mà là
ở tất cả các kiểu văn bản được học ở THCS . Việc cung cấp tri thức, kĩ năng về
văn biểu cảm được tiến hành ở nhiều tiết, xen kẽ: Từ tiết 20 : “ Tìm hiểu chung
về văn biểu cảm”, đến tiết 62 : “ Ôn tập văn biểu cảm” . Do vậy việc củng cố
kiến thức, kĩ năng làm văn biểu cảm theo một hệ thống là rất cần thiết . Sau đây
là những kiến thức, kĩ năng cơ bản cần cung cấp cho học sinh.
1.1. Giúp học sinh nắm được khái niệm văn biểu cảm
Văn biểu cảm là văn bản viết ra nhằm biểu đạt tình cảm, cảm xúc, sự đánh
giá của con người đối với thế giới xung quanh và khêu gợi lòng đồng cảm nơi
người đọc. (SGK Ngữ văn 7- Tập I).
Thường thì những bài văn biểu cảm tập trung biểu đạt một tình cảm chủ
yếu. Tình cảm ấy được bộc lộ trực tiếp thông qua những suy nghĩ, những nỗi
niềm, những cảm xúc trong lòng người. Tuy nhiên trong thực tế, khi viết văn
biểu cảm (dù ở dạng thơ hay văn xuôi), người ta vẫn thường hay kết hợp sử
dụng những phương thức khác như miêu tả, tự sự để bộc lộ thái độ, tình cảm
gián tiếp thông qua những đối tượng, những hình ảnh có ý nghĩa ẩn dụ.
Tuy nhiên, khi vận dụng phương thức miêu tả và tự sự vào văn biểu cảm
thì cũng cần lưu ý: có tả thì cũng không tả một cách cụ thể, hoàn chỉnh; có kể thì
cũng không kể một cách chi tiết, đầy đủ, rõ ràng. Người viết văn biểu cảm chỉ
6
đặc sắc (so sánh, nhân hoá, ẩn dụ, điệp ngữ, nói quá…). Câu văn có sự biến hoá
linh hoạt (có câu trần thuật, câu cảm, câu nghi vấn, câu cầu khiến; câu dài, câu
ngắn; có câu tỉnh lược, câu câu tồn tại…). Lời văn phải có cảm xúc với vốn từ
ngữ giàu hình ảnh, giàu sức gợi cảm.
Bước 4: Kiểm tra lại bài : Ngoài việc kiểm tra cách diễn đạt, sửa lỗi cần
phải kiểm tra lại xem văn bản đã toát lên tư tưởng, tình cảm chính chưa, hoặc đã
tạo được sự xúc động cho người đọc chưa.
1.3. Giúp học sinh nắm được cách lập ý trong văn biểu cảm:
a.Liên hệ hiện tại với tương lai: Là hình thức dùng trí tưởng tượng để liên
tưởng tới tương lai, mượn hình ảnh tương lai để khơi gợi cảm xúc về đối tượng
biểu cảm trong hiện tại. Cách biểu cảm này tạo nên mối liên hệ và tương lai.
b.Hồi tưởng quá khứ và suy nghĩ hiện tại : là hình thức liên tưởng tới
những kí ức trong quá khứ, gợi sống dậy những kỉ niệm để từ đó suy nghĩ về
hiện tại . Đây cũng là hình thức lấy quá khứ soi cho hiện tại khiến cho cảm xúc
của con người trở nên sâu lắng hơn. Cách biểu cảm này sẽ tạo nên mối liên hệ
gắn kết rất tự nhiên và nhuần nhuyễn giữa hiện tại và quá khứ.
8
c.Tưởng tượng tình huống, hứa hẹn, mong ước: Là hình thức liên tưởng
phong phú, từ những hình ảnh thực đang hiện hữu để đặt ra các tình huống và
gửi gắm vào đó những suy nghĩ và cảm xúc về đối tượng biểu cảm cũng như
những ước mơ hi vọng. Cách biểu cảm này đòi hỏi người viết văn biểu cảm phải
có trí tưởng tượng phong phú.
d. Quan sát, suy ngẫm: Là hình thức liên tưởng dựa trên sự quan sát
những hình ảnh đang hiện hữu trước mắt để có những suy ngẫm về đối tượng
biểu cảm . Cách lập ý thường tạo nên những cảm xúc chân thực, sâu sắc.
Ví dụ : Lập ý cho đề bài :
Cây bàng già ở góc sân trường trong kí ức tuổi thơ của em.
Một số cách lập ý cho đề bài :
- Hồi tưởng qúa khứ, nhắc lại những kỉ niệm về cây bàng trong kí ức tuổi
thơ em.
Đưa yếu tố tự sự và miêu tả như thế nào khi làm đề văn trên?
- Miêu tả vẻ đẹp của cây để gợi cảm xúc của con người.
- Khi bộc lộ cảm xúc về vai trò, ý nghĩa của loài cây cần xen miêu tả và
kể kỉ niệm gắn bó với loài cây.
10
1.5. Giúp học sinh nắm được cách biểu cảm về tác phẩm văn học:
A Thế nào gọi là biểu cảm về tác phẩm văn học?
Phát biểu cảm nghĩ về một tác phẩm văn học (bài văn, bài thơ) là trình
bày những cảm xúc, tưởng tượng, liên tưởng, suy ngẫm của mình về nội dung và
hình thức của tác phẩm đó.
Tác phẩm văn học có thể là một bài ca dao, một bài thơ, một bài văn.
B- Các bước làm một bài văn biểu cảm về tác phẩm văn học:
B.1. Phần chuẩn bị:
- Đọc bài văn, bài thơ …một vài lần, rút ra ấn tượng ban đầu. Đọc lần nữa
để để phát hiện ra giọng điệu, chủ đề, những tư tưởng, tình cảm cao đẹp, ngôn
ngữ nghệ thuật… mà tác giả đã diễn tả rất hay, gây cho mình nhiều ấn tượng.
- Gạch chân, đánh dấu các chi tiết nghệ thuật, các hình ảnh, các câu thơ,
câu văn hay nhất mà mình yêu thích nhất.
- Làm dàn bài, dựng đoạn.
- Viết bài và chỉnh sửa.
B.2. Bố cục bài văn biểu cảm về tác phẩm văn học:
* Phần mở đầu: Có thể giới thiệu một vài nét về tác phẩm; nêu lên ấn
tượng sâu sắc nhất, khái quát nhất của mình khi đọc, khi xem tác phẩm ấy. Mở
bài hay nhất được hai yêu cầu: Tính khái quát và tính định hướng.
* Phần thân bài: lần lượt nêu lên những cảm nghĩ của riêng mình về
những khía cạnh của tác phẩm. Không lan man dàn đều mà nên xoáy sâu vào
các trọng tâm, trọng điểm. Phải đi từ “a” qua “b,c”…. nhớ liên kết đoạn.
11
* Phần kết bài: Nêu lên cảm nghĩ chung, có thể đánh giá và liên hệ. Tránh
dài dòng, trùng lặp và đơn điệu.
qui trình từ dễ đến khó, từ đơn giản đến tổng hợp; từ việc làm dàn bài, viết ngắn
đến viết dài – thành văn hoàn chỉnh. Đối tượng biểu cảm cũng mở rộng.
Việc thực hành- luyện tập phải được thường xuyên, liên tục; phải được
kiểm tra đánh giá, rút kinh nghiệm; phải có yêu cầu, nghiêm túc song cũng cần
phải động viên, khích lệ.
Sau đây là một số bài tập thực hành mà tôi đã thực hiện trong thời gian
qua:
2.1. Biểu cảm về một loài cây
Bài tập 1: Phát biểu cảm nghĩ về loài cây em yêu.
Giải: - Mở bài: Giới thiệu về loài hoa hoặc loài cây em yêu và giới thiệu cảm
xúc ban đầu của người viết.
- Thân bài: Phát biểu cảm nghĩ của em về loài cây, hoặc loài hoa đó.
+ Những đặc điểm gợi cảm ở cây hoặc hoa mà em thích thú.
+ Những kỉ niệm gắn bó của em với loài hoa, loài cây đó.
13
+Nêu ý nghĩa của loài hoa, loài cây đó trong cuộc sống của em và của mọi
người. (ngoài ra có thể nêu ý nghĩa biểu tượng của nó ).
- Kết bài : Nêu tình cảm của em về loài hoa, cây đó.
2.2. Biểu cảm về một sự vật
Bài tập 1 : Phát biểu cảm nghĩ của em về món quà tuổi thơ.
Giải :
- Mở bài : - Giới thiệu về món quà tuổi thơ.
- Thân bài : Phát biểu cảm nghĩ của em về món quà tuổi thơ đó.
+ Những đặc điểm gợi cảm ở món quà khiến em thích thú.
+ Những kỉ niệm gắn bó của em với món quà đó.
+ Nêu ý nghĩa của món quà đó trong cuộc sống của em và của mọi người. (ngoài
ra có thể nêu ý nghĩa biểu tượng của nó ).
- Kết bài : Nêu tình cảm của em về món quà đó.
2.3: Biểu cảm về con người
Bài tập 1 : Phát biểu cảm nghĩ của em về người em thương yêu nhất.
Hai câu ở bài ca dao trên chỉ nói được cái vui khi ăn, còn bốn câu này
nói được cả một quá trình vui khá dài (từ khi bắt cua ngoài đồng đến lúc ăn
canh cua ở nhà, nhất là cái cảnh nấu nấu, rang rang).
Bài tập 2: Hãy trình bày cảm nghĩ của em về tình yêu quê hương đất nước
và nhân dân qua bài ca dao sau:
Đứng bên ni đồng, ngó bên tê đồng mênh mông bát ngát.
Đứng bên tê đồng , ngó bên ni đồng cũng bát ngát mênh mông.
Thân em như chẽn lúa đòng đòng.
Phất phơ dưới ngọn nắng hồng ban mai.
a.Tìm hiểu:
- Hình ảnh cánh đồng đẹp mênh mông, bát ngát.
- Hình ảnh cô gái.
Biện pháp so sánh: Em như chẽn lúa đòng đòng.
Phất phơ dưới ngọn nắng hồng ban mai.
b. Luyện viết:
* Gợi ý: Cái hay của bài ca dao là miêu tả được 2 cái đẹp: cái đẹp của cánh
đồng lúa và cái đẹp của cô gái thăm đồng mà không thấy ở bất kì một bài ca dao
nào khác.
Dù đứng ở vị trí nào, “đứng bên ni” hay “đứng bên tê”để ngó cánh đồng
quê nhà, vẫn cảm thấy “mênh mông bát ngát . bát ngát mênh mông”.
16
Hình ảnh cô gái thăm đồng xuất hiện giữa khung cảnh mênh mông bát ngát
của cánh đồng lúa và hình ảnh ấy hiện lên với tất cả dáng điệu trẻ trung, xinh
tươi, rạo rực, tràn đầy sức sống. Một con người năng nổ, tích cực muốn thâu
tóm, nắm bắt cảm nhận cho thật rõ tất cả cái mênh mông bát ngát của cánh đồng
lúa quê hương .
Hai câu đầu cô gái phóng tầm mắt nhìn bao quát toàn bộ cánh đồng để
chiêm ngưỡng cái mênh mông bát ngát của nó thì hai câu cuối cô gái lại tập
trung ngắm nhìn quan sát và đặc tả riêng một chẽn lúa đòng đòng và liên hệ với
bản thân một cách hồn nhiên. Hình ảnh chẽn lúa đòng đòng đang phất phơ trong
Bài tứ tuyệt “Thiên Trường vãn vọng” là bức tranh quê đậm nhạt, mờ
sáng rất đẹp và tràn đầy sức sống. Một bút pháp nghệ thuật cổ điển tài hoa. Một
tâm hồn thanh cao yêu đời. Tình yêu thiên nhiên, yêu đồng quê xứ sở đã được
thể hiện bằng một số hình tượng đậm đà, ấm áp qua những nét vẽ tinh tế, gợi
hình, gợi cảm, giàu liên tưởng. Kì diệu thay, bài thơ đã vượt qua hành trình trên
18
bảy trăm năm, đọc nên nó vẫn cho ta nhiều thú vị. Ta vẫn cảm thấy cánh cò
trắng được nói đến trong bài thơ vẫn còn bay trong ráng chiều đồng quê và còn
chấp chới trong hồn ta. Tình quê và hồn quê chan hòa dào dạt.
( Bài làm của em Nguyễn Hồng Minh- học sinh lớp 7B– Trường THCS
Lê Quý Đôn )
IV. KIỂM NGHIỆM:
Qua việc vận dụng “ Các giải pháp dạy học sinh lớp 7 viết văn biểu cảm”,
tôi nhận thấy chất lượng dạy và học văn biểu cảm lớp 7 đã nâng cao. Bản thân
tôi cảm thấy tự tin, yêu nghề hơn. Còn đối với học sinh không còn bỡ ngỡ với
kiểu văn bản này. Kết quả môn Ngữ văn 7 học kì I năm học 2012-2013 đã có
nhiều bài viết tốt.
Cụ thể :
Lớp Sĩ số
Trung bình Khá Giỏi
Số lượng % Số lượng % Số lượng %
7C
(không vận
dụng)
42 11 26.2 28 66.7 3 7.1
7B
(vận dụng )
43 2 4.6 28 67.5 12 27.9
19
PHẦN C - KẾT LUẬN