- 1 -
PHÒNG GIÁO DỤC TÂN BÌNH
TRƯỜNG TIỂU HỌC LÊ VĂN SĨ
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
NGƯỜI THỰC HIỆN : VŨ THÀNH HUY
CHỨC VỤ : GIÁO VIÊN
LỚP : BỐN
Năm học : 2006 - 2007
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ KINH NGHIỆM VỀ DẠY – HỌC VĂN MIÊU TẢ
LỚP 4 – 5
I. ĐẶT VẤN ĐỀ :
1/ Lý do chọn đề tài :
Giáo dục tiểu học là bậc học nền tảng của hệ thống giáo dục quốc dân, có
nhiệm vụ xây dựng và phát triển tình cảm, đạo đức, trí tuệ, thẩm mó và thể
chất trí tuệ cho trẻ em. Nhằm hình thành cơ bản ban đầu cho sự phát triển
nhân cách con người xã hội chủ nghóa.
Để đạt được mục tiêu trên nhà trường tiểu học đã coi trọng việc dạy đủ 9
môn học trong đó môn Tiếng Việt là một trong 9 môn được coi trọng và
chiếm lượng thời gian tương đối nhiều. Môn Tiếng Việt bước đầu dạy cho
HS nhận biết những tri thức cơ bản cần thiết bao gồm : Ngữ âm, chữ viết, từ
vựng, ngữ nghóa, chính tả……..Trên cơ sở đó rèn luyện các kó năng ngôn ngữ :
nghe, nói, đọc, viết……. Nhằm giúp HS sử dụng hiệu quả Tiếng Việt trong suy
nghó và giao tiếp. Ngoài ra nó còn góp phần bồi dưỡng cho các em những
tình cảm chân chính lành mạnh…. Đồng thời hình thành và phát triển ở các
em những phẩm chất tốt đẹp.
Trong phân môn Tiếng Việt có rất nhiều phân môn như : Tập đọc, Từ và
câu, Tập làm văn, Kể chuyện, Chính tả……. Mỗi phân môn có một vò trí và
nhiệm vụ khác nhau. Chúng đều hỗ trợ và thúc đẩy lẫn nhau.
Tập làm văn là một phân môn có vò trí hết sức quan trọng đối với HS tiểu
Theo Đào Duy Anh trong Hán Việt tự điển, miêu tả là “ Lấy nét vẽ hoặc
câu văn để biểu hiện cái chân tướng của sự vật ra”. Vì thế trong cuộc sống
hàng ngày, muốn mọi người cùng nhận ra điều mình thấy, đã làm, đã
sống….Chúng ta cần miêu tả. Mỗi bài văn miêu tả là sự kết tinh của những
nhận xét tinh tế, là sản phẩm, là sự đúc kết của việc tiếp thu và vận dụng
những kiến thức đã học. Đọc xong bài văn chúng ta có thể thấy ngay được
kết quả của việc dạy và học..
Trong thực tế của trường tiểu học hiện nay, ở một số tiết học GV còn nói
nhiều, GV chưa khơi gợi huy động vốn hiểu biết, cách sử dụng từ ngữ mà bắt
HS học nhiều, yêu cầu HS nhớ nhiều để bắt chước rồi “ làm Văn”. Do vậy
về phía HS còn có những hiện tượng phổ biến như :
+ Vay mượn tình ý của người khác, thường là của một bài văn mẫu. Nói
cách khác HS thường dễ dàng thuộc một đoạn văn, bài văn mẫu. Khi làm
các em biến thành bài làm của mình không kể đề bài quy đònh như thế nào.
Với cách làm như vậy các em không cần biết đến đối tượng cần miêu tả,
không quan sát và không có cảm xúc gì về chúng. Khi giáo viên chấm bài
rất có thể khen nhằm bài văn của người khác mà cứ tưởng là bài văn của HS
mình. Khi đọc bài văn của nhiều em cứ na ná nhau.
+ Miêu tả hời hợt chung chung; Không có sắc thái riêng biệt nào của đối
tượng được miêu tả. Vì thế bài văn ấy có thể gắn cho đối tượng miêu tả cùng
loại nào cũng được. Một bài văn như vậy đọc lên không có cảm xúc, nhợt
nhạt, mờ mờ.Nguyên nhân chủ yếu là vì các em không được quan sát hoặc
không biết hồi tưởng lại kinh nghiệm sống của mình, không biết cách quan
sát nên không có được nhận xét gì cụ thể về đối tượng miêu tả.
+ Về phía GV dạy văn miêu tả thường có những biểu hiện phổ biến như
sau : Chỉ có một con đường duy nhất hình thành các hiểu biết về lý thuyết
thể văn, các kó năng làm bài là qua phân tích các bài văn mẫu.
_ Để đối phó với việc HS làm bài kém, để đảm bảo “ chất lượng” khi
kiểm tra thi cử, nhiều GV cho HS thuộc một bài văn mẫu để khi các em gặp
- 3 -
_ Để thực hiện tốt các biện pháp và yêu cầu trên tôi phải dứt khoát về
mặt nhận thức. Thấy rõ nhược điểm cách dạy của mình, kiên quyết từ bỏ các
nhược đó. Thực hiện tốt các yêu cầu trên, từ hình thức tổ chức lớp học tới
hoạt động của thầy và trò trong lớp đều có sự thay đổi. Muốn quan sát trực
tiếp đối tượng tiết học quan sát, tìm ý tôi không tiến hành giữa 4 bức tường
mà tiến hành giữa thiên nhiên….( Xu-khôm-lin-xki, nhà giáo dục XôViết đã
cho rằng : Việc HS tiếp xúc với thiên nhiên, việc dạy các em miêu tả cảnh
vật nhìn thấy, nghe thấy… là con đường hiệu quả nhất để giáo dục các em và
phát triển ngôn ngữ.ng phê phán các tổ chức học tập tách HS với thế giới
xung quanh).Đồng thời về mặt trậ tự và nề nếp học tập không thể quan niệm
- 4 -
đại khái, HS có thể tự do lựa chọn vò trí quan sát, các em có thể trao đổi nhỏ
với nhau.
+ Về phương pháp cụ thể , tôi thay những phương pháp ( thầy nói là
chính, nói nhiều , nói dài, xen vào đó có hỏi HS một vài câu….), xây dựng
các thói quen làm mới : Làm người tổ chức, người hướng dẫn HS hoạt động,
chú ý tới từng cá nhân HS, tôn trọng ý kiến của các em, không phê phán vội
vàng chủ quan………Vì vậy phải bồi dưỡng rất nhiều về lí luận, về kiến thức
văn miêu tả cũng như phương pháp dạy bộ môn.
_ Tính chân thật đòi hỏi bài văn miêu tả phải có các chi tiết sát thực : Tả
đúng bản chất của đối tượng miêu tả, thể hiện những nét đẹp đẽ đúng đắn tư
tưởng tình cảm của HS khi bộc lộ thái độ của các em với đối tượng miêu tả.
Ví dụ : Trong đề bài “ Quan sát, miêu tả cái cối đậu” hoặc “Quan sát cây
cà chua, cây xoan ( cậy sầu đâu)……”
Đây là đồ vật và các loại cây mà ở thành phố các em chưa gặp bao giờ và
không biết.
Đầu tiên phải cho các em xem tranh, hướng dẫn các đặt điểm từng bộ
phận của đồ vật cũng như về loại câu mà với vốn sống của một GV tôi cung
cấp cho các em; Đối với nhận thức tiếp thu của HS không nên đòi hỏi cao
mà theo tôi cần phải để các em cảm nhận từ từ…