Nghiên cứu ảnh hưởng của chì đến một số chỉ tiêu sinh lý, sinh trưởng và hàm lượng tích tụ Pb trong các bộ phận của cây đậu bắp Abelmoschus esculentus L. - Pdf 25

Trường Đại học Sư phạm Hà Nội Khóa luận tốt nghiệp
Cao Thị Khương- K59A- Khoa Sinh học i
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội Khóa luận tốt nghiệp
Cao Thị Khương- K59A- Khoa Sinh học i
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội Khóa luận tốt nghiệp
LỜI CẢM ƠN
Với tấm lòng biết ơn sâu sắc, em xin chân thành cảm ơn cô giáo TS
Trần Khánh Vân và thầy giáo Th.S Nguyễn Viết Hiệp đã tận tình hướng
dẫn, giúp đỡ em trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài.
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô khoa Sinh học- Trường Đại
học Sư phạm Hà Nội, đặc biệt các thầy cô trong tổ bộ môn Sinh lý thực
vật- Ứng dụng và các anh chị trong tổ Vi sinh vật- Viện Thổ nhưỡng Nông
hóa đã tạo mọi điều kiện cho em trong thời gian học tập và nghiên cứu. Và
gia đình, bạn bè, những người thân đã động viên giúp đỡ em trong suốt quá
trình thực hiện đề tài.
Dù đã có nhiều cố gắng nhưng do năng lực còn hạn chế nên trong
khóa luận của em không tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong được sự
chỉ bảo, đóng góp ý kiến của các thầy giáo, cô giáo để bài khóa luận của
em được hoàn chỉnh hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 4 năm 2013
Người viết
Cao Thị Khương
Cao Thị Khương- K59A- Khoa Sinh học i
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội Khóa luận tốt nghiệp
MỤC LỤC
PHẦN MỘT: MỞ ĐẦU
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1
1.1. Đặt vấn đề 1
1.2. Mục đích của đề tài 3
1.3. Nhiệm vụ và nội dung của đề tài 3

(theo L.A. Ivanov) 23
3.2. Các chỉ tiêu sinh trưởng 24
3.3. Các chỉ tiêu năng suất 24
3.4. Động thái tích lũy kim loại nặng 24
4. Phương pháp xử lý số liệu 25
PHẦN III: NỘI DUNG 26
I. ẢNH HƯỞNG CỦA NỒNG ĐỘ CHÌ (Pb) ĐẾN MỘT SỐ CHỈTIÊU
SINH LÝ VÀ SINH TRƯỞNG CỦA CÂY ĐẬU BẮP
( A. esculentus) 26
1.1 Ảnh hưởng của nồng độ Pb đến hàm lượng diệp lục trong lá
đậu bắp 26
1.1.1 Ảnh hưởng của nồng độ Pb đến hàm lượng diệp lục a trong lá đậu
bắp
26
1.1.2. Ảnh hưởng của nồng độ Pb đến hàm lượng diệp lục b trong lá
đậu bắp 28
1.1.3. Ảnh hưởng của nồng độ Pb đến hàm lượng diệp lục tổng số trong lá
đậu
Cao Thị Khương- K59A- Khoa Sinh học iii
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội Khóa luận tốt nghiệp
bắp
29
1.2. Ảnh hưởng của nồng độ Pb đến hoạt tính enzim catalaza trong lá đậu
bắp 31
1.3. Ảnh hưởng của nồng độ Pb đến cường độ thoát hơi nước của lá đậu
bắp 33
1.4. Ảnh hưởng của nồng độ Pb đến các chỉ tiêu sinh trưởng của cây đậu
bắp 35
1.4.1 Ảnh hưởng của nồng độ Pb đến chiều cao cây đậu bắp 35
II. ẢNH HƯỞNG CỦA NỒNG ĐỘ CHÌ (Pb) ĐẾN CHỈ TIÊU NĂNG

BYT: Bộ y tế
CEC: Cation Exchange Capacity ( khả năng trao đổi cation)
FAO: Food and Agriculture Organization of the Unit : Tổ chức Liên hợp
quốc về lương thực và nông nghiệp
EDTA: EthyleneDiamineTetraacetic Acid
EEA: European Economic Area ( Cục môi trường châu Âu)
ppm: part per million( nồng độ phần triệu)
QCVN: Quy chuẩn Việt Nam
SPSS: Statistical Package for the Social Sciences (một chương trình máy
tính phục vụ công tác thống kê)
TCVN: Tiêu chuẩn Việt Nam
Cao Thị Khương- K59A- Khoa Sinh học v
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội Khóa luận tốt nghiệp
UNESCO: United Nations Educational, Scientific and Cultural
Organization (Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp
quốc)
WHO: World Health Organization (Tổ chức Y tế Thế giới)
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1. Ảnh hưởng của nồng độ Pb đến hàm lượng diệp lục a trong lá đậu
bắp
27
Bảng 2. Ảnh hưởng của nồng độ Pb đến hàm lượng diệp lục b trong lá
đậu
bắp
.28
Bảng 3. Ảnh hưởng của nồng độ Pb đến hàm lượng diệp lục tổng số trong
lá đậu
bắp 3
0
Bảng 4. Ảnh hưởng của nồng độ Pb đến cường độ thoát hơi nước của lá

Trường Đại học Sư phạm Hà Nội Khóa luận tốt nghiệp
PHẦN MỘT: MỞ ĐẦU
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1.1. Đặt vấn đề
Hiện nay cùng với sự phát triển về kinh tế- xã hội thì nhu cầu của con
người về các mặt hàng thiết yếu ngày càng tăng trong đó có rau xanh- thực
phẩm không thể thiếu trong mỗi bữa ăn hàng ngày. Rau xanh có vai trò vô
cùng quan trọng đối với sức khỏe của con người. Rau xanh là loại thực
phẩm cần thiết cho cuộc sống hàng ngày và không thể thay thế được. Rau
không chỉ cung cấp một lượng lớn vitamin A, B, C mà còn cung cấp một
phần các nguyên tố vi, đa lượng rất cần thiết trong cấu tạo tế bào trong
khẩu phần ăn hàng ngày. Ngoài ra rau xanh còn cung cấp xenluloz giúp cho
cơ thể tiêu hóa thức ăn, dễ dàng đào thải colesterol và các chất độc khác ra
khỏi cơ thể. Đặc biệt, rau xanh còn là một nguồn dược liệu quý góp phần
bảo vệ sức khỏe con người. Tóm lại rau xanh giúp cải thiện tình trạng
sức khỏe như tăng cường khả năng miễn dịch của cơ thể để phòng
chống các bệnh tật, chống stress và tăng cường minh mẫn. Nhưng nếu
trong rau xanh chứa một lượng lớn kim loại nặng thì sẽ gây hại cho con
người.
Điều này đặt ra câu hỏi: nguyên nhân nào dẫn đến rau xanh bị nhiễm
kim loại nặng? Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến rau xanh nhiễm kim loại
nặng như: do đất nông nghiệp, nước tưới bị ô nhiễm, do quá trình canh
tác Sự phát triển các ngành công nghiệp (như khai thác mỏ, luyện kim
của kim loại nặng, ), khu công nghiệp, các làng nghề (như tái chế pin,
đúc đồng, chạm bạc, ắc qui ) và sự đô thị hóa trong thời gian qua đã và
đang dẫn tới tình trạng ô nhiễm môi trường xung quanh những nơi đó ngày
càng trầm trọng. Đồng thời, do chạy theo lợi nhuận, muốn tăng năng suất,
tăng sản lượng rau xanh nhằm kiếm thu nhập cao dẫn tới người dân ngoài
việc canh tác ngay trên vùng đất bị ô nhiễm còn sử dụng quá mức thuốc
bảo vệ thực vật, phân bón hóa học, hóa chất bảo quản Chính những vấn

các loài thực vật đa mục đích- là thực vật vừa có khả năng tích lũy kim loại
nặng vừa có khả năng cho thương phẩm phù hợp với quy định cho phép
(QCVN 8- 1: 2011/BYT) [19]. Vì hạn chế về thời gian nên tôi chỉ nghiên
cứu với đối tượng kim loại là chì (Pb) trên đối tượng cây đậu bắp.
Xuất phát từ những lý do trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“ Bước đầu nghiên cứu ảnh hưởng của chì (Pb) đến một số chỉ tiêu sinh lý,
sinh trưởng và hàm lượng tích tụ Pb trong các bộ phận của cây đậu bắp
(Abelmoschus esculentus L.)”.
1.2. Mục đích của đề tài
Cao Thị Khương- K59A- Khoa Sinh học 2
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội Khóa luận tốt nghiệp
Nghiên cứu mức độ ảnh hưởng của các nồng độ Pb khác nhau đối với
quá trình sinh trưởng và hàm lượng tích tụ Pb trong các bộ phận của cây
đậu bắp trên đất xám bạc màu sử dụng cho trồng trọt nhằm:
- Đánh giá tác động do ô nhiễm Pb trong môi trường đất đối với cây
đậu bắp.
- Xác định cây đa mục đích vừa có khả năng giải quyết vấn đề ô
nhiễm kim loại nặng trong đất đồng thời vẫn cho thương phẩm.
- Góp phần xây dựng cơ sở khoa học cho các nghiên cứu về khả
năng tích lũy của các kim loại nặng trong thực vật và giới hạn gây độc đối
với thực vật khảo sát.
1.3. Nhiệm vụ và nội dung của đề tài
Để thực hiện mục đích trên, chúng tôi tiến hành xác định các chỉ tiêu
sau:
- Chỉ tiêu sinh lí: hàm lượng diệp lục, hoạt tính enzim catalase,
cường độ thoát hơi nước.
- Chỉ tiêu sinh trưởng: chiều cao cây
- Chỉ tiêu năng suất: khối lượng quả, chiều dài và đường kính quả
- Sự tích tụ kim loại nặng trong các bộ phận của cây đậu bắp.
II. TỔNG QUAN TÀI LIỆU

Việc tái tạo các ắc qui, pin cũng là nguồn quan trọng gây nhiễm độc
Pb. Trên thế giới có tới 63% các nhà máy ắc qui, pin dùng Pb. Ở Mehico,
Caribe, Ấn Độ, công nghiệp quy mô gia đình sản xuất ắc qui, pin thì toàn
Cao Thị Khương- K59A- Khoa Sinh học 4
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội Khóa luận tốt nghiệp
gia đình bị nhiễm độc Pb cực cao. Ở Jamaica, trẻ em sống gần nơi nấu Pb
có mức Pb trong máu cao hơn 3 lần so với nơi khác. Năm 1991, một sự
kiện bùng nổ nhiễm Pb ở Trinidad và Tobaco đã làm cho môi trường đất ô
nhiễm Pb trầm trọng, mức Pb trong máu của trẻ em vùng này thay đổi từ
17 μg/ dl lên 235 μg/ dl với mức trung bình 72 μg/ dl. Năm 2009, các nhà
sản xuất pin Trung Quốc đã thải ra 12 triệu tấn nước thải ô nhiễm kim loại
nặng đặc biệt là kim loại Pb và 22 triệu tấn chất thải rắn dẫn tới vấn nạn
xung quanh các nhà máy pin luôn là nỗi ám ảnh “làng ung thư”. Và theo
một nghiên cứu khác ở Thụy Sĩ, trong một vùng công nghiệp, những ai
sống ở gần đường cao tốc với lưu lượng giao thông lớn (từ 5.000 – 6.000 ô
tô đi qua trong một ngày) thì nguy cơ bị ung thư cao gấp 9 lần cao hơn so
với những người sống cách con đường đó 400 m. Tuy nhiên, Pb không phải
nguyên nhân duy nhất nhưng Pb là nguyên nhân chủ yếu. Ngày nay, hàm
lượng Pb trong cơ thể người Mỹ cao hơn 400 lần so với mức độ tự nhiên
của cơ thể. Một trong những giải thích tại sao đó là do việc sử dụng xăng
pha chì làm nguyên liệu động cơ, mặc dù lượng Pb trong xăng dầu pha chỉ
chiếm 2,2% tổng lượng Pb sử dụng. Ước tính khoăng 90% tổng lượng Pb
phát thải vào không khí do dùng xăng pha chì [8].
Và ở châu Á là một trong những nơi có tình trạng ô nhiễm kim loại
nặng đặc biệt Pb cao trên thế giới, trong đó có Trung Quốc với hơn 10%
đất bị nhiễm độc Pb, hay tại Thái Lan theo Viện Quốc Tế quản lý nhà nước
thì 154 ruộng lúa thuộc tỉnh Tak đã nhiễm Pb cao gấp 94 lần so với tiêu
chuẩn cho phép [2].
2.1.2. Tình hình về ô nhiễm Pb ở Việt Nam.
Ở nước ta, tình hình ô nhiễm kim loại nặng nhìn chung không phổ

nhiễm đã ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất cây trồng và đặc biệt là tới sức
khỏe người dân trong xã [7].
Và một nguyên nhân không thể kể tới đó là rác sinh hoạt, đặc biệt rác
thải đô thị cũng là một nguồn gia tăng lượng kim loại nặng trong đất. Tại đa
số đô thị hiện nay, tỉ lệ thu gom rác còn thấp, thậm chí có một số đô thị
chưa có đơn vị thu gom và nơi tập kết rác. Ở Hà Nội, một trong những đô
thị có tỉ lệ thu gom rác cao nhất, cũng chỉ đạt tỉ lệ dao động khoảng
70- 80% /năm. Lượng rác thải còn lại tồn đọng ở các nước ao hồ, ngõ xóm,
kênh mương, theo dòng nước mưa chảy tràn gây ô nhiễm môi trường. Và
theo các nhà khoa học, thì có khoảng 70- 80% các nguyên tố kim loại nặng
trong nước thải lắng xuống bùn trên đường đi của nó. Do đó việc sử dụng
Cao Thị Khương- K59A- Khoa Sinh học 6
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội Khóa luận tốt nghiệp
bùn thải làm phân bón được coi là một trong những nhân tố cao có nguy cơ
gây ô nhiễm kim loại nặng [22].
Ngoài ra, hoạt động nông nghiệp cũng chính là một nguồn gây ô
nhiễm kim loại nặng. Việc lạm dụng các loại phân bón hóa học, hóa chất
bảo vệ thực vật đã làm gia tăng lượng tồn dư các kim loại như As, Cd, Hg
và Zn trong đất. Sự phát triển và mở rộng các làng nghề thủ công đi kèm
với việc sử dụng ngày càng nhiều hóa chất song hầu hết các làng nghề ở
nước ta hiện nay đều không có biện pháp xử lý chất thải, gây ô nhiễm môi
trường, trong đó có môi trường đất.
2.2. Độc tính của chì.
Các kim loại nặng: Zn, Cu, Cd…chiếm một tỷ lệ rất nhỏ so với khối
lượng cơ thể thực vật, động vật, con người nhưng lại rất cần thiết đối với
đời sống của động- thực vật nếu hàm lượng của chúng là phù hợp. Kim loại
nặng thực hiện nhiều chức năng sinh học quan trọng và là những nguyên tố
hóa học rất cần thiêt đối với sự sinh trưởng và phát triển của sinh vật. Đồng
thời con người đã phát hiện ra mối liên quan khắng khít giữa các nguyên tố
vi lượng (kim loại nặng) và một số lớn các hệ enzym được hoạt hóa bằng

Cao Thị Khương- K59A- Khoa Sinh học 7
SH
SH
S
S
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội Khóa luận tốt nghiệp
Ví dụ: Pb thay thế kẽm trong enzyme axit δ- aminolevulinic
dehydratase (ALAD) và do đó gây ức chế quá trình tổng hợp hem (là một
nhóm không chứa protein, có nhân sắt được bao bọc bởi các dị vòng hữu
cơ porphirin; là thành phần quan trọng của hemoglobin và các enzyme có
chứa hem như các sắc tố tế bào- cytochrome) [1].
2.2.1. Ảnh hưởng của kim loại nặng Pb đến thực vật.
Chì là kim loại có màu xanh xám, rất mềm. Chì là nguyên tố nhóm
IV, số thứ tự 82 trong bảng hệ thống tuần hoàn, khối lượng nguyên tử
207,21; khối lượng riêng d= 11,34 g/cm
3
; thường tồn tại ở dạng hóa trị 2+;
chiếm khoảng 1,6.10
-3
% khối lượng vỏ trái đất, trong khi đó trong đất
trung bình là 10
-3
% (Voitkevits et al., 1985). Nguồn phát thải Pb nhân tạo
chủ yếu trong quá trình khai khoáng, nấu quặng, chế tạo pin, chất dẻo tổng
hợp, sơn và khói bụi động cơ…
Theo nghiên cứu của Pallavi Sharma và cộng sự, mặc dù Pb không
phải là một yếu tố cần thiết đối với thực vật, nhưng Pb lại được dễ dàng
hấp thu và tích lũy trong các bộ phận khác nhau của cây. Sự hấp thu Pb của
thực vật phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: độ pH, đặc tính của đất, khả năng
trao đổi cation trong đất, cũng như các thông số lý hóa học khác và loài

coi là chất thúc đẩy quá trình tổng hợp diệp lục trong lá [32].
- Ảnh hưởng đến quá trình trao đổi nước: Sự suy giảm trong tỷ lệ
thoát hơi nước và hàm lượng nước trong các mô trong lá tăng khi tiếp xúc
với chì. Có nhiều cơ chế khác nhau đã được đề xuất để giải thích cho sự
suy giảm tỷ lệ thoát hơi nước và hàm lượng nước do Pb gây nên. Một trong
những cơ chế được chấp nhận nhiều là do Pb khi xâm nhập vào tế bào thực
vật thì Pb tồn tại chủ yếu ở vách tế bào và gian bào và khi có hàm lượng
lớn Pb ở tế bào cây thì sẽ làm giảm kích cỡ của khí khổng làm cho quá
trình thoát hơi nước của cây giảm so với cây trồng [32].
Tóm lại, Pb ít có ảnh hưởng tới sinh trưởng và phát triển của thực vật
nhưng khi nồng độ Pb quá cao, vượt ngưỡng chịu của cây thì nó có ảnh
hưởng tiêu cực tới toàn bộ quá trình sống của cây.
2.2.2. Ảnh hưởng của kim loại nặng Pb đến cơ thể con người.
Chì và các hợp chất của Pb rất có hại cho cơ thể con người và động
vật. Chì đi vào cơ thể con người qua nước uống, không khí và đặc biệt là
thức ăn bị nhiễm Pb. Chì có độc tính rất cao với cơ thể con người vì trong
cơ thể người, Pb trong máu liên kết với hồng cầu- gây trở ngại cho khả
Cao Thị Khương- K59A- Khoa Sinh học 9
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội Khóa luận tốt nghiệp
năng hấp thu và đào thải của cơ thể, và tích tụ trong xương. Chì sau khi đi
vào cơ thể, 90%- 95% sẽ hình thành chất Pb
3
(PO
4
)
2
vào trong xương và chỉ
một ít được bài tiết khỏi cơ thể. Khi Pb tích tụ trong cơ thể đến một nồng
độ nhất định sẽ gây nên ngộ độc Pb. Dấu hiệu nhận biết khi cơ thể nhiễm
độc Pb là mặt vàng nhợt, váng đầu, mệt mỏi, chán ăn, uể oải, đau khớp và

Vấn đề ô nhiễm kim loại nặng trong môi trường đất, nước không chỉ
là vấn đề riêng của mỗi quốc gia mà còn là vấn nạn cần giải quyết của mọi
quốc gia. Thực chất từ sau những năm 70 của thế kỷ XX, các nhà khoa học
trên thế giới đã bắt đàu nghiên cứu việc sử dụng thực vật có khả năng hấp
thụ kim loại cao ( Hyperaccumulater) để xử lý những vùng đất bị ô nhiễm,
đặc biệt là những vùng khai thác khoáng với việc thải bỏ lượng lớn các kim
loại nặng ra môi trường.
Đến nay, các nghiên cứu cho thấy có khoảng 400 loài thực vật có
khả năng hấp thụ kim loại nặng thuộc các họ: Asteraceae, Brassicaceae,
Caryophyllaceae, Cyperaceae, Fabaceae, Lamiaceae, Poaceae, Violaceae
và Euphobiacea. Trong đó, họ Cải (Brassicaceae) có số lượng lón nhất
gồm 11 loài và 87 giống. Các loài thuộc chi Thlaspi thường hấp thụ nhiều
hơn một kim loại nặng. Ví dụ như: T. caerlescence hấp thụ Cd, Ni, Pb,
Zn… [25].
Nghiên cứu cho thấy, các loài thực vật có khả năng hấp thu kim loại
nặng khác nhau và có sự phân bố kim loại nặng trong các phần của cây
cũng khác nhau. Ở cùng một nồng độ Pb 50 μg/ml, hướng dương tích lũy
vào rễ là 4391 μg Pb/g sinh khối khô, lớn hơn bìm bìm (1020 μg Pb/g sinh
khối khô) và tích lũy vào lá là 232 μg Pb/g sinh khối khô nhỏ hơn ở bìm
bìm: 686 μg Pb/g sinh khối khô… [25].
Nguy cơ ô nhiễm kim loại nặng ở nước ta rất đáng chú ý vì nước ta
đang trong thời kỳ công nghiệp hóa- hiện đại hóa cùng tốc độ công nghiệp
hóa nhanh trong khi quy hoạch đô thị chưa ổn định. Các khu công nghiệp
được xây dựng xen kẽ với khu dân cư và vùng sản xuất nông sản, thủy sản
gây ô nhiễm môi trường nước, đất và chuyển hóa vào cây trồng ảnh hưởng
đến sức khỏe người tiêu dùng. Qua nhiều tài liệu cho thấy ngành công
nghiệp sản xuất sơn, bột màu gây ô nhiễm Pb, Zn và thuốc trừ sâu gây ô
nhiễm Pb, As, Cd,… Ô nhiễm Pb ở nước ta ngày càng trầm trọng do nguồn
nguyên liệu xăng pha Pb ngày càng được sử dụng nhiều để chạy động cơ.
Cao Thị Khương- K59A- Khoa Sinh học 11

đã chứng tỏ việc sử dụng cỏ vetiver để xử lý đất ô nhiễm kim loại nặng là
giải pháp có tính khả thi [16].
2.4. Khả năng hấp thụ kim loại nặng của thực vật trong đất.
Cao Thị Khương- K59A- Khoa Sinh học 12
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội Khóa luận tốt nghiệp
Làm sạch đất ô nhiễm là một quá trình đòi hỏi công nghệ phức tạp và
vốn đầu tư cao. Có nhiều phương pháp khác nhau để sử dụng để xử lý kim
loại nặng trong đất. Những phương pháp truyền thống như: rửa đất; cố định
các chất ô nhiễm bằng hoá học hoặc vật lý; xử lý nhiệt; trao đổi ion; ôxi
hoá hoặc khử các chất ô nhiễm; đào đất bị ô nhiễm để chuyển đi đến những
nơi chôn lấp thích hợp, Song hầu hết các phương pháp này rất tốn kém về
kinh phí, giới hạn về kỹ thuật và hạn chế về diện tích Do đó, gần đây,
phương pháp sử dụng thực vật để xử lý kim loại nặng trong đất được các
nhà khoa học quan tâm đặc biệt bởi chi phí đầu tư thấp, an toàn và thân
thiện với môi trường. Nhờ những hiểu biết về cơ chế hấp thụ, chuyển hóa,
chống chịu và loại bỏ kim loại nặng của một số loài thực vật, các nhà khoa
học bắt đầu chú ý đến khả năng sử dụng thực vật để xử lý ô nhiễm môi
trường. Khả năng làm sạch môi trường của thực vật đã được biết đến từ thế
kỷ XVIII bằng các thí nghiệm của Ioseph Priestley, Antoine Lavoissier,
Kail Scheele và Jan Ingenhousz. Nhưng mãi đến những năm 1990 phương
pháp này mới được nhắc đến như một loại công nghệ mới trong việc xử lý
môi trường đất, nước bị ô nhiễm bởi các kim loại, các chất hữu cơ, chất
phóng xạ [14], [17].
Thực vật có nhiều cách phản ứng khác nhau đối với sự có mặt của
các ion kim loại trong môi trường sống. Hầu hết các loài thực vật rất mẫn
cảm với sự có mặt của các ion kim loại, thậm chí ở nồng độ rất thấp. Tuy
nhiên vẫn có một số loài thực vật không chỉ có khả năng sống được trong
môi trường bị ô nhiễm bởi các kim loại độc hại mà còn có khả năng hấp thụ
và tích lũy chúng trong các cơ quan khác nhau. Trong những năm gần đây,
người ta quan tâm rất nhiều về công nghệ sử dụng thực vật để xử lý môi

được điều kiện 1 nhưng không không đáp ứng được điều kiện 2, do vậy
cũng cần quan tâm tới những loài thực vật tuy khả năng tích lũy kim loại
nặng thấp nhưng lại cho sinh khối cao. Khi thu hoạch các loài thực vật này
thì các chất ô nhiễm cũng được loại bỏ ra khỏi đất.
- Phương pháp sử dụng thực vật để cố định kim loại trong đất hoặc
bùn bởi sự hấp thụ của rễ hoặc kết tủa trong vùng rễ. Quá trình này làm
giảm khả năng linh động của kim loại, ngăn chặn ô nhiễm nước ngầm và
làm giảm hàm lượng kim loại khuếch tán vào các chuỗi, lưới thức ăn.
Qua nghiên cứu của nhiều nhà khoa học trên thế giới, có ít nhất 400
loài thực vật phân bố trong 45 họ thực vật biết được có khả năng hấp thu
kim loại nặng [9]. Các loài này là các loài thực vật thân thảo hoặc thân gỗ,
có khả năng tích lũy và không có biểu hiện về mặt hình thái khi nồng độ
Cao Thị Khương- K59A- Khoa Sinh học 14
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội Khóa luận tốt nghiệp
kim loại nặng trong thân cao hơn hàng trăm lần so với bình thường. Các
loài thực vật này thích nghi một cách đặc biệt với các điều kiện môi trường
và khả năng tích lũy hàm lượng kim loại cao có thể góp phần ngăn cản các
loài sâu bọ và sự nhiễm nấm [12], [14], [17].

PHẦN II: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1. Đối tượng thí nghiệm:
1.1. Yếu tố thí nghiệm
- Yếu tố thí nghiệm: Kim loại Pb trong đất với các nồng độ khác
nhau.
Dựa theo tiêu chuẩn kỹ thuật quốc gia về giới hạn cho phép của kim
loại nặng trong đất (QCVN 03 : 2008/BTNMT) thì mức giới hạn tối đa cho
phép của Pb trong đất là 70 ppm và Điều 92- Luật Bảo vệ môi trường (năm
2005), chúng tôi tiến hành thí nghiệm với kim loại Pb trong đất với các
nồng độ: nền, 70 ppm, 210 ppm, 350 ppm [6], [18] tương ứng với các công
Cao Thị Khương- K59A- Khoa Sinh học 15


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status