Trọn bộ câu hỏi đáp án ôn thi môn chủ nghĩa xã hội khoa học - Pdf 25

1
Vấn đề 1 : Phân tích và chứng minh tính đúng đắn của Cương lĩnh chính trị đầu tiên
của Đảng Cộng sản Việt Nam
Ngay từ khi Đảng cộng sản Việt Nam mới thành lập, trong cương lĩnh chính trị đầu tiên
của Đảng tháng 2 năm 1930 đã khẳng định con đường, mục tiêu, nhiệm vụ của cách mạng
nước ta. Cương lĩnh đâu tiên trở thành ngọn cờ tập hợp, đoàn kết các lực lượng và lãnh đạo
phong trào cách mạng từ khi Đảng được thành lập, nội dung của cương lĩnh nhìn chung luôn
được thể hiện nhất quán trong suốt toàn bộ đường lối cách mạng nước ta qua từng thời kỳ.
Việc tìm hiểu để nêu những luận điểm của Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng là điều
cần thiết để khẳng định giá trị khoa học và tính đúng đắn của con đường mà Đảng và nhân
dân ta đã lựa chọn.
Những năm trước 1930, nước ta dưới sự thống trị của thực dân Pháp, hàng ngàn cuộc đấu
tranh yêu nước nổi dậy nhưng rồi lần lượt đều bị đàn áp và đi đến thất bại. Giữa lúc dân tộc ta
đứng trước cuộc khủng hoảng về đường lối cứu nước, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã ra đi tìm
con đường cứu nước. Năm 1920, Người đến với chủ nghĩa Mác LêNin và sau đó bắt đầu
truyền bá tư tưởng chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam. Đến năm 1929, nhu cầu phải thành
lập Đảng Cộng sản đã chín muồi. Từ tháng 3/1929 đến tháng 01/1930 có 3 tổ chức Đảng
Cộng Sản lần lượt ra đời ở 3 miền Bắc, Trung, Nam, tuy chứng tỏ sự thắng thế của tư tưởng
cách mạng vô sản, song trong một nước có 3 tổ chức đảng cộng sản hoạt động riêng rẽ cũng
là một trở ngại cho phong trào cách mạng. Trước tình hình đó, nhận chỉ thị của Quốc tế Cộng
sản, đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã triệu tập Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản từ ngày 3
đến ngày 7/2/1930 tại Cửu Long, Hương cảng, Trung Quốc. Hội nghị đã thống nhất các
nhóm cộng sản thành một đảng và lấy tên đảng là Đảng cộng sản Việt Nam; đồng thời đã
thông qua Chính cương, sách lược, Điều lệ tóm tắt của Đảng và điều lệ tóm tắt của các đoàn
thể quần chúng. Chính cương, sách lược tóm tắt đã trở thành cương lĩnh chính trị đầu tiên của
Đảng xác định đường lối cách mạng Việt Nam với những nội dung cơ bản sau đây:
Một là cách mạng Việt Nam phải là cách mạng tư sản dân quyền và thổ địa cách mạng
để tiến lên xã hội cộng sản. Thực chất đó là một cuộc cách mạng có 2 giai đoạn : giai đoạn
thứ nhất đó là cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, giai đoạn thứ hai là sau khi giành được
thắng lợi sẽ chuyển sang làm cách mạng xã hội chủ nghĩa để tiến tới xã hội cộng sản.
Hai là trong cách mạng tư sản dân quyền có hai nhiệm vụ chiến lược là chống đế quốc

bọn địa chủ phong kiến chung quanh vấn đề ruộng đất, người dân cày hoàn toàn phụ thuộc
vào địa chủ, bị trói chặt vào mảnh ruộng của giai cấp địa chủ và bị bóc lột với tô thuế nặng
nề.
Từ hai mâu thuẫn cơ bản trên cho thấy rằng nguyện vọng tha thiết và cấp bách của dân tộc
lúc này chính là đánh đổ đế quốc để giải phóng dân tộc, giành độc lập tự do và đánh đổ
phong kiến để giành dân chủ, giành ruộng đất cho người cày. Chỉ có giải quyết 02 mâu thuẫn
này thì xã hội Việt Nam mới thoát khỏi áp bức, bóc lột, phát triển đi lên. Muốn giải quyết
mâu thuẫn đó, nhân dân Việt Nam phải làm "tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách
mạng để đi tới xã hội cộng sản".
Như vậy, cương lĩnh cũng đã xác định rõ mục tiêu cuối cùng của cách mạng Việt Nam
không chỉ dừng lại ở giai đoạn hoàn thành cuộc cách mạng giải phóng dân tộc mà phải thực
hiện tiếp cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa, đưa cả nước đi lên CNXH, CNCS – mà thắng lợi
của Cách mạng tháng 10 Nga năm 1917 là sự mở đường cho thời kỳ quá độ lên CNXH trên
toàn thế giới. Về thực chất, đó là con đường cách mạng giành độc lập dân tộc, thực hiện khẩu
hiệu “người cày có ruộng” và các quyền dân chủ chính trị, kinh tế, văn hóa… cho các tầng
lớp nhân dân, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa đi tới xã hội cộng sản mà chủ nghĩa xã hội là
giai đoạn đầu của nó. Hai cuộc cách mạng này liên quan mật thiết với nhau, ảnh hưởng và
thúc đẩy lẫn nhau, cuộc cách mạng trước thành công tạo điều kiện cho cuộc cách mạng sau
giành thắng lợi. Vì vậy, giữa hai giai đoạn cách mạng này: giải phóng dân tộc và xây dựng
chủ nghĩa xã hội không có bức tường ngǎn cách.
Luận điểm trên đánh dấu sự phát triển vượt bậc tư duy lý luận chính trị của cách mạng
Việt Nam và chứng tỏ rằng, ngay từ khi ra đời, Đảng ta đã nǎm vững nguyên lý cơ bản của
chủ nghĩa Mác - Lênin, vận dụng sáng tạo kinh nghiệm cách mạng thế giới, thấu suốt con
đường phát triển tất yếu của cách mạng Việt Nam, nhận rõ mối quan hệ biện chứng giữa cách
mạng dân tộc dân chủ với cách mạng xã hội chủ nghĩa. Con đường cách mạng Cương lĩnh
chính trị đã nêu mang tính triệt để và rọi sáng một hướng phát triển mới của Cách mạng Việt
Nam và cũng là một chân lý cách mạng mà Đảng cộng sản Việt Nam và nhân dân Việt Nam
phấn đấu thực hiện : giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người; tự do hạnh
phúc của nhân dân là giá trị chân thực của độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
2. Việc giải quyết mối quan hệ giữa nhiệm vụ chống đế quốc và nhiệm vụ chống phong

cuốn được giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức đi theo mình, trên cơ sở ấy mới tạo ra được
hậu thuẫn mạnh mẽ để mở rộng quyền lãnh đạo của mình đến các tầng lớp nhân dân lao động
khác trong toàn xã hội. Với một nước có 90% dân số là nông dân thì thực hiện cho được liên
minh công nông vì đó là sự đảm bảo chắc chắn nhất cho những thắng lợi của cách mạng.
Cùng với giai cấp nông dân, đội ngũ trí thức vốn xuất thân từ nhiều giai cấp, nhiều tầng lớp
xã hội khác nhau, tuy họ không đại diện cho một phương thức sản xuất nào, không phải là
một lực lượng chính trị độc lập trước các giai cấp và tầng lớp xã hội khác, do đó họ không có
hệ tư tưởng riêng. Song đội ngũ trí thức dưới bất cứ chế độ nào cũng có vai trò và vị trí rất
quan trọng. Trong giai đoạn trước 1930, đội ngũ trí thức đa số đều có lòng yêu nước, khao
khát độc lập, tự do, dân chủ. Mặc dù vẫn có một số ít cam tâm làm tay sai như số đồng vẫn
giữ được khí tiết dù ở hoàn cảnh nào cũng không nguôi lòng cứu nước. Khi có điều kiện,
những trí thức yêu nước thường đóng vai trò truyền bá những tư tưởng mới và là ngòi pháo
của các cuộc đấu tranh chống thực dân, phong kiến, bởi lẽ họ là một lực lượng xã hội có trình
độ học vấn cao, hiểu biết rộng, nắm được tri thức khoa học - công nghệ. Giai cấp tư sản Việt
Nam xuất hiện từ trong thời gian Chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914-1918), vừa ra đời đã
bị sự chèn ép của tư bản Pháp và phân hoá thành hai bộ phận. Một số ít tham gia vào các cơ
quan chính trị và kinh tế của đế quốc Pháp, trở thành lớp tư sản mại bản. Một bộ phận khác
tuy có tinh thần yêu nước, chống phong kiến và đế quốc, nhưng họ không có khả nǎng lãnh
đạo cách mạng và chỉ có thể tham gia cuộc đấu tranh ấy trong điều kiện nhất định. Thực tế
lịch sử cũng đã chứng minh rõ mọi khuynh hướng coi thường hoặc phủ nhận vai trò của các
lực lượng xã hội to lớn này, không quan tâm đầy đủ đến việc xây dựng, củng cố khối liên
minh công - nông và trí thức trong các giai đoạn và các thời kỳ cách mạng, có nghĩa là đặt
giai cấp công nhân vào một hoàn cảnh phải chiến đấu đơn độc và đó là một sai lầm chính trị
nghiêm trọng.chủ nghĩa Mác.
4. Cương lĩnh đầu tiên khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam là nhân tố
quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Sự thất bại của cuộc khởi nghĩa Yên Bái
(9-2-1930), đánh dấu sự chấm dứt ảnh hưởng của hệ tư tưởng tư sản và Đảng cộng sản Việt
Nam ra đời với vai trò lãnh đạo cách mạng đã xác lập ảnh hưởng của hệ tư tưởng vô sản
trong cách mạng Việt Nam. Đảng cộng sản Việt Nam ra đời mở đầu thời đại mới trong lịch
sử nước ta, thời đại giai cấp công nhân và đảng tiên phong của nó đứng vị trí trung tâm, kết

sung, hoàn thiện và là một nguồn tǎng thêm sức mạnh lớn hơn sức mạnh vốn có của ta, là
một nhân tố thắng lợi của cách mạng Việt Nam
Ngoài ra, do sớm nhận thức được sự thống nhất giữa giải phóng dân tộc với giải phóng
giai cấp, giải phóng xã hội trong cách mạng vô sản ở nước thuộc địa, coi trọng độc lập tự chủ,
tự lực tự cường của từng quốc gia, việc đặt tên Đảng là Đảng cộng sản Việt Nam (chứ không
phải là Đảng Cộng sản Đông dương theo hướng chỉ đạo của Quốc tế Cộng sản) là hoàn toàn
đúng đắn xuất phát từ sự hiểu biết đúng đắn về tình hình, đặc điểm, tâm lý dân tộc của ba
nước Đông Dương (Việt Nam, Cao Miên, Lào) và theo quan điểm LêNin: các dân tộc bị lệ
thuộc sau khi độc lập được tách ra để xây dựng độc lập dân tộc và có quyền tự quyết.
Đối với công cuộc đổi mới hiện nay cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng có ý nghĩa rất
quan trọng: một là đổi mới phải kiên định mục tiêu xã hội chủ nghĩa, hai là đổi mới phải tăng
cường sự lãnh đạo của Đảng, ba là đổi mới phải động viên được đông đảo quần chúng tham
gia. Bốn là đổi mới phải mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế, đa phương, đa dạng quan hệ ngoại
giao.
Tóm lại, Đảng cộng sản Việt Nam ra đời ở một nước thuộc địa, giai cấp công nhân chỉ
chiếm 1,2% dân số, đã có Cương lĩnh chính trị đầu tiên đúng đắn ngay từ đâu. Điều đó chứng
minh rằng, Đảng đã nắm vững bản chất khoa học và cách mang của chủ nghĩa Mác - Lênin,
giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa yếu tố dân tộc và yếu tố giai cấp, sớm kết hợp yếu tố
giai cấp với yếu tố dân tộc một cách sáng tạo, gắn chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ
nghĩa quốc tế vô sản, phát huy được truyền thống yêu nước, đánh giá đúng vị trí của từng giai
cấp cách mạng, đoàn kết được các lực lương yêu nước, nhờ đó mà Đảng đã nắm được quyền
lãnh đạo cách mang. Chúng ta cũng không thể phủ nhận được rằng những chủ trương, mục
tiêu, nhiệm vụ mà Cương lĩnh đã nêu thời gian qua đã chứng tỏ sự đúng đắn, khoa học và như
một thứ động lực tinh thần hợp lòng người nhất, để trên nền móng đó phát huy sức mạnh của
lòng yêu nước của dân tộc Việt Nam, đặc biệt là trong công cuộc đổi mới xây dựng CNXH
ngày nay.
5
Vấn đề 2 : Trong bản Chỉ thị kháng chiến kiến quốc của thường vụ Trung ương
Đảng ngày 25/11/1945 có khẳng định : “Giành chính quyền càng dễ bao nhiêu thì giữ
chính quyền lại càng khó bấy nhiêu”. Bằng kiến thức lịch sử Đảng, đồng chí hãy phân

nhân không có việc làm, hàng hóa khan hiếm, giá cả tăng vọt. Tài chính cạn kiệt, ngân sách
trống rỗng, Ngân hàng Đông dương còn nằm trong tay tư bản Pháp. Quân Tưởng tung tiền
Quan kim mất giá ra thị trường gây rối loạn nền tài chính, kinh tế của ta. Đã vậy, ta còn phải
cung cấp lương thực cho 20 vạn quân Tưởng. Về mặt xã hội, dưới chính sách ngu dân của
Pháp, 95% dân số mù chữ, tệ nạn xã hội phát triển mạnh mẽ. Về ngoại giao : Chính phủ Việt
Nam Dân Chủ Cộng Hòa chưa được thế giới công nhận và đặt quan hệ ngoại giao với ta.
Chính quyền non trẻ chưa được lực lượng tiến bộ trên thế giới giúp đỡ.
Nhưng nghiêm trọng hơn vẫn là tình hình an ninh, chính trị. Ngay sau cách mạng thành
công, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động đã bao vây, chống phá hòng tiêu diệt chính
quyền cách mạng non trẻ. Gần 20 vạn quân Tưởng, đồng minh của đế quốc Mỹ cùng bọn tay
sai kéo vào miền Bắc nước ta với ý đồ tiêu diệt Đảng ta, lật đổ chính quyền cách mạng, lập
nên chính quyền tay sai của chúng. Ở miền Nam, quân đội Pháp được đế quốc Anh che chở
đã đánh chiếm Nam Bộ hòng lập lại chế độ thực dân của chúng. Nhiều đảng phái phản động
(Việt Quốc, Việt Cách, Đại Việt ) công khai hoạt động chống chính quyền. Chính quyền
cách mạng tiếp thu một đất nước đổ nát với nạn đói và sự kiệt quệ về kinh tế, tài chính và biết
bao hậu quả khác mà chế độ phong kiến, thực dân để lại. Với những thử thách nặng nề đó, sự
mất - còn của chính quyền đặt trong thế "ngàn cân treo sợi tóc". Chính quyền nhân dân có
6
thể bị lật đổ, nền độc lập mới giành được có nguy cơ bị mất. Tình hình đó đòi hỏi đảng và
chính quyền cách mạng phải có đường lối chiến lược và sách lược đúng đắn mới có thể bảo
vệ và phát triển thành quả cách mạng. Đảng đã chủ trương bất kể tình hình như thế nào cũng
phải "củng cố chính quyền, chống thực dân Pháp xâm lược, bài trừ nội phản, cải thiện đời
sống cho nhân dân".
Củng cố chính quyền trước hết là tǎng cường sức mạnh, hiệu lực và cơ sở pháp lý về cả
đối nội cũng như đối ngoại. Chính quyền mới ra đời trong hoàn cảnh đất nước đã bị chế độ
phong kiến thống trị hàng ngàn nǎm và chế độ thực dân cai trị gần một thế kỷ nên nước ta
không có hiến pháp, nhân dân ta không được hưởng quyền tự do dân chủ. Vấn đề cấp bách
đặt ra là "chúng ta phải có ngay một hiến pháp dân chủ". Đảng chủ trương phải xúc tiến
nhanh việc bầu cử Quốc hội, lập chính phủ chính thức và soạn thảo Hiến pháp. Ngày 6-1-
1946, lần đầu tiên ở nước ta tổ chức tổng tuyển cử bầu Quốc hội của một nhà nước dân chủ.

quyền, ngǎn chặn nguy cơ quan liêu hoá, cán bộ chính quyền trở thành những "quan cách
mạng". Trong Thư gửi Uỷ ban nhân dân các cấp, tháng 10-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
chỉ ra những cǎn bệnh xuất hiện trong bộ máy chính quyền mới như: trái phép, cậy thế, hủ
hoá, tư túi, chia rẽ, kiêu ngạo. Những hành vi đó là trái với bản chất của chính quyền nhân
dân, làm giảm uy tín, làm suy yếu chính quyền. Người vạch rõ: Các cơ quan của Chính phủ
từ toàn quốc cho đến các làng đều là đầy tớ của nhân dân, nghĩa là để gánh việc chung cho
dân.
Trong hoàn cảnh cùng một lúc chính quyền phải đương đầu với nhiều kẻ thù (quân Pháp -
Tưởng) và nhà nước ta lúc bấy giờ chưa có sự giúp đỡ trực tiếp của các nước anh em, bầu bạn
7
trên thế giới, đòi hỏi Đảng và Chính phủ phải thực hiện một chính sách ngoại giao đúng đắn,
khôn khéo thì mới có thể củng cố và giữ vững chính quyền cách mạng non trẻ. Quán triệt tư
tưởng “thêm bạn bớt thù”, Đảng và chính quyền cách mạng đã thực hiện chính sách nhân
nhượng có nguyên tắc, khéo léo “hòa để tiến” đồng thời ttriệt để lợi dụng mâu thuẫn trong
hàng ngũ kẻ thù, phân hoá chúng . Với sách lược mềm dẻo nhưng có nguyên tắc : khi thì hoà
với Tưởng để tập trung đánh thực dân Pháp, khi thì hoà với Pháp để đuổi Tưởng, chẳng
những bảo vệ được sự tồn tại của chính quyền mà còn đưa sự nghiệp cách mạng phát triển
một cách vững chắc.Đó cũng là nét nổi bật về và là một mẫu mực về khả nǎng tự bảo vệ của
chính quyền cách mạng Việt Nam trong hoàn cảnh khó khǎn điển hình.
Nhà nước và nhân dân ta muốn hoà bình nên đã nhân nhượng với thực dân Pháp. Nhưng
dã tâm xâm lược của thực dân Pháp ngày càng trắng trợn. Khi không thể nhân nhượng được
nữa, chính quyền cách mạng đã chủ động phát động nhân dân cả nước đứng lên kháng chiến.
Kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ (từ 12-1946 đến 7-1954) là tiếp
tục sự nghiệp của Cách mạng tháng Tám, là tiếp tục công cuộc bảo vệ chính quyền bằng một
cuộc chiến tranh cách mạng. Cuộc kháng chiến được tiến hành trong điều kiện đã có chính
quyền cách mạng. Chính quyền là công cụ mạnh mẽ và hiệu lực để tổ chức, động viên nhân
dân tham gia kháng chiến.
Tóm lại, trong khoảng thời gian 16 tháng (9-1945 đến 12-1946), trước bao tình thế khó
khăn, hiểm nghèo, trước những thử thách cực kỳ nghiêm trọng tưởng chừng không thể vượt
qua, nhưng nhờ có sự lãnh đạo Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, chính quyền mới vẫn phát

8
Ba là không ngừng chǎm lo xây dựng, củng cố cơ sở kinh tế và cơ sở xã hội là sự bảo
đảm cho chính quyền nhân dân vững mạnh . Cơ sở kinh tế, xã hội quyết định sức mạnh của
nhà nước, ngược lại nhà nước có vai trò quan trọng, thậm chí là nhân tố quyết định làm cho
cơ sở kinh tế và xã hội ngày càng lớn mạnh. Vì vậy, phát triển kinh tế, xã hội là một trong
những chính sách hàng đầu của Nhà nước ta trong mọi giai đoạn cách mạng, đặc biệt là trong
giai đoạn hiện nay. Điều đó không chỉ nhằm củng cố sức mạnh của Nhà nước, mà còn là mục
tiêu của chủ nghĩa xã hội.
Bốn là phải có sách lược mềm dẻo, khôn khéo, lợi dụng mâu thuẩn trong hàng ngũ địch,
cô lập cao độ kẻ thù chính, trung lập những người có thể trung lập, tranh thủ những người có
thể tranh thủ, nhằm làm suy yếu vị trí và thế lực của chúng, làm tăng thêm sức mạnh và tạo
điều kiện đưa cách mạng tiến lên
Năm là sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định bản chất, sức mạnh và sự tồn tại
của chính quyền nhân dân . Giữ vững và nâng cao hiệu quả lãnh đạo của Đảng đối với Nhà
nước không chỉ có ý nghĩa quyết định sự sống còn của chính quyền cách mạng, mà còn là sự
tồn tại của bản thân Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa. Để đảm đương được vai trò lãnh đạo,
Đảng phải vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, phải thường xuyên tự đổi mới, tự
chỉnh đốn, ra sức nâng cao trình độ trí tuệ, nǎng lực lãnh đạo. Giữ vững truyền thống đoàn
kết thống nhất trong Đảng, bảo đảm đầy đủ dân chủ và kỷ luật trong sinh hoạt Đảng.
Tóm lại, xây dựng và bảo vệ chính quyền nhân dân là một bài học lớn của quá trình
đấu tranh cách mạng của nhân dân ta từ khi Đảng lãnh đạo chính quyền. Diễn biến phức tạp
của tình hình quốc tế, nhiệm vụ nặng nề của thời kỳ quá độ ở nước ta đòi hỏi Đảng và nhân
dân ta nâng cao cảnh giác, nỗ lực phấn đấu xây dựng chính quyền nhân dân thật sự trong
sạch, vững mạnh, xứng đáng là công cụ có hiệu lực nhất tổ chức thắng lợi sự nghiệp đổi mới
và xây dựng đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa.
Vấn đề 3 : Nghiên cứu vị trí lãnh đạo của Đảng trong bước chuyển cách mạng Miền
Nam
Từ khi ra đời đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn là nhân tố quyết định sự thắng lợi
của cách mạng Việt Nam. Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là cuộc đụng đầu lịch sử,
một thử thách lớn đối với Đảng và dân tộc Việt Nam. Với đường lối chính trị, quân sự đúng

quân sự mới vừa có tính chất tiến công, vừa có tính chất phòng ngự. Đó là chiến lược "phản
ứng linh hoạt" với ba loại chiến tranh: "chiến tranh thế giới", "chiến tranh cục bộ", và "chiến
tranh đặc biệt". ở miền Nam nước ta từ khi có Phong trào Đồng khởi, đế quốc Mỹ đã thực
hiện "chiến tranh đặc biệt", đây là cuộc chiên tranh không giới tuyến, đánh bằng mọi phương
tiên, vũ khí nhằm ba mục đích: đàn áp phong trào giải phóng dân tộc, thực hiện chính sách
thực dân mới; xây dựng cǎn cứ quân sự, chuẩn bị tiến công phe xã hội chủ nghĩa và ngǎn
chặn CNXH lan xuống Đông Nam á. Mỹ đã ra sức tăng cường lực lượng chiến tranh : quân
Ngụy tăng 16 vạn lên 50 vạn, lực lượng cố vấn tăng từ 200 lên 2500 và viện trợ kinh tế tăng
cấp số nhân và thực hiện chiến lược bình định miền Nam trong vòng 18 tháng : gom 10 triệu
dân vào 16.000 ấp chiến lược.
Từ tháng 1-1961 đến tháng 9/1961 và tháng 12/1963, Bộ Chính trị họp và ra nghị quyết
chỉ rõ hướng phát triển của cách mạng miền Nam là chuyển từ khởi nghĩa từng phần sang
chiến tranh cách mạng, kết hợp khởi nghĩa quần chúng với chiến tranh cách mạng để đưa
cách mạng tiến lên, đẩy mạnh hơn nữa đẩy mạnh đấu tranh vũ trang lên song song với đấu
tranh chính trị, tấn công địch bằng cả hai mặt quân sự và chính trị. Tổ chức đánh địch bằng 3
mũi giáp công : chính trị - quân sự - binh vận, trên 3 vùng chiến lược : thành thị, nông thôn
và miền núi, bằng 3 thứ quân : du kích, chủ lực và dân địa phương. Dưới sự chỉ đạo của
Nghị quyết Bộ Chính trị, cách mạng miền Nam đã phát triển và trưởng thành nhanh chóng.
Một lực lượng lớn được đưa từ miền Bắc vào cùng lực lượng tại chỗ tạo cho cách mạng miền
Nam vững vàng cả về thế và lực. Với thế và lực đó, với phương hướng tiến lên bằng cả lực
lượng chính trị và quân sự, bằng sự kết hợp cả hai hình thức đấu tranh chính trị và quân sự,
nhân dân ta ở miền Nam đã liên tục tiến công địch, làm phá sản kế hoạch Xtalây Taylơ nhằm
bình định miền Nam trong vòng 18 tháng (1961-1962) và kế hoạch Giônxơn - Mắcnamara
cùng mục đích trên thực hiện trong hai nǎm (1964-1965). Những chiến thắng vang dội và có
ý nghĩa bước ngoặt như chiến thắng ấp Bắc (2-1-1963), chiến thắng Bình Giã (12-1964), Ba
Gia, Đồng Xoài (5/1965) chứng tỏ sự trưởng thành toàn diện của lực lượng cách mạng,
khẳng định thế tất thắng của nhân dân ta, mở ra phong trào thi đua diệt nguy, diệt Mỹ khắp
miền Nam. 90 triệu lượt người đấu tranh chính trị, trong đó nổi bậc là đấu tranh của các phật
10
tử ở Huế (8/5/1963), 70 vạn người Sài Gòn xuống đường bắt đầu bằng vụ tự thiêu của Hòa

cuộc chiến tranh cách mạng sang một thời kỳ mới. Quân và dân ta ở miền Nam đã thực hiện
bước chuyển đó bằng cuộc tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt khắp nông thôn và thành thị
miền Nam vào đầu Xuân 1968. Đây là đòn quyết định đánh bại "chiến tranh cục bộ" của đế
quốc Mỹ, buộc Mỹ xuống thang chiến tranh ngừng ném bom miền Bắc, ngồi vào bàn đàm
phán với ta và phá sản chiến tranh cục bộ. Tuy vậy, trong chiến dịch mùa Xuân 1968, do sai
lầm chủ quan nên ta cũng bị tổn thất nặng nề về lực lượng.
4. Đánh bại chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”
Phải xuống thang chiến tranh, nhưng đế quốc Mỹ lại thực hiện chiến lược "Việt Nam hoá
chiến tranh" hòng kéo dài chiến tranh, duy trì chủ nghĩa thực dân mới ở miền Nam. Mỹ tiếp
tục đổ tiền của vào cố xây dựng cho được ngụy quyền và ngụy quân làm xương sống cho kế
hoạch và ở miền Nam một lúc ba loại chiến tranh: giành dân, bóp nghẹt và huỷ diệt tàn khốc
hơn bất kỳ thời kỳ nào trước đó, đồng thời thực hiện chiến lược quét và giữ, ổn định khu vực
đô thị, vì vậy từ 1969-1971 ta bị đánh bật ra khỏi đồng bằng. Chúng tăng cường đánh phá
Trường Sơn, huy động không quân Anh Pháp Đức bỏ bom phá hoại miền Bắc lần 2 (tháng
4/1972); thực hiện Đông Dương hóa chiến tranh đưa 10 vạn quân ngụy đánh Campuchia. Về
ngoại giao, Mỹ thực hiện chiến lược lôi kéo Trung Quốc, hòa hoãn Liên Xô nhằm cắt đứt
viện trợ cho Việt Nam. Vì vậy, sau năm 1972 Liên Xô và Trung Quốc cắt dần viện trợ cho
nước ta.
Tháng 1/1970, Trung ương Đảng ta họp Hội nghị lần thứ 18, Hội nghị đã phân tích sâu sắc
tính chất thâm độc của chiến lược "Việt Nam hoá" và những mâu thuẫn không thể khắc phục
11
được của nó. Trên cơ sở đó, Hội nghị đề ra nhiệm vụ cho cách mạng miền Nam là : trở về
bám đất, bám dân phá kế hoạch bình định, ra sức xây dựng lực lượng quân sự và chính trị,
phát triển chiến tranh nhân dân và tăng cường lực lượng 3 thứ quân, đẩy mạnh tiến công quân
sự, chính trị lấy nông thôn làm hướng chính, lập hội đồng chi viện tiền tuyến của Trung ương
và tăng cường liên minh 3 nước Đông Dương để phá Đông Dương hóa chiến tranh, tăng
cường ngoại giao làm thất bại âm mưu "Việt Nam hoá chiến tranh" của đế quốc Mỹ.
Quân và dân ta đã thực hiện xuất sắc những nhiệm vụ trên và đã giành những thắng lợi
quyết định. Tận dụng sai lầm của Mỹ mở rộng chiến tranh sang Campuchia, tháng 4-1970,
Hội nghị cấp cao Đông Dương đã họp, hình thành mặt trận thống nhất nhân dân Đông Dương

Nghị quyết 21 của Trung ương giúp các đảng bộ miền Nam kịp thời nhận thức và khắc
phục những thiếu sót, lệch lạc từ sau Hiệp định Pari. Nhờ vậy, tình hình chiến trường miền
Nam có những chuyển biến tích cực và nhanh chóng. Đầu nǎm 1974, về cơ bản ta đã thu hồi
được các vùng giải phóng và vùng tranh chấp bị địch lấn chiếm từ sau Hiệp định Pari và giải
phóng thêm được gần nửa triệu dân. Từ giữa nǎm 1974, những điều kiện cho việc giải phóng
hoàn toàn miền Nam đang chín muồi.
Tháng 10 - 1974, Bộ Chính trị họp đề ra kế hoạch giải phóng miền Nam trong 2 nǎm
(1975-1976). Sau đó Bộ Chính trị làm việc với các đồng chí lãnh đạo và chỉ huy các chiến
trường miền Nam. Tháng 1-1975, Bộ Chính trị nhận định: "Chưa bao giờ ta có điều kiện đầy
đủ về quân sự, chính trị như hiện nay, có thời cơ chiến lược to lớn, thuận lợi như hiện nay để
hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, tiến tới hoà bình thống nhất Tổ
quốc".
12
Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương quyết định lấy chiến trường Tây Nguyên và Buôn
Ma Thuột làm chiến trường và điểm mở đầu cho kế hoạch giải phóng hoàn toàn miền Nam.
Bộ Chính trị theo dõi chặt chẽ và chỉ đạo kịp thời các bước tiến quân giành thắng lợi ở các
chiến trường miền Nam.
Chiến dịch giải phóng Tây Nguyên (từ ngày 10 đến 20-3-1975) đã điểm trúng huyệt vào
Buôn Ma Thuột, làm rung chuyển hệ thống bố trí chiến lược của quân ngụy Sài Gòn, ngụy
quyền hốt hoảng cho rút quân chiến lược khỏi Tây Nguyên, làm rối loạn quân ngụy. Ta giải
phóng hoàn toàn Tây Nguyên.
Chiến dịch giải phóng Huế - Đà Nẵng (từ ngày 21 đến 29-3-1975) đã phá tan âm mưu co
cụm về giữ đồng bằng ven biển miền Trung của địch, đẩy địch lún sâu hơn nữa vào thế suy
sụp, tan vỡ không sao cứu vãn nổi, làm xuất hiện thời cơ tổng tiến công và nổi dậy vào sào
huyệt cuối cùng của địch: Chiến dịch giải phóng Sài Gòn và Nam Bộ - Chiến dịch Hồ Chí
Minh (từ ngày 26 đến 30-4-1975). 17 giờ ngày 26-4-1975, nǎm quân đoàn của ta mở cuộc
tổng tiến công vào Sài Gòn - Gia Định, 11 giờ ngày 30-4-1975, quân ta chiếm dinh tổng
thống ngy, buộc ngụy quyền Sài Gòn đầu hàng vô điều kiện. Sự nghiệp giải phóng hoàn toàn
miền Nam của nhân dân ta toàn thắng.
Tóm lại, qua kết quả thắng lợi của cách mạng Miền Nam cho thấy bên cạnh lòng dũng

Với tư tưởng cối lõi ấy, ngay từ ngày thành lập, Đảng ta đã coi Mặt trận dân tộc thống
nhất là vấn đề có ý nghĩa chiến lược và đã phê phán mọi biểu hiện coi nhẹ công tác mặt trận,
hạ thấp vai trò của quần chúng, coi thường nhân tố dân tộc trong cách mạng.
Để hình thành được mặt trận, tập hợp được hết thảy các lực lượng cách mạng và tiến bộ
trong mỗi thời kỳ cách mạng, Đảng ta đã đề ra những chủ trương, chính sách thích hợp nhằm
đoàn kết toàn dân, phấn đấu cho một mục tiêu nhất định xem đó là chương trình hành động
thống nhất của tất cả các giai cấp, các đảng phái, các lực lượng tham gia Mặt trận dân tộc
thống nhất. Thể hiện tính chất quần chúng rộng rãi trong công tác mặt trận và căn cứ vào
từng thời kỳ, Đảng ta đã linh hoạt trong việc chỉ ra cách thức đấu tranh, lựa chọn hình thức
đấu tranh và tên gọi Mặt trận cho phù hợp với hoàn cảnh cụ thể và mục tiêu, nhiệm vụ từng
thời kỳ cách mạng như: Mặt trận dân chủ, Mặt trận Việt Minh, Mặt trận Liên Việt, Mặt trận
Tổ quốc, Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam. v.v Có mặt trận được tổ chức
chặt chẽ theo hệ thống từ trung ương đến cơ sở; có mặt trận chỉ mang tính chất liên hiệp hành
động; nhưng tất cả đều nhằm tập hợp, động viên được hết thảy mọi người tích cực tham gia
vào sự nghiệp chung giải phóng dân tộc và xây dựng, bảo vệ Tổ quốc.
Song song đó, Đảng luôn coi đoàn kết dân tộc luôn là nguồn sức mạnh của cách mạng và
là một trong những nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Chính vì vậy,
Đảng ta đã chủ trương xây dựng được khối đại đoàn kết dân tộc trên cơ sở liên minh công -
nông – trí thức. Đảng đã
Ngay từ khi mới thành lập, trong Cương lĩnh đầu tiên của Đảng đã chỉ rõ giai cấp vô sản
phải tranh thủ được nhiều bạn đồng minh, phải tập hợp các lực lượng cách mạng trong Mặt
trận dân tộc thống nhất. Hình thức Mặt trận dân tộc thống nhất đầu tiên lấy tên là Hội phản
đế đồng minh. Trong chỉ thị lập Mặt trận, Đảng đã nhấn mạnh: Nếu không tổ chức được lực
lượng thật rộng, thật kín thì cách mạng cũng khó thành công.
Sau cao trào cách mạng 1930-1931, đế quốc Pháp khủng bố ác liệt, phong trào cách mạng
tạm thời lắng xuống, Đảng chuyển hướng tổ chức quần chúng đấu tranh và quần chúng vẫn
hướng về Đảng. Khi điều kiện và thời cơ thuận lợi xuất hiện, Đảng đã kịp thời đề ra chủ
trương, chính sách đúng nên đã nhanh chóng tập hợp lực lượng, liên hiệp hành động với các
giai cấp, các tầng lớp yêu nước, các đảng phái dân chủ, hình thành Mặt trận dân chủ Đông
dương trong thời kỳ 1936-1939. Vì vậy, Đảng đã phát động được một cao trào đấu tranh

Nhân dân ta còn đoàn kết với nhân dân các dân tộc Lào và Campuchia anh em, hình thành
Mặt trận đoàn kết ba nước, các lực lượng hoà bình, tiến bộ trên thế giới, kể cả nhân dân tiến
bộ Mỹ, ủng hộ sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta. Trong cuộc kháng chiến Mỹ,
cứu nước đã hình thành trên thực tế ba tầng mặt trận : ở trong nước, trên bán đảo Đông
Dương và trên thế giới, đoàn kết mọi lực lượng có thể đoàn kết, tranh thủ mọi lực lượng có
thể tranh thủ để lên án và cô lập đế quốc Mỹ xâm lược.
Sau đại thắng mùa Xuân nǎm 1975, miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất,
cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Nhưng chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động vẫn còn
âm mưu và hành động phá hoại sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta. Đảng
ta vẫn chủ trương tiếp tục coi trọng vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, nơi tập họp đông
đảo nhân dân cả nước ra sức thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng chủ nghĩa xã hội
và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Nhân dân ta tiếp tục tǎng cường đoàn kết với nhân dân
hai nước Lào và Campuchia, đoàn kết với các nước xã hội chủ nghĩa và các nước, các dân tộc
tiến bộ trên thế giới, đấu tranh cho hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.
Từ những kết quả xây dựng mặt trận dân tộc thống nhất qua các giai đoạn trên, ta
có thể rút ra một số kinh nghiệm như sau :
Một là phải xác định đúng kẻ thù, sắp xếp đúng bạn đồng minh. Muốn có chính sách mặt
trận đúng đắn, trước hết phải xác định đúng kẻ thù cụ thể, phải chỉ rõ kẻ thù cần phải đánh đổ
trong từng giai đoạn chiến lược, trong từng thời kỳ của một giai đoạn. Có như vậy mới tập
trung được toàn bộ lực lượng cách mạng đánh đổ kẻ thù cũng như mới lợi dụng được những
mâu thuẫn trong nội bộ kẻ thù và vận dụng sách lược mềm dẻo để cô lập cao độ kẻ thù nguy
hiểm nhất. Đảng ta đã có nhiều thành công nổi bật trong việc xác định kẻ thù cụ thể và chính
sách mặt trận trong các thời kỳ cách mạng. Đặc biệt là trong thời kỳ 1945-1946, công tác mặt
trận lúc này hết sức phức tạp, nhưng phong phú và sáng tạo. Tình hình lúc bấy giờ thay đổi
15
từng ngày, từng tháng. Cùng một lúc cách mạng nước ta phải đối phó với nhiều kẻ thù, nhưng
Đảng đã đánh giá đúng các loại kẻ thù, xác định đúng kẻ thù chính, để có sách lược và
phương pháp đấu tranh phù hợp : khi thì hòa với Tưởng để chống Pháp, khi thì tạm thời hoà
với Pháp để đuổi Tưởng nhằm phân hoá, cô lập kẻ thù, tránh thế bất lợi phải chống với nhiều
kẻ thù cùng một lúc, để tǎng thêm sức mạnh giành thắng lợi. Trong kháng chiến chống Mỹ,

phạm sai lầm tả khuynh. Trái lại, không đấu tranh để thực hiện những mục tiêu chung đã xác
định là phạm sai lầm hữu khuynh. Trong thời kỳ 1936-1939, Đảng nêu ra mục tiêu đấu tranh
đòi cải thiện dân sinh, dân chủ, chống chủ nghĩa phátxít, chống chiến tranh; trong thời kỳ
1939-1945 là đấu tranh chống Nhật, Pháp, giành độc lập dân tộc; trong thời kỳ chống Mỹ,
cứu nước đã có lúc Đảng nêu ra mục tiêu trước mắt tranh đấu cho miền Nam Việt Nam, hoà
bình, trung lập, v.v .
- Đối với mối quan hệ giữa liên minh công nông và mặt trận, đây là mối quan hệ lớn nhất
trong công tác mặt trận. Chỉ nhấn mạnh liên minh công nông mà không chú ý tranh thủ các
giai cấp, tầng lớp khác là hẹp hòi, tả khuynh. Ngược lại, chỉ chú ý vận động các giai cấp, tầng
lớp khác mà không chú ý củng cố liên minh công nông là phạm sai lầm hữu khuynh. Đảng ta
đã giải quyết đúng đắn mối quan hệ trên bằng việc thường xuyên nắm vững mục tiêu lâu dài
và mục tiêu chủ yếu trong từng thời kỳ cách mạng, phân tích được mâu thuẫn chủ yếu để
vạch rõ kẻ thù trực tiếp, nguy hiểm nhất. Khi cần tập trung lực lượng để giải quyết những
nhiệm vụ cấp bách nhất của cách mạng, Đảng đã giải quyết đúng mức quyền lợi của công
nông và của các giai cấp, các tầng lớp tham gia mặt trận.
16
- Đối với mối quan hệ giữa tranh thủ tầng lớp trên (tiểu tư sản, địa chủ ) đi đôi với phát
động quần chúng cơ bản. Đảng chủ trương “có thể và cần phải” tranh thủ tầng lớp trên, nhất
là những cá nhân có uy tín trong quần chúng, đó là điều cần thiết và có lợi cho việc phát động
quần chúng cơ bản. Nhưng phong trào vững chắc phải là phong trào cách mạng của quần
chúng cơ bản. Chỉ khi nào phong trào đó mạnh mới bảo đảm tranh thủ được tầng lớp trên.
Vận động các dân tộc ít người là một trong những công tác quan trọng bậc nhất của mặt trận,
của chính quyền cách mạng. Để đoàn kết đồng bào theo các tôn giáo, Đảng đưa ra chính sách
tự do tín ngưỡng và giáo dục quần chúng, nâng cao trình độ giác ngộ chính trị của giáo dân,
làm cho họ phân biệt rõ địch - ta, ra sức đẩy mạnh sản xuất, cải thiện đời sống vật chất và
tinh thần. Đối với tầng lớp trên trong tôn giáo, Đảng chủ trương đoàn kết với họ trên tinh
thần yêu nước chân chính và giúp đỡ họ hiểu biết đường lối, chính sách của cách mạng, vận
động họ cùng với đồng bào theo các tôn giáo làm những việc có ích cho Tổ quốc, chống lại
mọi âm mưu chia rẽ dân tộc và phá hoại của kẻ thù. Trong việc xây dựng mặt trận, Đảng giải
quyết đúng đắn mối quan hệ giữa đoàn kết và đấu tranh. Đoàn kết một chiều, thiếu đấu tranh

ta ngày càng rõ ràng hơn thông qua Nghị quyết qua các kỳ đại hội đặc biệt giai đọan từ năm
1976 đến nay. Trong chặng đường này, nhận thức của Đảng có thể khái quát hóa qua hai giai
đọan :
Giai đọan thứ nhất từ năm 1975 đến năm 1985 đây là quá trình Đảng ta tìm tòi thực
nghiệm, tích lũy về lượng để đi đến biến đổi về chất trong tư duy nhận thức của Đảng ta.
Khởi đầu từ ĐH IV năm 1976, Đảng ta đã thiết kế mô hình CNXH ở Việt Nam theo mô
hình bốn mục tiêu của thời kỳ quá độ, đó là: xây dựng chế độ làm chủ của nhân dân lao động,
xây dựng nền sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền văn hóa mới xã hội chủ nghĩa và
xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa. Biện pháp để thực hiện mô hình trên thông qua
việc : Nắm vững chuyên chính vô sản, phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao
động; Tiến hành đồng thời ba cuộc cách mạng : cách mạng quan hệ sản xuất, cách mạng khoa
học kỷ thuật, cách mạng về tư tưởng văn hóa, trong đó cách mạng khoa học kỹ thuật là then
chốt; Đẩy mạnh CNH XHCN là nhiệm vụ trung tâm của cả thời kỳ quá độ lên CNXH, chú
trọng phát triển CN nặng hợp lý trên cơ sở phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ; xây
dựng kinh tế trung ương với kinh tế địa phương trong cơ cấu nền kinh tế thống nhất; kết hợp
kinh tế đối nội, kinh tế đối ngoại dựa trên cơ sở hợp tác cùng có lợi; kết hợp xây dựng và phát
triển kinh tế với bảo vệ an ninh, quốc phòng. Tất cả nội dung đường lối trên nhằm xóa bỏ chế
độ người bóc lột người, xóa bỏ nghèo nàn lạc hậu, xác lập quyền làm chủ của nhân dân lao
động, củng cố an ninh quốc phòng, đẩy mạnh phát triển kinh tế nhằm xây dựng nước Việt
Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, góp phần cùng nhân dân thế giới đấu tranh vì hòa bình
độc lập dân tộc dân chủ và chủ nghĩa xã hội.
Như vậy, ĐH IV đã phát họa những nét lớn về CNXH Việt Nam với mô hình bốn “cái
mới”. Mô hình này về cơ bản giống mô hình XHCN củ Liên Xô và Trung Quốc, được thực
thi trong phe XHCN những năm 1950 – 1970. Trong đó nhấn mạnh tính thuần khiết lý tưởng
của CNXH ngay trong thời kỳ quá độ. Từ nhận thức đó chúng ta đã nôn nóng cải tạo XHCN
các thành phần kinh tế, nôn nóng xóa bỏ kinh tế thị trường, nóng vội phát triển CN nặng
trong những năm 1976 – 1986 đưa đất nước rơi vào tình trạng khủng hoảng nghiêm trọng.
Trước tình hình đó, Đảng ta đã sớm nhận thức và có những chỉ đạo kịp thời. Đó là Nghị
quyết TW 6 khóa IV (8/1979) đánh dấu sự biến đổi sâu sắc về chất trong tư duy của Đảng ta,
đánh dấu bước mở đầu cho quá trình tìm con đường mới đi lên CNXH ở Việt Nam. Lần đầu

nhiệm vụ bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Đây là hai nhiệm vụ có mối quan hệ mật thiết và
đảm bảo cho nhau trong quá trình phát triển và ổn định đất nước.
Về đường lối kinh tế, đại hội V đã cụ thể hóa nội dung công nghiệp hóa của chặng đường
trước mắt của thời kỳ quá độ: Tập trung sức phát triển nông nghiệp, coi nông nghiệp là mặt
trận hàng đầu, đồng thời đẩy mạnh sản xuất hàng tiêu dùng, tiếp tục xây dựng một số ngành
công nghiệp nặng quan trọng; kết hợp nông nghiệp, công nghiệp hàng tiêu dùng, công nghiệp
nặng trong một cơ cấu kinh tế hợp lý nhằm tạo ra lực lượng sản xuất mới, chuẩn bị tiền đề
và lực lượng cho việc đẩy mạnh CNH trong chặng đường tiếp theo.
Trong quá trình chi đạo thực hiện Nghị quyết Đại hội V, Đảng và Nhà nước đã đưa ra
nhiều quyết định rất quan trọng, giải quyết những vấn đề cấp bách về lưu thông, phân phối,
về quản lý kinh tế đặc biệt tổng điều chỉnh giá tiền lương năm 1985.
Như vậy, Đại hội V của Đảng đã dựa trên thực tiển đất nước, đã có bước phát triển trong
việc tìm tòi con đường quá độ lên CNXH, bước đầu đã xây dựng được cơ sở vật chất kỹ thuật
cho CNXH, dđã đánh bại hai cuộc chiến tranh xâm lược ở biên giới Tây Nam và phía bắc.
Tuy nhiên trong tư duy lý luận vẫn còn lạc hậu giáo điều chưa nắm vững và vận dụng đúng
quy luật về sự phù hợp của QHSX với trình độ của LLSX; chính sách lớn ở tầm vĩ mô còn
nhiều khiếm khuyết mà theo nhận định của Đại hội VI là “những sai lầm nghiêm trọng và kéo
dài về chủ trương, chính sách lớn, sai lầm về chỉ đạo chiến lược và tổ chức thực hiện”. Bên
cạnh đó, thiên tai và hai cuộc chiến tranh biến giới phía bắc và Tây Nam làm cho tình hình
kinh tế – xã hội của đất nước rơi vào khủng hỏang trầm trọng, đặt ra vấn đề bức xúc đòi hỏi
phải đổi mới tòan diện để tồn tại.
Tóm lại, có thể nói giai đọan 1975-1985 là một chặn đường đầy thử thách. Bên cạnh
những thắng lợi giành được, chúng ta đã mắc một số khuyết điểm và sai lầm. Cách mạng
nước ta có những nhân tố thuận lợi mới nhưng cũng đang đứng trước nhiều khó khó khăn gay
gắt nhưng cốt lõi là mô hình kinh tế mới về cơ bản đã hình thành.
Đại hội VI (12-1986) của Đảng, đây là đại hội đổi mới toàn diện, Đại hội dựa trên cơ sở
phân tích sâu sắc cụ thể tình hình quốc tế và trong nước và tổng kết quá trình xây dựng chủ
nghĩa xã hội từ 1975 đến 1985 bằng việc nhìn thẳng và nói đúng sự thật. Đảng ta đã rút ra
bốn bài học lớn về lãnh đạo cách mạng xã hội chủ nghĩa :
Một là, trong tòan bộ họat động của mình, Đảng phải quán triệt tư tưởng “lấy dân làm

khai thác mọi tiềm năng của đất nước và sử dụng hiệu quả sự giúp đở của quốc tế, phát triển
lực lượng sản xuất đi đôi với xây dựng và cũng cố quan hệ sản xuất XHCN.
Trong tổ chức thực hiện Nghị quyết đại hội VI của Đảng. Đảng và Nhà nước vừa tập trung
đề ra các chính sách mới, vừa giải quyết những vấn đề kinh tế cấp bách đặc biệt là Nghị
quyết 10 năm 1988 của Bộ chính trị về hoàn thiện cơ chế khoán, trong đó lần đầu tiên hộ gia
đình được xem là đơn vị kinh tế. Nghị quyết Trung ương 6 khóa 6 năm 1989 đã đề ra những
quan điểm và phương hướng chỉ đạo công cuộc đổi mới với những nguyên tắc cơ bản về đổi
mới như sau :
Một là, đổi mới không phải là thay đổi mục tiêu XHCN mà làm cho mục tiêu ấy thực hiện
tốt hơn bằng quan niệm đúng đắn, hình thức, biện pháp và bước đi thích hợp.
Hai là, Đổi mới không phải là xa rời Chủ nghĩa Mác –Lênin mà là vận dụng sáng tạo Chủ
nghĩa Mác – Lênin và khắc phục những quan niệm không đúng về học thuyết đó.
Ba là, Đổi mới tổ chức và phương thức họat động của hệ thống chính trị phải nhằm tăng
cường chứ không phải là làm suy yếu sức mạnh và hiệu lực của chuyên chính vô sản.
Bốn là, Xây dựng nền dân chủ XHCN vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự nghiệp xây
dựng CNXH, song dân chủ phải có lãnh đạo, lãnh đạo phải trên cơ sở dân chủ, dân chủ với
nhân dân nhưng phải chuyên chính với kẻ địch.
Năm là, kết hợp Chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế XHCN, kết hợp sức mạnh dân
tộc với sức mạnh của thời đại.
Qua thực tiễn 5 năm đổi mới kể từ sau đại hội VI, đại hội VII năm 1991 của Đảng đã có
điều kiện xem xét, khẳng định rõ hơn những vấn đề đã được đặt ra từ đại hội VI tiếp tục bổ
sung và hoàn thiện nhận thức. Đại hội VII khẳng định quyết tâm không gì lay chuyển nổi của
Đảng và nhân dân Việt Nam kiên trì định hướng xã hội chủ nghĩa trong quá trình đổi mới.
Đại hội VII đã thông qua “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội”. Cương lĩnh vạch rõ : Việt Nam quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư
20
bản chủ nghĩa; Cuộc cách mạng khoa học - công nghệ cùng xu hướng quốc tế nền kinh tế thế
giới là thời cơ để các nước phát triển có thể phát triển nhanh hơn. Do đó, phải coi trọng sự
nghiệp giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực và phát triển khoa học công nghệ là quốc sách hàng
đầu; trong quá trình xây dựng CNXH phải phát huy ý chí tự lực tự cường, đồng thời mở rộng

lượng tham gia sản xuất và lưu thông. Trong đó, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, thị
trường vừa là căn cứ, vừa là đối tượng của kế họach, kế họach chủ yếu mang tính định hướng
còn thị trường trực tiếp hướng dẫn, lựa chọn lĩnh vực họat động, tổ chức sản xuất và kinh
doanh. Do vậy, cơ chế thị trường phải có sự điều tiết ủa Nhà nước, vì thế cần nâng cao quản
lý vĩ mô của Nhà nước, đồng thời xác lập đầy đủ chế độ tự chủ của các đơn vị sản xuất kinh
doanh.
Trên cơ sở đó, Đại hội VIII đã xác định mục tiêu của cách mạng Việt Nam đến năm
2020:” tiếp tục nắm vững hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng CNXH và bảo vệ tổ quốc, đẩy
mạnh CNH, HĐH đất nước từ nay đến năm 2020, ra sức phấn đấu đưa nước ta cơ bản trở
thành nước công nghiệp”.
Đến Đại hội IX (4-2001) nhận thức con đường đi lên CNXH được Đảng ta bổ sung và
hoàn thiện. Đó là :
Thứ nhất, về mục tiêu lý tưởng của Đảng “Độc lập dân tộc gắn liền CNXH” là nguyên tắc,
là sự chỉ đạo xuyên suốt tòan bộ đường lối cách mạng nước ta.
Thứ hai, về thời kỳ quá độ báo cáo chính trị đã chỉ ra con đường đi lên của nước ta là sự
phát triển quá độ lên CNXH bỏ qua chế độ TBCN tức là bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị
21
của quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng XHCN nhưng tiếp thu kế thừa những thành tựu
của nhân lạoi đặc biệt là khoa học & công nghệ.
Thứ ba, Về mô hình kinh tế tổng quát vẫn xác định “kinh tế thị trường định hướng
XHCN” có bổ sung thêm thành phần kinh tế thứ 6 có vốn đầu tư nước ngoài.
Thứ tư, về đấu tranh gia cấp là động lực phát triển đất nước. Trong đó động lực chủ yếu để
phát triển đất nước là đại đòan kết tòan dân dựa trên cơ sở liên minh giữa giai cấp CN, ND và
trí thức do Đảng lãnh đạo.
Thứ năm, về nền tảng tư tưởng : Đại hội đã làm rõ khái niệm và nội dung cơ bản của tư
tưởng Hồ Chí Minh.
Tóm lại, từ những bài học của cách mạng Việt Nam trong mấy chục năm qua, nhất là
những kinh nghiệm thu được trong những năm đổi mới, chúng ta có cơ sở khoa học để tin
tưởng rằng: Với chủ nghĩa yêu nước, truyền thống quý báu của dân tộc ta, với tinh thần chủ
động sáng tạo, ý chí tự lực tự cường của nhân dân ta, lại có sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng

thổ địa CM để đi tới XH cộng sản”; bằng bạo lực cách mạng đánh đuổi đế quốc Pháp và xóa
bỏ chế độ phong kiến VN, tiến đến cách mạng XHCN bỏ qua phát triển TBCN.
Tuy nhiên, việc giải quyết mối quan hệ giữa nhiệm vụ chống đế quốc và nhiệm vụ chống
phong kiến để có thể phát huy cao độ yếu tố dân tộc là vấn đề phức tạp, Đảng ta đã phải mất
một thời gian tương đối dài mới đạt được sự nhất trí cao. Luận cương chính trị có hạn chế là
chưa vạch ra được mâu thuẫn chủ yếu của xã hội thuộc địa nửa phong kiến; đặt nhiệm vụ
chống phong kiến lên hàng đầu, chống đế quốc là hàng thứ yếu, cho việc phân loại địa chủ là
một sai lầm. Ngược lại với chính cương vắn tắt cho rằng: Mâu thuẩn giữa dân tộc và đế quốc
là mâu thuẩn cơ bản của xã hội nhưng đồng thời là mâu thuẩn chủ yếu của xã hội, thì phải
giải quyết nó trước hết; từ đó Đảng phải đặt nhiệm vụ chống đế quốc - giải phóng dân tộc lên
hàng đầu, với khẩu hiệu "Tổ quốc trên hết" để phát huy cao độ sức mạnh dân tộc nhưng
không coi nhẹ những nhiệm vụ dân chủ; chống phong kiến được rải ra từng bước, chia ra 3
loại địa chủ: tiểu địa chủ, trung địa chủ và đại địa chủ để có sách lược phù hợp với từng đối
tượng, nhằm lôi kéo tranh thủ tập hợp lực lượng CM. Hai nhiệm vụ chiến lược trên phải được
tiến hành khǎng khít với nhau, không được tách rời. Đó là tư tưởng đúng đắn về chỉ đạo chiến
lược, sách lược của Đảng ta.
Đảng lãnh đạo phong trào đấu tranh dân tộc, dân chủ tạo nên cao trào CM 1930-1931, xây
dựng lực lượng ctrị với nòng cốt là công – nông… với đỉnh cao là phong trào Xô viết - Nghệ
tĩnh, đây là cuộc tổng diễn tập đầu tiên của CM VN dưới sự lãnh đạo của Đảng, đem lại cho
Đảng một số kinh nghiệm về xác định mục tiêu đấu tranh, lựa chọn phương pháp CM phù
hợp với giai đoạn CM và về tập hợp lực lượng CM.
Từ giữa năm 1935, Đảng tập trung củng cố và phát triển Đảng trong các xí nghiệp, hầm
mỏ và nông thôn…; đẩy mạnh công tác vận động, thu phục quần chúng và mở rộng tuyên
truyền chống đế quốc, chống chiến tranh.
Suốt giai đoạn thực hiện phong trào vận động dân chủ (1936 - 1939), vận dụng nghị quyết
của quốc tế cộng sản vào đông dương, hai nhiệm vụ chống đế quốc và phong kiến của CM
VN là không hề thay đổi. Tháng 7/1936, CM VN chuyển hướng chỉ đạo chiến lược; đề ra
nghị quyết đấu tranh chống phát xít và bọn phản động nội địa, đòi tự do, dân chủ, cơm áo,
hòa bình. Thành lập Mặt trận nhân dân phản đế rộng rãi bao gồm các giai cấp, các đảng phái,
các đoàn thể chính trị, tôn giáo và dân tộc. Chuyển hướng hình thức tổ chức từ bí mật, bất

đạo tổ chức lực lượng vũ trang CM gồm Hội cứu quốc quân, Đội VN tuyên truyền giải phóng
quân; thành lập các khu căn cứ địa CM; xác định khởi nghĩa từng phần tiến đến tổng khởi
nghĩa, xác định kẽ thù của CM là Phát Xít Nhật và thực dân Pháp. Đồng thời thúc đẩy mạnh
mẽ các hoạt động trên mặt trận văn hóa tư tưởng, xây dựng Đảng…chờ đợi thời cơ tổng khởi
nghĩa giành chính quyền.
Đêm 9-3-1945, Nhật đảo chính Pháp ở Đông Dương; cũng đêm đó BTV TW Đảng họp tại
Đình Bảng (Bắc Ninh) quyết định và Chỉ thị “Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng
ta”; chỉ rõ phát xít Nhật giờ đây là kẻ thù chính của nhân dân Đông Dương và nêu các khẩu
hiệu “Đánh đuổi phát xít Nhật”, “Thành lập chính quyền CM của nhân dân” để chống lại
chính phủ bù nhìn tay sai của Nhật, phát động cao trào kháng Nhật, làm tiền đề cho cuộc tổng
khởi nghĩa.
Giữa tháng 8-1945, tình thế trực tiếp CM đã xuất hiện, khi chính phủ Nhật đầu hàng Liên
Xô và quân đồng minh vô điều kiện, quân đội Nhật ở Đông Dương bị tê liệt hoàn toàn. Cơ
hội ngàn năm cho dân tộc ta vùng lên tổng khởi nghĩa giành chính quyền đã tới. Dưới sự lãnh
đạo của Đảng, nhân dân ta tiến hành cuộc cách mạng tháng Tám thành công. Và ngày
2/9/1945 tại Quảng Trường Ba Đình Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã đọc bảng Tuyên ngôn độc
lập, khai sinh nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa- mở đầu một kỷ nguyên mới - kỷ nguyên
độc lập tự do, dân chủ nhân dân, tiến lên CNXH cho dân tộc VN.
Thắng lợi của cuộc tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 là kết quả của quá trình đấu
tranh lâu dài, gian khổ của nhân dân ta; là bước nhảy vọt vĩ đại đánh dấu sự biến đổi cực kỳ
to lớn trong lịch sử tiến hóa của dân tộc Việt Nam, từng cống hiến to lớn về lý luận và thực
tiễn đối với CM thế giới, đặt biệt là CM giải phóng dân tộc. Nói lên sự lãnh đạo đúng đắn của
Đảng và tinh thần quật khởi mạnh mẽ của toàn dân.
Nhưng với dã tâm đế quốc, thực dân pháp đã không từ mọi thủ đoạn, đã quay lại tái xâm
lược nước ta một lần nữa. Nhưng với bản lĩnh chính trị của Đảng cầm quyền đã trãi qua thử
thách trong thực tiễn đấu tranh trên mọi lĩnh vực để giải phóng dân tộc, một lần nữa Đảng ta
lãnh đạo nhân dân đi vào đấu tranh ở giai đoạn mới với hình thức, tính chất và quy mô ác liệt
hơn.
Chủ tịch HCM ra “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến”. Đảng ta khẳng định đường lối
kháng chiến chống thực dân Pháp của ta là: toàn dân, toàn diện, lâu dài và dựa vào sức mình

Từ những thành công cũng như sai lầm nghiêm trọng dù là tạm thời, Đảng đã rút ra bài
học quan trọng về mối quan hệ giữa chiến lược và sự chỉ đạo chiến lược. Đó là: "nắm vững
và giương cao ngọn cờ dân tộc và dân chủ với hai khẩu hiệu chiến lược "dân tộc độc lập" và
"người cày có ruộng", Đảng ta đã lôi cuốn được đông đảo nông dân đi theo giai cấp công
nhân, động viên được các tầng lớp nhân dân khác cùng với công, nông bước lên trận tuyến
cách mạng chống đế quốc và phong kiến. Trong quá trình cách mạng, những nhiệm vụ chiến
lược đó đã được cụ thể hoá bằng những mục tiêu thích hợp với từng thời kỳ, dựa trên sự phân
tích những mối quan hệ giai cấp cụ thể và khả nǎng phân hoá hàng ngũ kẻ thù đế quốc và
phong kiến, nhằm tập trung ngọn lửa cách mạng vào kẻ thù nguy hại nhất trong từng lúc một.
Song, dù ở bất cứ thời kỳ nào, những mục tiêu và nhiệm vụ chính trị cụ thể do Đảng đề ra, về
cơ bản đều bao hàm cả hai nội dung dân tộc và dân chủ, về cơ bản đều gắn liền hai nhiệm vụ
chống đế quốc và chống phong kiến". Như vậy về mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ chiến lược,
Đảng đã nhận thức đầy đủ hơn, diễn đạt rõ ràng hơn, có tính lý luận sâu sắc và bảo đảm cho
Đảng tránh mắc sai lầm tả hữu khuynh trong việc lãnh đạo hoàn thành cách mạng dân tộc dân
chủ ở miền Nam trong thời kỳ chống đế quốc Mỹ.
Dưới sự lãnh đạo sáng suốt, đúng đắn của Đảng, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp
xâm lược và can thiệp của Mỹ đã kết thúc thắng lợi, đã đi vài lịch sử dân tộc như một chiến
công hiển hách. Với thắng lợi của kháng chiến chống Pháp, nhiệm vụ của cuộc cách mạng
dân tộc, dân chủ mà Đảng ta đã vạch ra trong cương lĩnh chính trị đầu tiên đã căn bản hoàn
thành trên một nửa nước, mở đường cho miền Bắc bước lên thời kỳ quá độ lên CNXH, xây
dựng hậu phương vững mạnh để nhân dân tiếp tục đấu tranh hoàn thành CM dân tộc, đưa chủ
trương cả nước, giải phóng miền nam, thực hiện thống nhất đất nước đi lên xây dựng CNXH,
đem lại cuộc sống tự do, ấm no, hạnh phúc cho người dân
6-6
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status