BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG TP.HCM
KHOA MÔI TRƯỜNG
BÀI THUYẾT TRÌNH
Đề tài:
HIỆN TRẠNG
CHẤT THẢI RẮN Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
MÔN: QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN VÀ CHẤT THẢI NGUY
HẠI
LỜI CẢM ƠN
~~¤~~
Trước hết em xin chân thành gửi lời cảm ơn đến quý thầy, cô hiện đang công
tác và giảng dạy tại khoa Môi Trường-Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường
Thành phố Hồ Chí Minh đã tận tâm dạy bảo và truyền đạt những kiến thức quý báu
cho em trong suốt quá trình học tập.
Bên cạnh đó, em muốn chuyển lời cảm ơn chân thành đến thầy, cơ v bạn bè đã
ch ý lắng nghe!
Một lần nữa, em xin chân thành cảm ơn!
Mục lục
CHƯƠNG 1 : MỞ ĐẦU
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ : …………………………………………………………… 1
1.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU: 2
1.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU : 3
CHƯƠNG 2 : TỔNG QUAN VỀ CHẤT THẢI RẮN VÀ
Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG DO CHẤT THẢI RẮN
2.1KHÁI NIỆM CHẤT THẢI RẮN: 4
2.1.1 Định nghĩa về chất thải rắn : 4
2.1.2 Các nguồn phát sinh chất thải rắn : 4
2.1.3 Phân loại chất thải rắn : 6
2.1.4 Thành phần chất thải rắn : 11
12 khu công nghiệp , 3 khu chế xuất và 1 khu công nghệ cao , hàng trăm bệnh viện ,
trung tâm chuyên khoa , trung tâm y tế hàng ngàn phòng khám tư nhân … đang đổ ra
mỗi ngày khoảng 5.500 – 5.700 tấn chất thải rắn sinh hoạt (CTRSH) , 1.100 – 1300 tấn
chất thải rắn xây dựng (xà bần) , khoảng hơn 1000 tấn (ước tính) chất thải rắn công
nghiệp , trong đó cókhoảng 200 tấn chất thải nguy hại , 7-9 tấn chất thải rắn y tế
Để quản lý khối lượng lớn chất thải rắn nói trên với mức tăng 10-15% năm , TP
HCM đã hình thành (có tổ chức và tự phát) hệ thống quản lý chất thải rắn đô thị với sự
tham gia của gần 30 công ty nhà nước , 3-5 công ty trách nhiệm hữu hạn , 01 hợp tác
xã hàng trăm cơ sở tái sinh tái chế tư nhân hàng ngàn tổ dân lập và 30.000 người
(gồm hơn 6.000 người hoạt động trong thu gom , vận chuyển , chôn lấp và hơn 20.000
người hoạt động trong hệ thống phân loại , thu gom và mua bán trao đổi phế liệu).
Tuy nhiên cho đến nay , mặc dù đã hoàn thành và hoạt động hàng chục năm ,
mỗi năm tiêu tốn 600-700 tỉ tiền vận hành và hàng trăm tỉ tiền đầu tư trang thiết bị ,
xây dựng bãi chôn lấp và cơ sở hạ tầng khác , công tác quản lý chất thải rắn đô thị của
TP HCM vẫn phải đối mặt với rất nhiều vấn đề và vẫn phải giải quyết các vấn đề theo
kiểu “tình thế” đó là :
Khó khăn trong việc quản lý hệ thống thu gom rác dân lập .
Chưa thực hiện được việc thu phí quản lý chất thải rắn .
Chưa thực hiện được chương trình phân loại chất thải rắn tại nguồn
Chưa quy hoạch và thiếu nghiêm trọng hệ thống điểm hẹn , bô / trạm
trung chuyển .
Chưa quy hoạch được vị trí xây dựng bãi chôn lấp .
Ô nhiễm nặng nề tại các bãi chôn lấp do nước rò rỉ và khí từ bãi chôn
lấp .
Hệ thống quản lý của các cơ quan nhà nước còn yếu về cả nhân lực và
trang thiết bị .
Các công ty quản lý chất thải rắn còn thiếu đội ngũ cán bộ kỹ thuật , quản
lý giỏi và công nhân lành nghề .
Chi phí cho công tác quản lý chất thải rắn tăng nhanh .
Đứng trước tình thế đó , đề tài “Nghiên cứu hiện trạng CTRSH Ở TPHCM ” được
phận của chất thải rắn, được hiểu là các chất thải rắn phát sinh từ các hoạt động sinh
hoạt thường ngày của con người.
Các nguồn phát sinh chất thải rắn
Nguồn gốc phát sinh, thành phần và tốc độ phát sinh của chất thải rắn là các cơ
sở quan trọng để thiết kế , lựa chọn công nghệ xử lý và đề xuất các chương trình quản
lý chất thải rắn.
Các nguồn phát sinh chất thải rắn độ thị gồm:
Sinh hoạt của cộng đồng
Trường học, nhà ở, cơ quan
Sản xuất công nghiệp
Sản xuất nông nghiệp
Nhà hàng, khách sạn
Tại các trạm xử lý
Từ các trung tâm thương mại, công trình công cộng
Chất thải đô thị được xem như là chất thải cộng đồng ngoại trừ các chất thải
trong quá trình chế biến tại các khu công nghiệp và chất thải công nghiệp. Các loại chất
thải sinh ra từ các nguồn này được trình bày ở Bảng 2.1.
Chất thải rắn phát sinh từ nhiều nguồn khác nhau căn cứ vào đặc điểm của chất
thải rắn có thể phân chia thành 3 nhóm lớn nhất là : chất thải đô thị, công nghiệp và
nguy hại. Nguồn thải của rác đô thị rất khó quản lý tại các nơi đất trống bởi vì tại các vị
trí này sự phát sinh các nguồn chất thải là một quá trình phát tán.
Bảng 2.1 Các nguồn phát sinh chất thải rắn đô thị
Nguồn Các hoạt động và vị trí phát
sinh chất thải
Loại chất thải rắn
Nhà ở Những nơi ở riêng của một gia
đỉnh hay nhiều gia đỉnh . những
căn hộ thấp , vứa và cao tầng…
Chất thải thực phẩm, giấy, bìa
cứng, hàng dệt , đồ da, chất
những khu vực tiêu khiển khác.
Chất thải đặc biệt, rác, rác
đường phố, vật xén ra từ cây,
chấ thải từ các công viên, bãi
tắm vá các khư vực tiêu khiển.
Trạm xử lý,
lò thiêu đốt
Quá trình xử lý nước, nước thải
và chất thải công nghiệp Các
chất thải được xử lý.
Khối lượng lớn buồn dư.
2.1.1 Phân loại chất thải rắn
Việc phân loại chất thải rắn sẽ giúp xác định các loại khác nhau của chất thải
rắn được sinh ra. Khi thực hiện việc phân loại chất thải rắn sẽ giúp chúng ta gia tăng
khả năng tái chế và tái sử dụng lại các vật liệu trong chất thải, đem lại hiệu quả kinh tế
và bảo vệ môi trưởng.
Chất thải rắn đa dạng vì vậy có nhiều cách phân loại khác nhau như:
2.1.4 Phân loại theo tính chất
Phân loại chất thải rắn theo dạng này người ta chia làm: các chất cháy được, các
chất không cháy được, các chất hỗn hợp . Phân loại theo tính chất được thể hiện ở
Bảng 2.2
Bảng 2.2: Phân loại theo tính chất
Loại rác thải Nguồn gốc
1. Các chất cháy được
Giấy
Hàng dệt
Rác thải
Cỏ, gỗcủi, rơm
Chất dẻo
Da và cao su
sử dụng, xương động vật, tre, gỗ, lông gà lông vịt, vải, giấy, rơm rạ, xác động vật, vỏ
rau quả v.v… Theo phương diện khoa học, có thể phân biệt các loại chất thải rắn sau :
Chất thải thực phẩm : bao gồm các thức ăn thừa, rau, quả … loại chất thải này
mang bản chất dễ bị phân huỷ sinh học, quá trình phân huỷ tạo ra các mùi khó chịu,
đặc biệt, đặc biệt trong điều kiện thời tiết nóng, ẩm. Ngoài các loại thức ăn dư thừa từ
gia đình còn có thức ăn dư thừa từ các bếp ăn tập thể, các nhà hàng, khách sạn, ký túc
xá, chợ …
Chất thải trực tiếp của động vật chủ yếu là phân, bao gồm phân người và phân
động vật khác.
Chất thải lỏng chủ yếu là bùn ga cống rãnh, là các chất thải ra từ các khu vực sinh
hoạt dân cư.
Tro và các chất dư thừa thải bỏ khác bao gồm : các loại vật liệu sau đốt cháy, các
sản phẩm sau khi đun nấu bằng than, củi và các chất thải dễ cháy khác trong gia đình,
trong kho của các công sở, cơ quan, xí nghiệp, các loại xỉ than.
Chất thải rắn công nghiệp : là chất thải phát sinh từ các hoạt động sản xuất
công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp. Các nguồn phát sinh chất thải công nghiệp gồm :
Các phế thải từ vật liệu trong quá trình sản xuất công nghiệp, tro, xỉ, trong các
nhà máy nhiệt điện;
Các phế thải từ nguyên nhiên liệu phục vụ cho sản xuất;
Các phế thải trong quá trình công nghệ;
Bao bì đóng gói sản phẩm.
Chất thải xây dựng : là các phế thải như đất, đá, gạch ngói, bêtông vỡ do các
hoạt động phá dỡ, xây dựng công trình v.v… chất thải xây dựng gồm
Vật liệu xây dựng trong quá trình dỡ bỏ công trình xây dựng;
Đất đá do việc đào móng trong xây dựng;
Các vật liệu như kim loại, chất dẻo …
Chất thải từ các hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật như trạm xử lý nước thiên nhiên,
nước thải sinh hoạt, bùn cặn từ các cống thoát nước thành phố.
Chất thải nông nghiệp : là những chất thải và mẫu thừa thải ra từ các hoạt động
nông nghiệp, thí dụ như trồng trọt, thu hoạch các loại cây trồng, các sản phẩm thải ra từ
trong việc quản lý rác thải.
Bảng 2.3 : Thành phần chất thải rắn đô thị phân theo nguồn gốc phát sinh
Nguồn phát thải % trọng lượng
Dao động Trung bình
Nhà ở và thương mại, trừ các chất thải đặc biệt
và nguy hiểm
50 - 75 62
Chất thải đặc biệt( dầu , lốp xe, thiết bị điện,
bình điện)
3 - 12 5
Chất thải nguy hại 0,1 - 1,0 0,1
Cơ quan 3 – 5 3,4
Xây dựng và phá dỡ 8 – 20 14
Các dịch vụ đô thị
Làm sạch đường phố 2 – 5 3,8
Cây xanh và phong cảnh 2 – 5 3,0
Công viên và các khu vực tiêu khiển 1,5 – 3 2,0
Lưu vực đánh bắt 0,5 – 1,2 0,7
Bùn đặc từ nhà máy xử lý 3 – 8 6,0
Tổng cộng 100
Bảng 2.4: Thành phần chất thải rắn đô thị theo tính chất vật lý
Thành phần % trọng lượng
Khoảng giá trị Trung bình
Chất thải thực phẩm 6 – 25 15
Giấy 25 – 45 40
Bìa cứng 3 – 15 4
Chất dẻo 2 – 8 3
Vải vụn 0 – 4 2
Cao su 0 – 2 0,5
Da vụn 0 – 2 0,5
lượng riêng nói lên khả năng nén, giảm kích thước là thông số quan trọng phục vụ cho
công tác thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải. Qua đó có thể phân bố và tính được
nhu cầu trang thiết bị phục vụ cho công tác thu gom vận chuyển ,khối lượng rác thu
gom và thiết kế quy mô bãi chôn lắp chất thải …
Khối lượng riêng được xác định bởi khối lượng của vật liệu trên một đơn vị thể
tích (kg/m
3
). Dữ liệu về khối lượng riêng thường cần thiết để định mức tổng khối lượng
và thể tích chất thải cần phải quản lý. Khối lượng riêng của các hợp phần trong chất
thải rắn đô thị được trình bày ở Bảng 2.6
Bởi vì khối lượng riêng của chất thải rắn thay đổi một cách rõ ràng theo vị trí
địa lý, mùa trong năm và thời gian lưu trữ , do đó cách tốt nhất là sử dụng các giá trị
trung bình đã được lựa chọn. Khối lượng riêng của chất thải sinh hoạt thay đổi từ 120
đến 590 kg/m
3
.
Khối lượng riêng của rác được xác định bằng phương pháp cân trọng lượng để
xác định tỷ lệ giữa trọng lượng của mẫu với thể tích của nó, có đơn vị là kg/m
3
(hoặc
lb/yd
3
)
Bảng 2.6 : Khối lượng riêng và độ ẩm các thành phần của CTR đô thị
Loại chất thải Khối lượng riêng
(lb/ yd
3
)
Độ ẩm
(% trọng lượng)
trọng lượng ướt vật liệu.
* Phương pháp trọng lượng khô, độ ẩm của mẫu được biểu diễn bằng % của
trọng lượng khô vật liệu.
Phương pháp trọng lượng ướt thường được sử dụng trong lĩnh vực quản lý chất
thải rắn. Độ ẩm theo phương pháp trọng lượng ướt được biểu diễn dưới dạng toán học
như sau:
M =100*[(a-b)/a]
Trong đó: M: độ ẩm %
a: trọng lượng ban đầu của mẫu , kg(g)
b: trọng lượng riêng của mẫu sau khi sấy khô ở 105
0
C , kg(g)
Thành phần hóa học
Các chỉ tiêu hóa học quan trọng của chất thải rắn đô thị gồm chất hữu cơ, chất
tro, hàm lượng cacbon cố định, nhiệt trị.
Chất hữu cơ: Chất hữu cơ được xác định bằng cách lấy mẫu đã làm phân tích
xác định độ ẩm đem đốt ở 950
o
C trong 1 giờ, để nguội trong bình hút ẩm 1 giờ rồi đem
cân để xác định lượng tro còn lại sau khi đốt. Thông thường chất hữu cơ dao động
trong khoảng 40 – 60%, giá trị trung bình là 35%. Chất hữu cơ được tính theo công
thức sau :
Chất hữu cơ (%) = [(c – d)/c]x100
Trong đó : c : Trọng lượng mẫu ban đầu
d : Trọng lượng mẫu chất rắn sau khi đốt ở 950
o
C
Chất tro: là phần còn lại sau khi nung ở 950
0
C, tức là chất hữu cơ dư hay chất
bình
Dao động Trung
bình
Chất thải thực
phẩm
2 – 8 5,0 1,500 -3,000 2,000
Giấy 4 – 8 6,0 5,000-8,000 7,200
Bìa cứng 3 – 6 5,0 6000 -7500 7,000
Nhựa dẻo 6 – 20 10,0 12,000 – 16,000 14,000
Hàng dệt 2 – 4 2,5 6,500 – 8,000 7,50
Cao su 8 – 20 10.0 9,000 - 12,000 10,000
Da 8 – 20 10,0 6,500 – 8,500 7,500
Rác thải vườn 2 – 6 4,5 1,000 – 8,000 2,800
Gỗ 0,6 – 2 1,5 7,500 – 8,500 8,000
Thủy tinh 96 – 99* 98.0 50 – 100 60
Vỏ đồ hộp 96 - 99* 98,0 100 – 500 300
Nhôm 90 - 99* 96,0
Kim loại khác 94 - 99* 98,0 100 – 500 300
Bụi, tro 60 – 80 70,0 1,000 – 5,000 3,000
Rác sinh hoạt 4,000 – 5000 4,500
(Nguồn: George Tchobanoglous, et al , Mc Graw- Hill Inc, 1993)
Chú thích:
+
Sau khi cháy hoàn toàn
*
Dựa kết quả phân tích
2.1.5.3 Thành phần sinh học
Trừ các hợp chất nhựa dẻo, cao su và da, phần chất hữu cơ của hầu hết các chất
thải rắn đô thị có thể được phân loại như sau:
thành phần lignin cao, khả năng phân hủy sinh học thấp đáng kể so với các chất khác.
Trong thực tế, chất hữu cơ có trong chất thải rắn đô thị thường được phân loại dựa vào
khả năng phân hủy nhanh hoặc chậm.
Bảng 2.8: Khả năng phân hủy sinh học của các chất hữu cơ
dựa vào thành phần lignin.
Hợp phần Chất rắn bay hơi
(% tổng chất rắn)
Thành phần lignin
(% chất rắn bay hơi)
Phần phân
hủy sinh hoc
Chất thải thực
phẩm
7 – 15 0,4 0,82
Giấy báo 94,0 21,9 0,22
Giấy văn phòng 96.4 0,4 0,82
Bìa cứng 94,0 12,9 0,47
Chất thải vườn 50 – 90 4,1 0,72
(Nguồn: George Tchobanoglous, et al , Mc Graw- Hill Inc, 1993)
b) Sự phát sinh mùi hôi
Mùi hôi có thể sinh ra khi chất thải được chứa trong khoảng thời gian dài trong
nhà, trạm trung chuyển và ở bãi đỗ. Mùi hôi phát sinh đáng kể ở các thùng chứa bên
trong nhà vào mùa khô có khí hậu nóng ẩm. Sự hình thành mùi hôi là do sự phân hủy
kị khí của các thành phần hữu cơ dễ phân hủy nhanh tìm thấy trong chất thải rắn.
c) Sự sản sinh các côn trùng
Vào thời gian hè ở những vùng khí hậu nóng ẩm. Sự sinh sản của ruồi trong
chất thải rắn là vấn đề đáng quan tâm. Ruồi có thể phát triển nhanh trong khoảng thời
gian không đến sau khi trứng ruồi được kí vào. Chu kỳ phát triển của ruồi từ khi còn
trong trứng cho đến khi trưởng thành được mô tả như sau :
Trứng phát triển : 8 ÷ 12 giờ
sáng và toả nhiệt.
CHC + O
2
→ CO
2
+ H
2
O + NO
2
+ O
2 dư
+ NH
3
+ SO
X
Các thông số cần lưu ý với lò đốt rác :
Lượng oxy cung cấp
Nhiệt độ duy trì trong lò đốt
Thời gian đốt
Mật độ xáo trộn bên trong lò
Vật liệu xây dựng lò đốt để đảm bảo tính cách nhiệt.
Quá trình nhiệt phân : hầu hết các chất hữu cơ có thể phân huỷ qua các phản
ứng bởi nhiệt và ngưng tụ trong các điều kiện không có oxy tạo thành những thành
phần lỏng và khí.
Một số đặc tính cơ bản của quá tình nhiệt phân :
Dòng khí sinh ra có chứa Hidro, CH
4
, Cacbon monoxit, Cacbon dioxit và
nhiều loại khí khác tuỳ thuộc vào bản chất, thành phần, tính chất của CTR đem đi điện
phân.
4
và CO
2
.
Quá trình phân huỷ hiếu khí : dựa trên hoạt động các vi khuẩn hiếu khí với sự có
mặt của oxy, thông thường sau 2 ngày, nhiệt độ phát triển và đạt khoảng 45
o
. Sau 6 – 7
ngày nhiệt độ 70 – 75
o
C. Với điều kiện nhiệt độ này thì đảm bảo điều kiện tối ưu cho vi
sinh vật hoạt động.
2.2 Ô nhiễm môi trường do chất thải rắn
2.2.1 Ô nhiễm đến môi trường nước
Chất thải rắn, đặc biệt là chất hữu cơ trong môi trường nước sẽ bị phân hủy
nhanh chóng. Tại các bãi rác, nước có trong rác sẽ được tách ra kết hợp với các nguồn
nước khác như: nước mưa, nước ngầm, nước mặt sẽ làm tăng khả năng phân hủy sinh
học trong rác cũng như quá trình vận chuyển các chất gây ô nhiễm ra môi trường xung
quanh.
Các chất ô nhiễm trong nước rò rỉ gồm các chất được hình thành trong quá trình
phân hủy sinh học, hóc học… Nhìn chung, mức độ ô nhiễm trong nước rò rỉ rất cao
(COD: từ 3.000 – 45.000 mg/l; N-NH
3
: từ 10 – 800 mg/l; BOD
5
: từ 2.000 – 30.000
mg/l; TOC (Cacbon hữu cơ tổng cộng): từ 1.500 – 20.000 mg/l; Phosphours tổng cộng:
từ 1- 70 mg/l … và lượng lớn các vi sinh vật ).
Đối với các bãi rác thông thường (đáy bãi rác không có lớp chống thấm, sụt lún
hoặc lớp chống thấm bị thủng …) các chất ô nhiễm sẽ thấm sâu vào nước ngầm gây ô
sinh hoạt và chất thải công nghiệp thành phố, mà thành phần hữu cơ, vô cơ, kim loãi
vừa tạo nên một hỗn hợp vừa tạo thành các phức chất hoặc đơn chất; vừa có mùn vừa
có bùn,cát; vừa có hơi khí vừa có nước; vừa có vi sinh vật, vừa có động vật và thực vật
chúng sẽ gây ảnh hưởng xấu đến môi trường đất.
Hàm lượng kim loại nặng như Al, Fe, Zn, Cu,Cr… trong bùn cống rãnh theo
nước thấm vào đất. Nó có thể tích lũy cao trong đất và là một trong những nguyên
nhân gây ô nhiễm nặng môi trường đất và nguy hiểm cho tất cả vi sinh vật trong môi
trường.
2.2.3 Ô nhiễm đến môi trường không khí
Các chất thải rắn thường có một phần có thể bay hơi và mang theo mùi làm ô
nhiễm không khí. Cũng có những chất thải có khả năng thăng hoa phát tán vào không
khí gây ô nhiễm trực tiếp, cũng có loại rác thải dễ phân hủy (thực phẩm, trái cây
hỏng…), trong điều kiện nhiệt độ và độ ẩm thích hợp sẽ được các vi sinh vật phân hủy
tạo mùi hôi và nhiều loại khí ô nhiễm có tác động xấu đến môi trường đô thị, sức khỏe
và khả năng hoạt động của con người. Kết quả quá trình là gây ô nhiễm không khí.
Thành phần khí thải chủ yếu được tìm thấy ở các bãi chôn lắp rác được thể hiện
ở Bảng 2.9
Bảng 2.9 : Thành phần một số chất khí cơ bản trong khí thải bãi rác
Thành phần khí % thể tích
CH
4
CO
2
N
2
45 – 50
40 – 60
2 – 5
O
2
hại từ y tế, công nghiệp như: kim tiêm, ống chích, mầm bệnh…
Tại các bãi rác lộ thiên , nếu không được quản lý tốt sẽ gây ra nhiều vấn đề
nghiêm trọng cho bãi rác và cho cộng đồng dân cư trong khu vực: gây ô nhiễm không
khí, các nguồn nước, ô nhiễm đất và là nơi nuôi dưỡng các vật chủ trung gian truyền
bệnh cho người.
Rác thải nếu không được thu gom tốt cũng là một trong những yêu tố gây cản
trở dòng chảy, làm giảm khả năng thoát nước của các sông rạch và hệ thống thoát
nước.
2.3 Những nguyên tắc kỹ thuật trong quản lý chất thải rắn.
2.3.1 Quản lý và phân loại chất thải rắn tại nguồn
Quản lý và phân loại CTR tại nguồn bao gồm hoạt động nhặt, tập trung và phân
loại chất thải rắn để lưu trữ, chế biến chất rắn trước khi được thu gom. Trong quản lý
và phân loại chất thải rắn tại nguồn các loại nhà ở và công trình phân loại dựa vào số
tầng. Ba loại thường được sử dụng nhất là:
* Nhà thấp tầng: dưới 4 tầng
* Nhà trung tầng: từ 4 đến 7 tầng
* Nhà cao tầng: trên 7 tầng
Những người chịu trách nhiệm và các thiết bị hỗ trợ được sử dụng cho việc
quản lý và phân loại chất thải rắn tại nguồn được trình bày ở bảng 2.10
Bảng 2.10: Nguồn nhân lực và thiết bị hỗ trợ trong việc quản lý và phân loại chất
thải rắn tại nguồn
Nguồn Người chịu trách nhiệm Thiết bị hỗ trợ
Khu dân cư
Thấp tầng Dân thường trú, người thuê nhà Các vật chứa gia đình, thùng
chứa lơn, xe đẩy rác nhỏ.
Trung tầng Người thuê nhà, nhân viên phục
vụ, người coi nhà, nững người
thu gom theo hợp đồng.
Các máng đổ rác trọng lực,
các băng chuyền chạy bằng
trung chuyển hay chôn lắp.
Dịch vụ thu gom rác thải thường có thể chia ra thành các dịch vụ” sơ cấp” và “
thứ cấp”. Sự phân biệt này phản ánh yếu tố là ở nhiều khu vực, việc thu gom phải đi
qua một quá trình hai giai đoạn: thu gom rác từ các nhà ờ và thu gom rác tập trung về
chỗ chứa trung gian rồi từ đó lại chuyển tiếp về trạm trung chuyển hay bãi chôn lắp.
Giai đoạn thu gom sơ cấp ảnh hưởng trực tiếp đối với người dân cũng như đoối với mỹ
quan đô thị và hiệu quả của các công đoạn sau đó.
Thu gom sơ cấp( thu gom ban đầu) là cách mà theo đó rác thải được thu gom từ
nguồn phát sinh ra nó( nhà ở hay những cơ sở thương mại) và chở đến các bãi chứa
chung, các địa điểm hoặc bãi chuyển tiếp. Thường thì các hệ thống thu gom sơ cấp ở
các nước đang phát triển bao gồm những xe chở rác nhỏ, xe hai bánh kéo bằng tay để
thu gom rác và chở đến các bãi chứa chung hay những điểm chuyển tiếp.
Thu gom thứ cấp bao hàm không chỉ việc gom nhặt các chất thải rắn từ những
nguồn khác nhau mà còn cả việc chuyên chở các chất thải đó tới địa điểm tiêu hủy.
Việc dỡ đổ các xe rác cũng được coi là một phần của hoạt động thu gom rác thứ cấp.
Như vậy thu gom thứ cấp là cách thu gom các loại chất thải rắn từ từ các điểm thu gom
chung ( điểm cẩu rác) trước khi vận chuyển chúng theo từng phần hoặc cả tuyến thu
gom đến một trạm chung chuyển, một cơ sở xử lý hay bãi chôn lắp bằng các loại
phương tiện chuyên dụng có động cơ.
Do vậy, thu gom sơ cấp sẽ được cần đến trong mọi hệ thống quản lý thu gom và
vận chuyển, còn thu gom thứ cấp lại phụ thuộc vào các loại xe cộ thu gom được lựa
chọn hay có thể có được và vào hệ thống và các phương tiện vận chuyển tại chỗ.
Khi thu gom rác thải từ các nhà ở hay công sở thường ít chi phí hơn so với việc
quét dọn chúng từ đường phố đồng thời cần phải có những điểm chứa ở những khoảng
cách thuận tiện cho những người có rác và chúng cần được quy hoạch, thiết kế sao cho
rác thải được đưa vào thùng chứa đựng đúng vị trí tạo điều kiện thuận lợi cho thu gom
thứ cấp.
2.3.2.1 Quy hoạch thu gom chất thải rắn.
Quy hoạch thu gom chát thải rắn là việc đánh giá các cách sử dụng nguồn nhân
lực và thiết bị để tìm ra một cách sắp sếp hiệu quả nhất. Các yếu tố cần xem xét khi