Ô nhiễm môi trường do quy hoạch đô thị tại thành phố Hà Nội hiện nay - Pdf 25

ĐỀ TÀI
Ô NHIỄMMÔI TRƯỜNG DO QUY HOẠCH ĐÔ THỊ TẠI THÀNH PHỐHÀ
NỘI HIỆN NAY
PHẦN MỞ ĐẦU
Môi trường đã và đang là vấn đề được nhiều người quan tâm, bảo vệ môi trường
không chr là ý thức và trách nhiệm của riêng ai mà nó là của toàn xã hội. Xong bên
cạnh đó đã có không ít những thờ ơ trước vấn đề bảo vệ môi trường bất chấp tất cả để
làm những việc có lợi cho mình kể cả việc huỷ hoạ đến môi trường - điều đó đã gây ra
những hậu quả vô cùng nghiêm trọng. Nói đến môi trường thì thực sự là một vấn đề
lớn cần quan tâm, vì vậy với tầm hiểu biết còn rất hạn chế của một sinh viên còn đang
học tập và nghiên cứu trong trường em chỉ xin được đề cập tới một phần nhỏ của vấn
đề môi trường của thành phố hà nội mới
Mặc dù đã có rất nhiều cố gắng xong vì mới làm quen với hình thức viết tiểu
luận cũng như sự hiểu biết còn rất hạn chế của một sinh viên còn đang học tập và
nghiên cứu trong nhà trường nên bài viết của em không thể tánh được nhiều thiếu
xót.Em rất mong sự giúp đỡ, góp ý và dạy bảo của các thầy cô cũng như những người
quan tâm tới vấn đề này.
Thực trạng ô nhiễm môi trường đô thị và công nghiệp ở HÀ NỘI hiện nay:
Nước ta thực hiện công nghiệp hoá - hiện đại hoá và đương nhiên là kéo theo đô
thị hoá. Theo kinh nghiêm của nhiều nước, tình hình ô nhiễm môi trường cũng gia
tăng nhanh chóng. Nếu tốc độ tăng trưởng GDP trong vòng 10 năm tới tăng bình quân
khoảng 7%/năm, trong đó GDP công nghiệp khoảng 8-9%/năm, mức đô thị hoá từ
23% năm lên 33% năm 2000, thì đến năm 2010 lượng ô nhiễm do công nghiệp có thể
tăng lên gấp 2,4 lần so với bây giờ, lượng ô nhiễm do nông nghiệp và sinh hoạt cũng
có thể gấp đôi mức hiện nay.
Trong quá trình phát triển, nhất là trong thập kỷ vừa qua, các đô thị lớn như Hà
Nội, thành phố Hồ Chí Minh, đã gặp phải nhiều vấn đề môi trường ngày càng nghiêm
trọng, do các hoạt động sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận tải và sinh
hoạt gây ra. Tại thành phố Hồ Chí Minh có 25 khu công nghiệp tập trung hoạt động
với tổng số 611 nhà máy trên diện tích 2298 ha đất. Theo kết quả tính toán, hoạt động
của các khu công nghiệp này cùng với 195 cơ sở trọng điểm bên ngoài khu công

nghệ, nhân lực, giải pháp xã hội, các cộng cụ kinh tế và các biện pháp quan trắc theo dõi,
kèm theo một số dự án hoặc nghiên cúu sâu đối với các trường hợp cụ thể.
Tại Hà Nội, đang thực hiện gói thầu CP7A nhằm cải thiện hệ thống thoát nước ở
Hà Nội trên hệ thống sông Tô Lịch, sông Lừ, sông Sét, tức lần thực hiện các biện pháp
xử lý nước thải hữu hiệu như đã đề ra trong quy hoạch tổng thể thoát nước của Hà Nội
thì đến năm 2010 hầu hết các con sông ở Hà Nội có chỉ tiêu BOD dưới 25 mg/lít; còn
nếu không có biện pháp cải thiện môi trường rõ rệt thì chỉ số BOD sẽ tăng gấp đôi so
2
với thời kỳ 1992-1994 và khoảng 1,8 lần so với thời kỳ 1997-1998, trong đó sông Lừ
sẽ bị ô nhiễm nặng nhất với chỉ số BOD là 130 mg/l, khá nhất là sông Sét thì cũng là
54 mg/l; trong đó tiêu chuẩn cho phép đối với nước loại A không quá 4 mg/l, với nước
loại B không quá 25 mg/l.
Hà Nội cũng đang tiến hành dự án cải tạo môi trường đối với khu công nghiệp
Minh Khai – Vĩnh Tuy, di dời các nhà máy ra khỏi vùng đô thị đông dân, áp dụng
nguyên tắc “Người gây ô nhiễm phải trả tiền”, “Trường hợp tính lệ phí nước thải của
một xí nghiệp công nghiệp”. Thành phố Hồ Chí Minh lập dự án xây dựng các nhà máy
xử lý chất thải công nghiệp v.v
Các giải pháp sẽ chỉ có tác dụng giảm bớt ô nhiễm môi trường nếu mọi người
cùng coi trọng và bảo vệ môi trường bằng y thức và hành động cụ thể của mỗi người.
(Khoa học và đời sống, số 20, ngày 31/3/2003)
+Ô nhiễm không khí do lượng xe cộ tăng nhanh nhiều khu công nghiệp được xây
dựng.
+Đô thị hóa khiến môi trường Hà Nội ngày càng ô nhiễm
Theo các chuyên gia về môi trường, thủ đô Hà Nội ngày càng bị đe dọa nghiêm
trọng bởi ô nhiễm mà nguyên nhân chính là vì quá trình đô thị hóa chưa được quản lý
và kiểm soát một cách chặt chẽ.
Môi trường của Hà Nội ngày càng xuống cấp.
Phát biểu tại Hội thảo khoa học “Nghìn năm môi trường Hoa Lư – Thăng Long –
Hà Nội” diễn ra ngày 08/09 vừa qua, GS. TS Phạm Ngọc Đăng, Chủ tịch Hội Môi
trường Xây dựng Việt Nam cho rằng, môi trường Hà Nội đang diễn biến theo chiều

hiện triệu chứng rõ tới sức khoẻ như kích thích các hệ cơ quan mắt, mũi, họng, da và
thần kinh thực vật."
4
Bụi mù mịt ở đường Láng - Hòa Lạc, nơi các xe chở vật liệu xây dựng qua lại rất nhiều
Hà Nội đang là đại công trường lớn, các hoạt động xây dựng, cải tạo, đô thị hóa
diễn ra mạnh mẽ. Kéo theo đó là lượng phương tiện chuyển chở vật liệu xây dựng, đất
đá, cát, xi măng ngày càng gia tăng. Thời gian thi công mỗi dự án, công trình thường
kéo dài, hơn nữa ý thức của nhà đầu tư trong việc giữ gìn bảo vệ môi trường chưa cao
Trên các tuyến phố như Phạm Hùng, Láng-Hòa Lạc, Nguyễn Trãi các phương
tiện vận chuyển chất thải, phế thải, vật liệu xây dựng không hề được che chắn đúng
quy định, các xe chở cát, sỏi phế liệu không được rửa sạch nước khi rời khỏi bãi tập
kết làm rơi rớt ra đường. Đây chính là nguồn bụi chủ yếu gây tình trạng ô nhiễm
không khí như hiện nay.
Theo kết quả quan trắc 6 tháng đầu năm 2009 hàm lượng bụi lơ lửng trong không
khí tại một số điểm trên địa bàn Hà Nội đáng giật mình. Có nơi hàm lượng bụi lơ lửng
trong không khí vượt quá 11 lần tiêu chuẩn cho phép(TCVN 5937 – 2005) như đường
Nguyễn Trãi, Phạm Hùng, Nguyễn Văn Linh. Và phần lớn các địa điểm khác vượt quá
5 lần tiêu chuẩn cho phép.
Bụi trở thành nỗi lo thường trực của người dân Hà Nội mỗi khi ra đường. Lượng
bụi ngày càng gia tăng trong không khí là nguyên nhân của các bệnh đường hô hấp và
gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.
5
Khói xe là một trong những nguyên nhân chính gây ra ô nhiễm môi trường không khí.
Những năm gần đây, số lượng phương tiện giao thông cơ giới ở Hà Nội tăng lên
chóng mặt. Trung bình lượng tăng ô tô hàng năm là 10%, xe máy xấp xỉ 15%. Sự gia
tăng về số lượng các phương tiện tham gia giao thông là nguyên nhân làm gia tăng
lượng khí thải vào không khí, gây ra tình trạng ô nhiễm khí thải giao thông càng trở
nên trầm trọng.
Theo kết quả quan trắc năm 2008 lượng khí CO2, SO2, C6H6, CO và các khí
thải độc hại khác vượt nhiều lần tiêu chuẩn cho phép và ngày càng gia tăng, có tác

nhau. Tại các tuyến giao thông, ô nhiễm bụi lơ lửng (TSP) là chủ yếu với nồng độ đo
được cao hơn tiêu chuẩn cho phép từ 3 - 4 lần [6]. Những khu vực đang thi công các
công trình xây dựng, giao thông, đô thị mới,… nồng độ TSP đo được thường cao hơn
7 - 10 lần so với TCCP [7]. Nồng độ các khí SO2, NO2 trung bình hàng năm tăng
khoảng từ 10 - 60%, nồng độ CO tại các trục giao thông chính cao hơn từ 2,5 đến 4,4
lần so với TCCP [9].
Ô nhiễm môi trường không khí do bụi:
Hiện nay, tình trạng ô nhiễm môi trường không khí do bụi trên địa bàn thành
phốHà Nội đã được các nhà khoa học cảnh báo là đang ở mức “báo động đỏ”. Kết quả
quan trắc về nồng độ bụi lơ lửng trên địa bàn Hà Nội cho thấy: Ở các quận nội thành
đều vượt quá tiêu chuẩn cho phép từ 2 - 3 lần [8]. Trong đó, địa bàn quận Đống Đa,
Long Biên có nồng độ bụi cao nhất 0,8 mg/m3, gấp 4 lần so với TCCP [8], tiếp đến là
địa bàn quận Tây Hồ, Hoàng Mai 0,78 mg/m3 [1]. Ngoài ra, các khu vực được coi là
ô nhiễm trọng điểm bụi trên địa bàn Hà Nội được xác định gồm: đường Nam Thăng
Long, đường Nguyễn Tam Trinh, Đường 32 và hiện nay là các nút giao thông đang thi
công như ngã Tư Sở, ngã Tư Bách Khoa, gây ra những ảnh hưởng không nhỏ đối với
người dân khi qua lại những khu vực này. Trong 10 năm qua, bụi lơ lửng tại Hà Nội
do công nghiệp và thủ công nghiệp gây ra chiếm tới 67%, do đường phố bẩn chiếm
khoảng 30% và còn lại là do các phương tiện giao thông thải ra [9]. Số liệu thống kê
7
năm 1996 - 1997 thì ô nhiễm TSP đã xảy ra trầm trọng ở khu công nghiệp Thượng
Đình: Cao su Sao Vàng, thuốc lá Thăng Long, Bóng đèn - Phích nước Rạng Đông với
đường kính khu vực ô nhiễm khoảng 1,7km và nồng độ lớn hơn tiêu chuẩn cho phép 2
- 4 lần [7]; Tại khu công nghiệp Minh Khai, Mai Động, Vĩnh Tuy với đường kính ô
nhiễm khoảng 2,5km, có nồng độ TSP cao hơn tiêu chuẩn cho phép 2 - 3 lần [7].
Trong những năm gần đây nồng độ và bán kính ảnh hưởng của bụi ở khu vực này đã
có xu hướng giảm dần.Dưới đây là bảng biến đổi nồng độ (PM10) trong năm tại khu
vực Láng là khu vực ít bị ảnh hưởng bởi hoạt động sản xuất công nghiệp, mà chủ yếu
bởi hoạt động giao thông gây nên.
+Ô nhiễm môi trường không khí do các khí độc hại

là nguyên nhân làm tăng nồng độ chất ô nhiễm. Hàng loạt các yếu tố như: quá cũ, hay
quá thời gian sử dụng, hệ thống thải không đạt yêu cầu, lượng khí thải không đảm bảo
tiêu chuẩn thải…Theo con số thống kê tại bốn địa điểm là khu vực Đuôi Cá, đê sông
Hồng, đường Láng - Hòa Lạc và chân cầu Thăng Long có đến 95% số xe tải chở vật
liệu xây dựng không bảo đảm yêu cầu vệ sinh như thùng xe không kín, không có nắp
đậy, chở vật liệu quá thùng.
Xe chở vật liệu gây ô nhiễm môi trường
+ Ô nhiễm không khí do xây dựng
Tốc độ đô thị hóa ở Hà Nội diễn ra khá nhanh và mạnh, thành phố như một
“công trường” lớn.Hiện nay trên địa bàn thành phố luôn có hơn 1.000 công trình xây
dựng lớn nhỏ được thi công. Trong đó có đến hàng chục dự án cải tạo, xây dựng các
nút giao thông, các khu đô thị mới, quy mô lớn, thời gian thi công kéo dài hàng
năm,gây ô nhiễm bụi cả khu vực rộng lớn. Ngoài ra, mỗi tháng còn có khoảng 10.000
m2 đường bị đào bới để thi công các công trình hạ tầng kỹ thuật.Thành phố hiện nay
có khoảng hơn 300 điểm tập trung buôn bán vật liệu xây dựng. Mà phần lớn những
điểm buôn bán không có đủ điều kiện kinh doanh bảo đảm vệ sinh môi trường, diện
tích nhỏhẹp, không có hàng rào che chắn, thường sử dụng vỉa hè làm nơi tập kết vật
liệu, vì vậy luôn phát tán bụi vào môi trường. Tất cả những nguyên nhân trên khiến
cho tình trạng ô nhiễm bụi ở Hà Nội vẫn ở mức cao.
- Hoạt động sinh hoạt và dịch vụ của cộng đồng
Môi trường không khí không chỉ bị ảnh hưởng bởi các yếu tố trên mà còn bịảnh
9
hưởng bởi hoạt động sinh hoạt của người dân như: khí thải từ gia đình dùng bếp than
tổ ong để đun nấu (bình quân một gia đình tiêu thụ 2kg than/ngày, tức là 50 -
60kg/tháng) cũng đóng góp một phần đáng kể trong việc làm suy giảm chất lượng môi
trường không khí của Hà Nội. Hoạt động của làng nghề (gốm Bát Tràng, Triều
Khúc…), các cơ sở tiểu thủ công nghiệp nằm rải rác khắp các ngõ xóm, khu dân cư
(đặc biệt là khu vực ngoại thành) cũng gây ra những ảnh hưởng không nhỏ. Hoạt
động sinh hoạt, dịch vụ của người dân cũng thải ra một lượng rác rất lớn, lượng rác tồn
đọng lâu ngày không được thu rọn cũng gây ra ảnh hưởng đối với môi trường không

Hàng loạt các chung cư, cao ốc, đô thị mới, đang được xây dựng khắp thành phố
Hà Nội. Các dự án hạ ngầm dây cáp, lát lại vỉa hè đường phố, đổ nhựa lại mặt đường,
nâng cấp tu bổ các công trình 1000, chỉnh trang bộ mặt đô thị lao vào giai đoạn nước
rút chạy đua cho kịp đại lễ.
Những công trường đang thi công ở hà nội
Trong quá trình thực hiện đô thị hóa, hoàn thành nhiều dự án cải tạo, xây dựng
mới đang được triển khai, thì ý thức giữ gìn về sinh môi trường của các nhà đầu tư,
chủ công trình chưa cao. Thời gian thi công kéo dài nên đây chính là nguồn bụi chủ
11
yếu gây ra ô nhiễm bụi không khí hiện nay.
Xe chở chất thái rắn, phế thải xây dựng trên đường Phạm Hùng. Đây là nguyên
nhân gây tình trạng ô nhiễm ở đây
Các phương tiện vận chuyển đất thải, phế thải, vật liệu xây dựng không được che
chắn theo đúng quy định, làm rơi vãi vật liệu trên đường. Xe chở cát, sỏi, vật liệu xây
dựng không được rửa sạch trước khi rời khỏi bãi tập kết rơi rớt xuống đường và hàng
loạt các công trình xây dựng cùng thi công đã gây bụi, mất mỹ quan cho đường phố.
Theo kết quả quan trắc 6 tháng đầu năm, hàm lượng bụi lơ lửng tại Hà Nội đã
vượt tiêu chuẩn cho phép (TCVN 9537- 2005) chiếm trên 72%. Cụ thể khu vực đường
Nguyễn Trãi, Khuất Duy Tiến, Nguyễn Văn Linh vượt tiêu chuẩn cho phép trên 10,8
lần. Và rất nhiều khu vực khác mức độ ô nhiễm vượt tiêu chuẩn cho phép nhiều lần.
12
Đường phố ngập trong khói và bụi.
Trung bình mỗi năm Hà Nội phải tiếp nhận 80.000 tấn khói bụi, 9.000 tấn khí
SO2, 1.9000 tấn khí NO2, 46.000 tấn khí CO2. Dự báo, đến năm 2011 nồng độ các
loại khí trên sẽ vượt quá tiêu chuẩn cho phép từ 10 đến 11 lần trên một số nút giao
thông của thành phố Hà Nội như: nút giao thông Khuất Duy Tiến, Nguyễn Trãi, đường
Lò Đúc, nút Võng Thị
Đó là kết luận sau hàng loạt những đợt quan trắc phối hợp giữa Sở Khoa học
Công nghệ thành phố Hà Nội và Viện Hoá học.
Viện Y học Lao động & Vệ sinh môi trường (Bộ Y tế) đưa ra cảnh báo về tình

ngầm quan sát được ở các thành phố Hà Nội, Lạng Sơn, Đồng Hới, TPHCM ; lún sụt
nền đất ở Hà Nội, TPHCM, vùng Hoài Đức (HN), Cam Lộ (Quảng Trị)
Tại khu vực miền núi phía bắc, các hoạt động công nghiệp đang ảnh hưởng nặng
nề đến nguồn nước ngầm. Tại thành phố Lạng Sơn, Thái Nguyên, hệ thống giếng
khoan khu vực sông Kỳ Cùng, sông Cầu đang bị ô nhiễm nặng. Tại Quảng Ninh, Hải
Phòng, hàng loạt giếng khoan đang bị nhiễm mặn nặng nề do tốc độ khai thác quá
nhanh trên cùng một địa tầng. Ở nội thành Hải Phòng, nhiều giếng khoan bị nhiễm
mặn và mực nước tụt sâu 1-2m.
Với các đô thị miền Trung, nước ngầm được khai thác ở độ sâu nhỏ (khoảng 10
-25m), lớp phủ bề mặt mỏng nên dễ bị ô nhiễm. Qua khảo sát, phần lớn các nguồn
nước này đều bị nhiễm vi sinh và một số chỉ tiêu vi lượng vượt mức cho phép nhiều
lần
Để có nước phục vụ sinh hoạt, buộc các đô thị phải sử dụng nguồn nước ngầm. Đã
có những đô thị trên thế giới phải lấy nuớc ngầm xa hàng trăm cây số bởi hệ thống nước
ngầm trong và ven đô thị của họ đã cạn kiệt. Đó không phải là bài học mới, nhưng
không hề cũ trong bối cảnh phát triển đô thị quá nhanh, thiếu quy hoạch ở Việt Nam.
Ở các nước phát triển, nước ngầm đã trở thành nguồn tài nguyên quý giá và được
bảo vệ nghiêm ngặt.Khai thác nguồn nước ngầm để phục vụ phát triển các đô thị là
14
việc làm cần thiết.Tuy nhiên, sự phát triển quá nhanh của các đô thị cùng với sự khai
thác vô tội vạ đang nảy sinh nhiều nguy cơ tác động xấu đến nguồn tài nguyên nước
dưới đất.
Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng, đó là tình trạng khai thác vượt quá trữ lượng tiềm
năng, gây cạn kiệt nguồn nước; khai thác không theo quy hoạch hoặc thiếu đánh giá
nguồn nước; chưa xem xét đầy đủ vấn đề bảo vệ nguồn nước ngầm khi xây dựng các
quy hoạch về sử dụng đất, phát triển các khu công nghiệp, khu đô thị
Đặc biệt, công tác thu gom chất thải rắn, xử lý nước thải tại nhiều đô thị còn rất
sơ khai, dẫn đến tình trạng nguồn nước bẩn, các chất gây nguy hại thấm sâu làm ô
nhiễm nguồn nước
Tuy nhiên, những chính sách pháp luật để bảo vệ nguồn tài nguyên nước ngầm

con sông làm cho nước bị ô nhiễm nặng nề. Đến nỗi tôm, cá phải chết trắng mặt nước.
Không trung bị ô nhiễm bởi các chất phát thải dạng khí và cả bụi bẩn nữa. Không
khí bẩn làm nước mưa ô nhiễm, nhất là nước mưa bị mang tính axit vì khi CO2;
- Nguồn nước thải sinh hoạt và công nghiệp chảy ra sông ngòi làm bẩn nguồn
nước ăn và tưới tiêu. Nguồn nước dùng để ăn uống thì nhiễm bẩn trực tiếp, còn dùng
để tưới tiêu thì ngấm vào cây cối, lương thực thực phẩm, thức ăn cho gia xúc, gây hại
gián tiếp cho con người;
- Một phần khác nguồn nước thải ô nhiễm độc hại có thể ngấm trực tiép qua đất
xuống các mạch nước ngầm làm bẩn nước dùng của chúng ta. Nguy hại hơn, việc sử
dụng giếng khoan bừa bãi, và việc các lỗ khoan giếng nước sau khi dùng hay sau khi
thăm dò không xử lý đúng phương pháp làm cho nước thải dễ dàng ngấm trực tiếp đến
các túi nước ngầm trong đất, làm cho tình trạng nhiễm độc nước trầm trọng và lây lan
diện rộng, cực kỳ khó khắc phục và gây hậu họa khôn lường.
Tất cả các nguyên nhân trên đều xuất phát từ sự kém hiểu và ý thức với môi
trường của con người, chúng ta đang tự mình giết mình mà không hay.
Nước ta có nền công nghiệp chưa phát triển mạnh, các khu công nghiệp và các
đô thị chưa đông lắm nhưng tình trạng ô nhiễm nước đã xảy ra ở nhiều nơi với các
mức độ nghiêm trọng khác nhau (Cao Liêm và Trần Ðức Viên, 1990).
Nông nghiệp là ngành sử dụng nhiều nước nhất dùng tưới lúa và hoa màu, chủ
yếu là ở đồng bằng sông Cửu Long và sông Hồng. Việc sử dụng nông dược và phân
bón hóa học càng góp thêm phần ô nhiễm môi trường nông thôn.
Công nghiệp là ngành làm ô nhiễm nước quan trọng, mỗi ngành có một loại nước
thải khác nhau.Khu công nghiệp Thái Nguyên thải nước biến Sông Cầu thành màu
đen, mặt nước sủi bọt trên chiều dài hàng chục cây số. Khu công nghiệp Việt Trì xả
mỗi ngày hàng ngàn mét khối nước thải của nhà máy hóa chất, thuốc trừ sâu, giấy,
dệt xuống Sông Hồng làm nước bị nhiễm bẩn đáng kể. Khu côngnghiệp Biên Hòa và
TP HCM tạo ra nguồn nước thải công nghiệp và sinh hoạt rất lớn, làm nhiễm bẩn tất
cả các sông rạch ở đây và cả vùng phụ cận.
Nước dùng trong sinh hoạt của dân cư ngày càng tăng nhanh do dân số và các đô
thị. Nước cống từ nước thải sinh hoạt cộng với nước thải cuả các cơ sở tiểu thủ công

Nước là một trong những tài nguyên quan trọng không thể thiếu, và là nguồn
sống của bất cứ một loài sinh vật nào sinh sống trên trái đất, cụ thể hơn nó quyết định
sự tồn tại của một quốc gia, một dân tộc. Thế nhưng, ngày nay, xã hội ngày càng phát
triển, công nghiệp hóa, hiện đại hóa ngày càng cao thì dường như người ta đang quên
đi việc gìn giữ và bảo tồn nguồn nước sạch, quyết định đến sự sống của mỗi chúng ta.
Việc lạm dụng các loại hóa chất trong sản xuất, chế biến, sử dụng vô tội vạ các loại
thuốc bảo vệ thực vật trong nông nghiệp khiến nguồn nước của chúng ta đang bị đe
dọa ô nhiễm nghiêm trọng.
Một điều tưởng như mâu thuẫn, nhưng lại rất “hợp thời”, đó là tình trạng ô
nhiễm nước xảy ra đặc biệt nghiêm trọng ở các đô thị lớn của chúng ta như Hà Nội và
Tp. Hồ Chí Minh. Đây là hai đô thị lớn với rất nhiều sông ngòi, kênh rạch chạy trong
và xung quanh thành phố. Tuy nhiên, ở 2 thành phố này, nước thải sinh hoạt phần lớn
không có hệ thống xử lý tập trung mà đều xả trực tiếp ra sông, hồ, kênh, mương. Tổng
lượng nước thải của thành phố Hà Nội, theo báo cáo của UB KHCN và MT lên tới
300.000-400.000 m3/ngày cộng với lượng rác thải sinh hoạt chưa thu gom được
đang ngày ngày được “vô tư” xả xuống các khu đất, ven hồ, xuống sông, hồ, kênh,
mương trong nội thành. Vì vậy chỉ số BOD, oxy hòa tan, các chất NH4, NO2 ở các
sông, hồ, kênh, mương nơi đây đều vượt quá quy định cho phép gấp nhiều lần.
Cũng theo bản báo cáo của ủy ban này thì: Lượng nước tạo ra trong lãnh thổ
nước ta chỉ chiếm khoảng 37,5%, số còn lại phụ thuộc vào nguồn nước từ lãnh thổ các
quốc gia trên thượng nguồn sông Mê Kông, sông Mã, sông Hồng chảy vào. Riêng
trữ lượng nguồn nước ngầm cũng chỉ ở mức trung bình so với các nước trên thế giới,
có thể khai thác khoảng 10-12 tỷ m3/năm, nhưng hiện chỉ khoảng 20% dự trữ nước
ngầm được khai thác.
Lại theo một thống kê khác, lần này là của ngành Thủy sản thì tổng diện tích mặt
nước sử dụng cho nuôi trồng thủy sản trong cả nước ước khoảng 800.000 ha. Do nuôi
trồng ồ ạt, thiếu quy hoạch, không tuân thủ quy trình kỹ thuật nên đã tác động tiêu cực
đến môi trường nước. Đặc biệt, hầu hết các cơ sở chế biến thủy sản đều sử dụng Clorin
để tẩy rửa, khử trùng với lượng từ vài trăm đến hàng nghìn kg/năm/cơ sở. Do đó, nước
thải của các cơ sở này có mức độ ô nhiễm vượt quá quy định cho phép từ 5-10 lần về

khoan các hộ gia đình khoan chỉ có độ sâu từ 30 tới 50 mét là nhiều - theo anh Long
một “chuyên gia” về khoan giếng nước ngầm ở phường Vĩnh Hưng, quận Hoàng Mai
cho biết. Được biết, Hoàng Mai là đơn vị đang “sở hữu” rất nhiều sông, hồ có “vấn
đề” về chất lượng nước như sông Kim Ngưu, một phần sông Tô Lịch và các ao hồ với
diện tích mặt nước khá rộng. Và Hoàng Mai cũng là một “trọng điểm” của dịch tiêu
chảy cấp kinh hoàng vừa qua.
Hàng ngày chúng ta vẫn đi qua những con sông như thế này, nhưng có mấy ai
dừng lại để nhìn xuống nước của dòng sông đang ngày càng bẩn thêm như thế này?
Để giảm thiểu mức độ ô nhiễm môi trường nước, thiết nghĩ chúng ta cần sớm xây
dựng một chiến lược, quy hoạch khai thác, sử dụng nguồn nước cụ thể theo lưu vực và
các vùng lãnh thổ lớn. Cùng với nó là sự củng cố bộ máy quản lý môi trường ở những
vùng trọng điểm, xây dựng các trung tâm kỹ thuật phân tích, đánh giá và dự báo về tài
nguyên nước, đi đôi với tăng ngân sách đầu tư đảm bảo đủ chi phí bảo vệ môi trường
nước một cách hiệu quả. Bên cạnh đó là quản lý các doanh nghiệp sản xuất, xử phạt
thật nghiêm những đơn vị nào đổ nước thải chưa qua xử lý ra các sông ngòi và đất gây
ảnh hưởng tới nguồn nước ngầm của địa phương. Nâng cao ý thức người dân trong
quá trình sử dụng nước sinh hoạt và những hoạt động khác để tránh làm ảnh hưởng tới
môi trường nước gây ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe của chính bản thân.
20
Nghiên cứu mới đây nhất của Liên đoàn Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước
miền Bắc cho thấy mức ô nhiễm asen trong nguồn nước ở Hà Nội đã lên tới 40 lần so
với mức độ cho phép, nhiều điểm khác có mức ô nhiễm tới 20 lần. Ô nhiễm amôni
(NH4+) cũng vượt mức cho phép 20 – 30 lần. Cùng với đó tốc độ lún ở một số điểm
trong thành phố cũng đã tới mức báo động.
Theo nghiên cứu này, về cơ bản nguồn nước ngầm tự nhiên ở Hà Nội là sạch dù
lượng sắt và mangan trong nước ở Hà Nội khá lớn. Điều quan tâm nhất hiện nay về
mặt nước nhiễm bẩn ở Hà Nội là hàm lượng asen (còn gọi là thạch tín), amôni (NH4),
sinh ra từ các vật chất hữu cơ, xác động vật, chất thải lỏng và rắn…, trong nước quá
cao. Những điểm ô nhiễm asen đáng lưu ý mà Liên đoàn ghi nhận được là ở Đan
Phượng (Hà Tây cũ) với mức 0,4 microgram/lít – cao hơn 40 lần so với tiêu chuẩn cho

con sông Lừ, Nhuệ, Sét… đều đổ về phía Nam trong khi các bãi rác lớn và những khu
gây ô nhiễm lớn của thành phố như Văn Điển, Mễ Trì, nghĩa trang Văn Điển cũng nằm
trên khu vực này. Theo xác định của chúng tôi, thành phố hiện có khu vực nhiễm
amôni nặng điển hình lên tới 100 km2 ở khu vực phía Nam với ranh giới áng chừng từ
Ngã Tư Sở -Ngã Tư Vọng- Pháp Vân- Văn Điển rồi đến Hà Đông. Ngay các khu đô
thị kiểu mẫu như Định Công, Linh Đàm trước đây cũng phải đối mặt với ô nhiễm
amôni trong suốt một thời gian dài”- Ông Đản cho biết.
Liên quan đến việc khai thác nước ngầm ở Hà Nội, đại diện Liên đoàn Quy
hoạch và Điều tra tài nguyên nước miền Bắc khuyến cáo thành phố chỉ nên duy trì bãi
giếng ven sông. Theo đó ở khu vực Hà Nội cũ các bãi giếng phía Nam thành phố đã
giăng hết trong khi khu vực phía Bắc thành phố vẫn còn nhiều đất và cần hướng tới
việc khai thác ở khu vực này.Còn đối với những bãi giếng xa sông, những điểm khai
thác nước nhiều gây tác động nhiều đến môi trường thì cần xóa bỏ.Cụ thể khu vực Hạ
Đình và Pháp Văn cần xóa bỏ nhường chỗ cho nước sông Đà.Đây là những khu vực bị
ảnh hưởng của môi trường quá lớn trong khi lượng nước khai thác ở đây không đáng
bao nhiêu. Cùng với đó những bãi xa sông như Ngô Sĩ Liên, Tương Mai, Ngọc Hà,
Mai Dịch… là những khu không nên phát triển thêm các nhà máy nước. Sau một thời
gian nếu cần thiết thậm chí cần phải giảm khai thác tại những khu vực này.
Những bãi khai thác nước tập chung chính của Hà Nội hiện nay do Công ty kinh
22
doanh nước sạch Hà Nội quản lý với khoảng 160 giếng khoan có công suất khai thác
500.000 m3/ngày. Cùng với đó là khoảng 500 giếng khoan khai thác đơn lẻ của các
đơn vị với mức khai thác thấp, chưa đến 200.000 m3/ngày và trên 1 vạn giếng khoan
tự tạo trên địa bàn Hà Nội. Tổng lượng nước khai thác mỗi ngày ở Hà Nội ở mức trên
700.000 m3/ngày.
Hà Nội nằm trong danh sách 10 tỉnh, thành có nguồn nước ngầm nhiễm asen
(thạch tín) vượt mức cho phép và ảnh hưởng đến sức khỏe người dân.
Hai huyện Thanh Trì và Từ Liêm của Hà Nội là những vùng bị nhiễm nặng nhất.
Các điều tra ban đầu cho thấy, tại Hà Nội 69% mẫu nước tầng trên và 48% mẫu nước
tầng dưới được kiểm nghiệm có nồng độ asen cao hơn tiêu chuẩn. Tỷ lệ thạch tín trong

USD) nâng cấp sông Nhuệ giai đoạn 2010-2015. 7.800 tỷ đồng nạo vét đoạn Hà Đông
- Liên Mạc, nâng cấp cống Lương Cổ, Nhật Tựu; trạm bơm Yên Nghĩa; Liên Mạc
,Yên Sở II, Đông Mỹ, Ngoại Đô II và bơm tiêu vào sông Nhuệ, sông Châu.
600 tỷ đồng nạo vét đến Lương Cổ - Phủ Lý (dài 53km/74km); sông nhánh La
Khê, Duy Tiên; cải tạo đê chính. Xây Nhà máy xử lý nước thải (XLNT) Cầu Ngà,
15.000 - 20.000m3/ngày, ở Tây Mỗ 360 tỷ đồng.
Sông Nhuệ hôm nay đang là dòng sông chuyển rác từ đầu nguồn xuôi dòng
của cư dân hai bên bờ
Nội dung trên cho thấy đầu tư cho sông Nhuệ cho thấy chưa đặt trong tổng thể
nâng cấp thủy hệ Hà Nội, sông Nhuệ là phần không tách rời với sông Hồng, sông
Tô và hệ thống đầm hồ liên quan. Đặc biệt cần loại bỏ các nhà máy xử lý nước thải
tập trung đắt đỏ, lãng phí, kém tác dụng.Thay vào đó là hàng trăm trạm XLNT tại
24
nguồn, ngăn chặn không chỉ 35 miệng cống lớn mà hàng trăm cống nhỏ đang đổ
thẳng nước thải vào sông. Cải tạo đê chính đồng thời kết hợp tái bố trí dân cư, dịch
cư ven đê ra ngoài hành lang bảo vệ hai bên bờ sông (nếu để cư trú bình dân và sản
xuất thô sơ hiệu quả kinh tế thấp thì không có nguồn để trả chi phí bảo vệ môi
trường, dẫn đến tái ô nhiễm).
Hầu hết các sông hồ ở các thành phố lớn như Hà Nội , nơi có dân cư đông đúc và
nhiều các khu công nghiệp lớn này đều bị ô nhiễm. Phần lớn lượng nước thải sinh hoạt
(khoảng 600.000 m
3
mỗi ngày, với khoảng 250 tấn rác được thải ra các sông ở khu vực
Hà Nội) và công nghiệp (khoảng 260.000 m
3
và chỉ có 10% được xử lý) đều không
được xử lý mà đổ thẳng vào các ao hồ, sau đó chảy ra các con sông lớn tại Vùng Châu
thổ Sông Hồng và Sông Mê Kông. Ngoài ra, nhiều nhà máy và cơ sở sản xuất như các
lò mổ và ngay cả bệnh viện (khoảng 7000 m
3


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status