TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
======
NGUYỄN THỊ THÚY
VẤN ĐỀ Ô NHIỄM MÔI TRƢỜNG LÀNG NGHỀ
Ở HUYỆN PHÚ XUYÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
HIỆN NAY- THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Chủ nghĩa xã hội
HÀ NỘI - 2015
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc tới cô giáo - Thạc sĩ Lê Thị
Minh Thảo ngƣời đã tận tình chỉ bảo hƣớng dẫn em hoàn thành khóa luận này.
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới các thầy, cô trong khoa Giáo dục Chính trị đã
nhiệt tình giảng dạy, cảm ơn Ban Chủ nhiệm khoa và Ban Giám hiệu nhà trƣờng
dã tạo điều kiện tốt nhất cho em học tập và nghiên cứu tại trƣờng.
Tôi xin cảm ơn sự giúp đỡ của cán bộ Ủy ban nhân dân huyện Phú Xuyên,
thành phố Hà Nội đã giúp tôi thực hiện đề tài này.
Vì điều kiện thời gian có hạn, khóa luận còn nhiều thiếu sót, kính mong
quý thầy cô và mọi ngƣời chỉ bảo thêm và cho ý kiến đóng góp.
Hà Nội, tháng 05 năm 2015
Tác giả khóa luận
Nguyễn Thị Thúy
CHƢƠNG 3: PHƢƠNG HƢỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾUNHẰM
KHẮC PHỤC Ô NHIỄM MÔI TRƢỜNG LÀNG NGHỀỞ HUYỆN PHÚ
XUYÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY................................................... 41
3.1. Một số phƣơng hƣớng cơ bản trong việc khắc phục ô nhiễm môi trƣờng
làng nghề tại huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội......................................... 41
3.2. Một số giải pháp chủ yếu nhằm khắc phục ô nhiễm môi trƣờng làng nghề
tại huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội hiện nay........................................... 44
KẾT LUẬN ........................................................................................................ 55
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................... 57
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BOD
Nhu cầu ôxy sinh học
BVMT
Bảo vệ môi trƣờng
CNH, HĐH
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
COD
Nhu cầu ôxy hóa học
ÔNMT
đƣợc.
Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích mà làng nghề mang lại thì cũng có nhiều
vấn đề phát sinh, một trong những thách thức đang đặt ra đối với các làng nghề
là vấn đề môi trƣờng và sức khỏe của ngƣời lao động, của cộng đồng dân cƣ
đang bị ảnh hƣởng nghiêm trọng từ hoạt động sản xuất của các làng nghề.
Những năm gần đây, vấn đề này đang thu hút sự quan tâm của Nhà nƣớc
cũng nhƣ các nhà khoa học nhằm tìm ra giải pháp hữu hiệu cho sự phát triển bền
vững của các làng nghề. Đã có nhiều làng nghề thay đổi phƣơng thức sản xuất
cũng nhƣ quản lý môi trƣờng và thu đƣợc hiệu quả đáng kể. Song, đối với không
ít làng nghề, sản xuất vẫn đang tăng về quy mô, còn môi trƣờng đang ngày càng
ô nhiễm trầm trọng.
Huyện Phú Xuyên là một trong những vùng có nhiều làng nghề của Thành
phố Hà Nội với điều kiện tự nhiên và xã hội khá thuận lợi cho việc phát triển
làng nghề. Trong những năm qua kinh tế làng nghề đã đóng góp đáng kể cho sự
1
phát triển chung của toàn huyện. Nhƣng hiện tại khu vực này đang bị ô nhiễm
môi trƣờng nghiêm trọng do các hoạt động sản xuất của các làng nghề trong
huyện. Các biện pháp đã áp dụng cho các làng nghề của huyện Phú Xuyên chƣa
giúp cải thiện đƣợc tình hình do lƣợng thải ngày càng lớn.
Từ thực tiễn đó, tôi đã lựa chọn đề tài “Vấn đề ô nhiễm môi trường làng
nghề ở huyện Phú Xuyên – thành phố Hà Nội hiện nay” cho khóa luận của
mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài.
Nghiên cứu về vấn đề ô nhiễm môi trƣờng làng nghề nói chung, đã có
nhiều tác giả nghiên cứu nhƣ:
- Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng (2008), “ Báo cáo môi trƣờng quốc gia”.
Báo cáo đã trình các loại làng nghề ở Việt Nam, những nguyên nhân cơ bản của
tình trạng ô nhiễm môi trƣờng làng nghề trên cả nƣớc, đồng thời đƣa ra giải
nhân và giải pháp khắc phục ô nhiễm môi trƣờng làng nghề. Nhƣng tình trạng ô
nhiễm môi trƣờng làng nghề vẫn tồn tại và gây ảnh hƣởng tới sự phát triển
chung của địa phƣơng. Chính vì vậy, đề tài này đƣợc coi là hết sức mới mẻ, hấp
dẫn, có ý nghĩa cả về mặt lý luận và thực tiễn.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài.
3.1. Mục đích
- Nghiên cứu thƣc trạng ô nhiễm môi trƣờng của các làng nghề ở huyện Phú
Xuyên, thành phố Hà Nội.
- Tìm từ đó đề ra các giải pháp nhằm khắc phục ô nhiễm môi trƣờng làng
nghề tại huyện Phú Xuyên trong thời gian tới.
3.2. Nhiệm vụ
- Đánh giá thực trạng tình hình khắc phục ô nhiễm môi trƣờng làng nghề tại
huyện Phú Xuyên, những khó khăn và thuận lợi.
- Đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm khắc phục ô nhiễm môi trƣờng làng
nghề tai huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội.
3
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tƣợng
Đề tài khóa luận tập trung nghiên cứu về ô nhiễm môi trƣờng làng nghề ở
huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội. Trong đó đi sâu vào tìm hiểu nguyên nhân
của thực trạng trên và từ đó đƣa ra một số giải pháp để khắc phục.
Phạm vi nghiên cứu
Khóa luận tập trung nghiên cứu về lĩnh vực môi trƣờng làng nghề tại huyện
Phú Xuyên.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu.
Sử dụng phƣơng pháp chung chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa
duy vật lịch sử. Ngoài ra còn sử dụng các phƣơng pháp cụ thể nhƣ: phân tích và
Từ buổi ban đầu, phần lớn ngƣời dân trong làng đều sinh sống bằng nghề
nông nghiệp. Về sau để đáp ứng nhu cầu sản xuất và sinh hoạt, có những bộ
phận dân cƣ chuyển sang làm và sống bằng nghề thủ công khác. Họ liên kết với
nhau bằng xác phƣờng hội: phƣờng gốm, phƣờng đúc đồng, phƣờng dệt vải,
phƣờng trồng dâu nuôi tằm,… từ đó nghề đƣợc lan truyền và hình thành các
làng nghề. Trải qua một thời gian dài phát triển đã có rất nhiều làng nghề phát
triển mạnh, số hộ, số lao động làm nghề truyền thống và sống bằng nghề đó
ngày càng tăng.
Quan niệm về làng nghề có nhiều cách hiểu, có thể xem xét trên các
phƣơng diện khác nhau:
Theo TS. Phạm Côn Sơn trong cuốn Làng nghề truyền thống Viêt Nam,
làng nghề đƣợc định nghĩa nhƣ sau: “ Làng là một đơn vị hành chính cổ xƣa mà
cũng có nghĩa là đơn vị quần cƣ đông ngƣời sinh hoạt có tổ chức, có kỷ cƣơng
tập quán riêng theo nghĩa rộng. Làng nghề không những là một làng chuyên
sống bằng nghề mà cũng hàm ý là những ngƣời cùng nghề sống hợp quần để
phát triển công ăn việc làm. Cơ sở vững chắc của các làng nghề là sự vừa làm ăn
tập thể vừa phát triển kinh tế vừa giữ gìn bản sắc dân tộc và cá biệt của địa
phƣơng” [18, tr3-5].
5
GS. Trần Quốc Vƣợng cho rằng “ làng nghề là một làng tuy vẫn còn trồng
trọt theo lối tiểu nông và chăn nuôi nhƣng cũng có một số nghề phụ khác nhƣ
đan lát, gốm sứ, làm tƣơng, dệt vải,… song đã nổi trội một nghề cổ truyền, tinh
xảo với một tầng lớp thợ thủ công chuyên nghiệp hay bán chuyên nghiệp, có
phƣờng (cơ cấu tổ chức), có ông trùm, ông cả cùng một số thợ và phó nhỏ, đã
chuyên tâm, có quy trình công nghệ nhất định “sinh ƣ nghệ, tử ƣ nghệ”, “nhất
nghệ tinh, nhất thân vinh”, sống chủ yếu đƣợc bằng nghề đó và sản xuất ra
những mặt hàng thủ công, những mặt hàng này đã có tính mỹ nghệ, đã trở thành
vật thể, đƣợc phản ánh qua lịch sử, văn hóa và xã hội liên quan tới họ.
Theo báo cáo Môi trƣờng Quốc Gia năm 2008, tiêu chí công nhận làng
nghề đã đƣợc hình thành, gồm ba tiêu chí sau:
Thứ nhất: có tối thiểu 30% tổng số hộ trên địa bàn tham gia hoạt đồng
ngành nghề.
Thứ hai: hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu hai năm tính đến
thời điểm đề nghị công nhận.
Thứ ba: chấp hành tốt chính sách pháp luật của nhà nƣớc[1, tr.8-9] .
Đặc điểm của làng nghề
- Làng nghề tồn tại ở nông thôn, gắn bó chặt chẽ với nông nghiệp
Làng nghề xuất hiện và tồn tại trong từng làng xã ở nông thôn. Các ngành
nghề thủ công nghiệp tách dần khỏi nông nghiệp. Sản xuất nông nghiệp và sản
xuất kinh doanh thủ công nghiệp trong các làng nghề đan xen nhau. Ngƣời thợ
thủ công trƣớc hết và đồng thời là ngƣời nông dân. Các gia đình nông dân trƣớc
hết vừa làm ruộng vừa làm thủ công nghiệp. Sự ra đời của các làng nghề đầu
tiên là do giải quyết lao động phụ, lao động dƣ thừa lúc nhàn rỗi giữa các vụ và
đáp ứng nhu cầu tiêu dung của từng gia đình và của từng làng xã. Trong các
nghề, ngƣời nông dân thƣờng tự sản xuất, tự sửa chữa đáp ứng nhu cầu ít ỏi
hàng tiêu dùng thƣờng ngày của chính mình.
- Công nghệ, kĩ thuật sản xuất mang tính truyền thống
7
Công cụ lao động trong các làng nghề đa số là công cụ thủ công. Công cụ
sản xuất mang tính đơn chiếc. Có bƣớc tiếp nối, truyền tải, kết tinh giá trị từ thế
hệ này sang thế hệ khác. Chất lƣợng sản phẩm của làng nghề không phụ thuộc
vào công cụ sản xuất hiện đại, có năng xuất cao, theo dây truyền mà chủ yếu dựa
vào kinh nghiệm, bí quyết, tài hoa của ngƣời thợ chế tác đồ thủ công.
- Đại bộ phận nguyên liệu của làng nghề là tại chỗ.
Hầu hết các làng nghề đƣợc hình thành xuất phát từ các nguồn nguyên
trong các làng nghề là hộ gia đình . Với hình thức này, hầu nhƣ tất cả các thành
viên trong hộ đều đƣợc huy động vào làm những công việc khác nhau của quá
trình sản xuất kinh doanh. Ngƣời chủ gia đình đồng thời là ngƣời thợ cả, mà
trong số họ có không ít những nghệ nhân, tùy theo nhu cầu công việc, hộ gia
đình có thể thuê mƣớn thêm ngƣời lao động thƣờng xuyên hoặc lao động thời
vụ. Tổ chức kinh doanh theo hộ gia đình đảm bảo đƣợc sự gắn bó giữa quyền lợi
và trách nhiệm,huy động đƣợc mọi lực lƣợng có khả năng lao động tham gia sản
xuất kinh doanh, tận dụng đƣợc thời gian và nhu cầu đầu tƣ thấp. Đây là hình
thức tổ chức thích hợp với quy mô nhỏ. Tuy nhiên, mô hình này hạn chế rất
nhiều đến khả năng phát triển kinh doanh. Sản xuất theo mô hình nhỏ khó có thể
nhận đƣợc các hợp đòng đặt hang lớn, không mạnh dạn cải tiến sản phẩm,
không đủ tầm nhìn để định hƣớng phát hoặc đề ra chiến lƣợc kinh doanh cho sản
phẩm của mình.
Dựa trên các yếu tố tƣơng đồng về ngành sản xuất, sản phẩm, thị trƣờng
nguyên vật liệu và tiêu thụ sản phẩm có thể chia hoạt động ngành nghề nƣớc ta
ra thành 6 nhóm ngành chính: 1. Làng nghề chế biến lƣơng thực, thƣc phẩm,
chăn nuoi và giết mổ. 2. Làng nghề dệt nhuộm, ƣơm tơ, thuộc gia. 3. Làng nghề
sản xuất vật liệu xây dựng và khai thác đá. 4. Làng nghề tái chế phế liệu. 5.
Làng nghề thủ công mỹ nghệ. 6. Các nhóm ngành khác.
9
1.1.2.Vai trò của làng nghề
Giữ gìn bảnsắc văn hóa truyền thống lâu đời, độc đáo của từng địa
phương
Giá trị văn hóa của làng nghề truyến thống thể hiện qua sản phẩm, cơ cấu
của làng, qua lối sống, phong tục tập quá của cộng đồng. Những sản phẩm thủ
công truyền thống hầu hếtlà những sản phẩm hàng hóa mang tính nghệ thuật, nó
là sản phẩm mang tính văn hóa vật thể lại vừa chứa đựng những giá trị văn hóa
khoảng 20 vạn đất sản xuất nông nghiệp phải chuyển đổi mục đích sử dụng nên
tiếp tục có thêm hàng ngàn ngƣời lao động ở nông thôn không có việc làm.
Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp
hóa.
Mục tiêu cơ bản của CNH,HĐH nông nghiệp nông thôn là tạo ra một cơ
cấu kinh tế phù hợp và hiện đại ở nông thôn. Trong quá trình vận động và phát
triển các làng nghề đã có vai trò tích cực trong việc tăng trƣởng tỷ trọng của
công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ, thu hẹp tỷ trọng của nông nghiệp.
Sự phát triển của làng nghề trong những năm qua đã thực sự góp phần thúc đẩy
quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hƣớng tăng cơ cấu ngành
công nghiệp dịch vụ, giảm cơ cấu nghành cơ cấu nghành cơ cấu nông nghiệp,
góp phần bố trí lực lƣợng lao động theo hƣớng “ly nông bất ly hƣơng”. Đặc biệt
sự phát triển của những làng nghế mới đã phá thế thuần nông, tạo đà cho công
nghiệp phát triển, thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa phát triển
kinh tế nông thôn.
Các làng nghề sẽ là cầu nối giữa công nghiệp lớn hiện đại với nông nghiệp
phi tập trung, làm tiền đề xây dựng công nghiệp hiện đại ở nông thôn, là bƣớc
trung gian chuyển từ nông thôn thuần nông, nhỏ lẻ phân tán lên công nghiệp lớn.
Làng nghề sẽ là điểm thực tốt phân công lao động tại chỗ, là nơi tạo ra sự liên
kết công nông nghiệp có hiệu quả.
11
Góp phần tạo ra nguồn sản phẩm phong phú cho xã hội
Hoạt động của các làng nghề tạo ra một khối lƣợng hàng hóa đa dang và
phong phú, phục vụ cho tiêu dùng trong nƣớc và xuất khẩu, đóng góp cho nền
kinh tế quốc dân nói chung và cho từng địa phƣơng nói riêng, là nhân tố quan
trọng thúc đẩy phát triển hàng hóa ở nông thôn.
Sản phẩm từ các làng nghề không chỉ đáp ứng nhu cầu trong nƣớc mà còn
Thứ hai, môi trƣờng đƣợc hiểu là môi trƣờng sống, là phần của thế giới vật
chất đã và đang tồn tại sự sống, hay còn gọi là sinh quyển. Môi trƣờng sống bao
gồm trong đó điều kiện vô cơ và hữu cơ liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến sự
tồn tại, phát triển của các sinh thể.
Thứ ba, môi trƣờng sống còn đƣợc hiểu là môi trƣờng sống của con ngƣời
và xã hội loài ngƣời. Nó bao gồm sinh quyển và những điều kiện xã hội. Nói
cách khác, đó là môi trƣờng tự nhiên – xã hội, hay môi trƣờng tự nhiên – ngƣời
hóa, môi trƣờng sinh thái nhân văn.
Trên thực tế, cho đến ngày nay, đã có nhiều công trình nhiên cứu, cả trên
thế giới và ngay tại việt nam bàn đến khía cạnh của vấn đề này và đề xuất đến
những cách định nghĩa khác nhau về khái niệm môi trƣờng. Năm 1981, Tổ chức
giáo dục của Liên Hợp Quốc (UNESCO) đã đƣa ra một định nghĩa về khái niệm
này nhƣ sau: Môi trường bao gồm toàn bộ các hệ thống tự nhiên và nhân tạo,
trong đó con người sinh sống và bằng lao động của mình đã khai khác những tài
nguyên thiên nhiên hoặc nhân tạo để thỏa mãn những nhu cầu của mình. Ở
nƣớc ta, một số tác giả, từ những góc độ tiếp cận khác nhau, cũng đã đƣa ra
quan niệm của mình về vấn đề này. Chẳng hạn khi bàn đến khái niệm môi
trƣờng, có ý kiến cho rằng: đứng về mặt sinh học thì “ môi trƣờng là tất cả các
yếu tố xung quanh, bao gồm các nhân tố vô sinh và hữu sinh gây ảnh hƣởng trực
tiếp hoặc gián tiếp đến cuộc sống, sự phát triển và sự sinh sản của các sinh vật”.
Song tác giả của các quan điểm trên cũng nhấn mạnh rằng, đối với “môi trƣờng
con ngƣời” thì cần phải đƣợc hiểu theo nghĩa rộng hơn. Nó bao gồm toàn bộ hệ
thống tự nhiên và những gì do con ngƣời sáng tạo ra các hệ sinh thái nhân tạo,
13
những nhóm và những hộ môi trƣờng văn hóa,… trong đó con ngƣời sống và
khai thác bằng lao động của mình. Những nguồn lợi tự nhiên và nhân tạo cho
phép thỏa mãn những nhu cầu của con ngƣời.
Tác giả khác, khi xác định nội dung của khá niệm môi trƣờng, lại nhấn
Nhƣ chúng ta đã biết, tự nhiên con ngƣời và xã hội là các yếu tố thống nhất
trong một chỉnh thể không tách dời. Trong mối quan hệ hặt chẽ và sự tác động
qua lại giữa xã hội và tự nhiên, yếu tố tƣ nhiên có tác động to lớn đối với sự tồn
tại, phát triển của con ngƣời cũng nhƣ xã hội loài ngƣời. Trái lại sự tác động của
các yếu tố con ngƣời và xã hội ngày càng đóng vai trò quan trọng, mang tính
quy định đối với sự biến đổi, chiều hƣớng biến đổi (tích cự hay tiêu cực, phù
hợp hay không phù hợp với quy luật khách quan) của tự nhiên. Và do vậy, sự tác
động của con ngƣời và tự nhiên còn quyết định luôn cả sự tồn tại, phát triển của
chính bản thân mình.
Đối với con ngƣời và xã hội loài ngƣời, môi trƣờng tự nhiên có một giá trị
vô cùng to lớn không thể thay thế. Nó vừa là nơi tồn tại, sinh trƣởng và phát
triển, vùa là nơi con ngƣời lao động và hƣởng thụ những giá trị văn hóa vật chất
và tinh thần do sự lao động đó tạo nên. Theo sự phân tích đánh giá của
UNESCO, môi trƣờng sinh thái đối với con ngƣời có ba chức năng cơ bản:
Thứ nhất, môi trƣờng tự nhiên là nơi cung cấp các nguồn tài nguyên cần
thiết đối với sự tồn tại, phát triển của con ngƣời và xã hội loài ngƣời.
Thứ hai, nó là nơi thu nhận các hoạt động của con ngƣời cũng nhƣ xã hội
loài ngƣời nhằm phục vụ cho các nhu cầu về đời sống vật chất tinh thần cho con
ngƣời.
Thứ ba, môi trƣờng tự nhiên còn là nơi đồng hóa các chất thải do kết quả
của hoạt động đó.
Thực tế cho thấy, con ngƣời muốn tồn tại và phát triển không thể không
cần đến những điều kiện cần thiết đối với sự sống nhƣ nƣớc, ánh sáng, không
khí, thức ăn,… Xã hội loài ngƣời cũng không thể phát triển nếu không có những
nguồn tài nguyên thiên nhiên, khoáng sản và các nguồn vật liệu quan trọng khác.
15
Chỉ có tự nhiên mới có khả năng cung cấp cho con ngƣời tất cả những điều kiện
vật chất đó. Quan hệ giữa con ngƣời và môi trƣờng sinh thái đó là “quan hệ máu
với khu sinh hoạt nên đây là loại hình ô nhiễm khó quy hoạch và kiểm soát.
- Ô nhiễm môi trƣờng tại làng nghề mang đậm nét đặc thù của hoạt động
sản xuất theo ngành nghề và theo loại hình sản phẩm và tác động trực tiếp đến
môi trƣờng nƣớc, đất, khítrong khu vực.
- Ô nhiễm môi trƣờng các làng nghề thƣờng khá cao tại khu vực sản xuất,
ảnh hƣởng trực tiếp đến sức khỏe ngƣời lao động. Theo kết quả khảo sát của
BộTTN-MT(2005) chất lƣợng môi trƣờng tại hầu hết các khu vực sản xuất trong
các làng nghề đều không đạt tiêu chuẩn. Các nguy cơ mà ngƣời lao động tiếp
xúc khá cao: 95% ngƣời lao động có nguy cơ tiếp xúc với bụi, 85,9% tiếp xúc
với nhiệt, 59,6% tiếp xúc với hóa chất. Kết quả khảo sát 52 làng nghề điển hình
trong cả nƣớc năm 2005 cho thấy trong số đó, 46% làng nghề có môi trƣờng bị ô
nhiễm nặng (đối với không khí hoặc nƣớc hoặc cả ba dạng), 27% ô nhiễm vừa
và 27% ô nhiễm nhẹ. Các kết quả quan trắc trong thời gian gần đây cho thấy
mức độ ô nhiễm của các làng nghề không giảm mà còn có xu hƣớng gia tăng [1,
tr.50-51]
1.2.2.Phân loại ô nhiễm môi trường
Ô nhiễm môi trường nước
Ô nhiễm nƣớc là sự thay đổi thành phần và chất lƣợng nƣớc, không đáp
ứng cho các mục đích sử dụng khác nhau, vƣợt quá tiêu chuẩn cho phép và có
ảnh hƣởng xấu đến đời sống con ngƣời và sinh vật.
Nguồn gây ô nhiễm nƣớc có thể do con ngƣời hoặc do tự nhiên gây ra.
Ô nhiếm nƣớc ở Việt Nam mang tính địa phƣơng, những vùng đô thị, khu
công nghiệp, khai khoáng, nơi nhận nƣớc thải có mức độ ô nhiễm cao nhất,
nƣớc mặn có màu, mùi vị bất thƣờng, các chỉ tiêu chất lƣợng nƣớc không đảm
bảo, điều kiện cho quá trình tự làm sạch bị phá vỡ.
17
Tác nhân gây ô nhiễm nƣớc ở Việt Nam đa dạng giống nhƣ tình trạng
nguy cơ ô nhiễm vi sinh vật gây bệnh ở mức cao. Không khí trong nhiều căn hộ
gia đình cũng không trong sạch do môi trƣờng ô nhiễm, điều kiện vệ sinh không
đảm bảo, dùng bếp đun, nhà tiêu lạc hậu. Ô nhiễm môi trƣờng không khí tại các
vùng nông thôn, nông nghiệp có liên quan chủ yếu với việc dùng thuốc trừ sâu
bảo vệ thực vật bừa bãi, quản lý không tốt phân, rác chăn nuôi và sinh hoạt.
Trong các làng nghề thủ công nghiệp, thủ công truyền thống, phát triển thiếu
bền vững, vấn đề môi trƣờng đều chƣa đƣợc kiểm soát và quan tâm đầy đủ, nên
đang ngày càng trở thành nghiêm trọng hơn.
Ô nhiễm đất có nhiều nguyên nhân song có 4 nguyên nhân chính gây nên
tình trạng ô nhiễm đất hiện nay là:
Ô nhiễm đất
Đất là một hệ thống, một hệ sinh thái với đầy đủ các đặc trƣng của nó. Do ô
nhiễm đất đƣợc hiểu là sự có mặt của các chất độc, gây hại trực tiếp cho con
ngƣời và sinh vật, hoặc thay đổi thành phần, tính chất của đất, vƣợt ra ngoài
miền giới hạn sinh thái của sinh vật, gây suy giảm nghiêm trọng các chức năng
của đất và ảnh hƣởng xấu cho hệ sinh vật trong đất và trên mặt đất.
- Nhiễm do hóa chất xử dụng trong nông nghiệp. Hóa chất sử dụng trong
nông nghiệp gây tác động tức thời lên hệ sinh thái đất, gây chết một số loài. Một
số hóa chất có thể tồn tại lâu dài trong môi trƣờng do tính trơ của bản thân các
chất độc hoặc do liên kết với các chất hữu cơ và khoáng chất, tạo nên sự tích lũy
tới ngƣỡng gây hại trong môi trƣờng và trong cơ thể sinh vật, gây tác động từ từ
lên hệ sinh thái. Các hóa chất gây ô nhiễm đất trong nông nghiệp đáng chú ý là
các loại thuốc bảo vệ thực vật.
- Ô nhiễm đất do chất thải công nghiệp chứa nhiều hóa chất độc hại thải
trực tiếp vào đất, hoặc qua nƣớc, không khí vào đất, làm cho đất bị ô nhiễm hóa
học. Khoảng 50% chất thải công nghiệp tồn tại ở thể rắn, trong đó có khoảng
15% có khả năng gây độc nguy hiểm. Các tác nhân gây ô nhiễm nghiêm trọng là
chất phóng xạ, kim loại nặng.
19