liên hệ thực tiễn phân tích nội dung chủ yếu các thuyết quản lí của C.Barnard, E.Mayor, C.Argiris .Nhữnggiải pháp chủ yếu vận dụng có hiệu quả các thuyết đó vào doanh - Pdf 25

Mục lục
• Mở
đầu…………………………………………………………
……
• Nội
dung……………………………………………………….
……
• Nội dung chủ yếu của thuyết quản líC.Barnard, E.Mayor,
C.Argiris………
• Giải pháp chủ yếu để vận dụng có hiệu quả thuyết quản lí của
C.Barnard, E.Mayor, C.Argiris vào doanh nghiệp nước ta hiện
nay………………
C.Kết luận…………………………………………………
……………
Đề 5: liên hệ thực tiễn phân tích nội dung chủ yếu các thuyết quản lí của
C.Barnard, E.Mayor, C.Argiris .Nhữnggiải pháp chủ yếu vận dụng có hiệu
quả các thuyết đó vào doanh nghiệp nước ta hiên nay.
MỞ ĐẦU
Quản lý thực chất là làm việc với người khác và thông qua những người
khác để đạt được kết quả mong muốn.Do vậy, những kiến thức và kỹ năng
để làm việc và làm việc thông qua người khác đóng vai trò quan trọng trong
quản lý.Con người là tài sản quý giá nhất của tổ chức. Khai thác tiềm năng
con người là khả năng lớn nhất để nâng cao năng suất lao động và chất
lượng công việc. Tuy vậy, vấn đề con người, quan hệ giữa con người với
con người, quan hệ giữa con người với tổ chức là những vấn đề các nhà
quản lý hay gặp nhất và cũng phức tạp nhất.Con người trong tổ chức trước
hết là cá nhân, sau đó họ được tập hợp trong nhóm và cao nhất là trong tổ
chức. Quan hệ giữa cá nhân, tập thể và tổ chức là những quan hệ phức tạp và
quan trọng nhất. Để hoạt động hiệu quả, các tổ chức cần phát triển kĩ năng
của từng cá nhân với nhau hay còn gọi là kĩ năng con người và tổ chức quản
lí một cách có khoa học.Quản lý các doanh nghiệp có hiệu quả là một công

Theo Barnard, người quản lý phải nhận thức về thuộc cấp ở cả hai
phươngdiện thì mới có thể đưa ra những tác động quản lý có hiệu lực và
hiệu quả.+ Quan niệm về tổ chứcBarnard là một trong những người có đóng
góp đặc biệt quan trọng khi đưara quan niệm có sức thuyết phục về tổ chức.
Đó là: tổ chức là một hệ thống hoạtđộng có ý thức của con người. Ông phân
chia tổ chức thành hai loại hình: 1/ Tổchức chính thức; 2/ Tổ chức phi chính
thức.Tổ chức chính thức là sự phối kết hợp những nỗ lực của các thành
viênnhằm thực hiện mục tiêu chung. Tổ chức phi chính thức là sự phối kết
hợp các hoạtđộng của các cá nhân để nhằm thoả mãn những nhu cầu
riêng.Theo Barnard, người quản lý cần phải nhận thức được vai trò quan
trọng củacả hai loại hình tổ chức đó trong khi thực hiện chức năng của
mình.Quan niệm về hiệu lực và hiệu quảHiệu lực là sự nỗ lực của tất cả các
thành viên để nhằm thực hiện mục tiêuchung của tổ chức. Hiệu quả là sự nỗ
lực của tất cả các thành viên để nhằm thoảmãn nhu cầu riêng của họ.Theo
Barnard, người quản lý cần phải có trách nhiệm hướng tổ chức củamình đạt
tới cả hiệu lực và hiệu quả.3 nội dung cơ bản để phát triển tổ chức: Sự sẵn
sàng hợp tác. Để cho tất cả các thành viên trong tổ chức có được sự sẵn sàng
hợp tác,Barnard cho rằng cần phải “giải bài toán” giữa “đóng góp” và “nhận
lại”.Sự thừa nhận mục tiêu chung.Khả năng thông tin.
2. Thuyết quản lí con người của E.Mayor (1880-1949).
E.Mayo là một học giả người Australia, sau có sang Anh Và Mỹ giảng
dạy và nghiên cứu . Công trình nổi tiếng về quản lý của ông là : “Các vẫn đề
nhân văn của văn minh công nghiệp” (1933), “Các vấn đề xã hội của văn
minh công nghiệp” (1945).
Cuộc thử nghiệm ở Hawthorne Tiến hành thử nghiệm Hawthorne
Illumination được thực hiện vào tháng 11/1924 tại ba bộ phận của xí nghiệp
Hawthorne ở Chicago với sự chỉ đạo của các kỹ sư.Người ta chi các nhân
viên thành hai nhóm: nhóm thử nghiệm (làm việc trong những sự thay đổi có
chú ý về điều kiện ánh sáng), và nhóm kiểm chứng ( làm việc trong điều
kiện ánh sáng được duy trì cố định trong suốt thử nghiệm) Khi điều kiện ánh

những kết luật sau: Các đơn vị kinh doanh là tổ chức xã hội, bên cạnh tính
kinh tế và kỹ thuật đã nhận thấy. Con người không chỉ có thể động viên
bằng các yếu tố vật chất, mà cả yếu tố tâm lí và xã hội Các nhóm và tổ chức
phi chính thức trong xí nghiệp tác động nhiều đến thái độ và kết quả lao
động của công nhân Sự lãnh đạo của nhà quản trị không chỉ đơn thuần dựa
vào chức danh chính thức trong bộ máy tổ chức, mà còn phải dựa nhiều vào
yếu tố tâm lí, xã hội. Sự thỏa mãn tinh thần có liên quan chặt chẽ với năng
suất và kết quả lao động. Công nhân có những nhu cầu về tâm lí và xã hội
cần được thỏa mãn Tài năng quản trị đòi hỏi cả yếu tố kỹ thuật lẫn yếu tố xã
hội Khi công trình nghiên cứu hoàn tất năm 1932, ông kết luận rằng phương
pháp làm việc có tính cách khoa học của ngành quản trị cổ điển với
Frederick W. Taylor là đại diện, mang lại hiệu năng quản lý với kết quả tốt,
nhưng không hoàn chỉnh. Lý do là một con người bằng xương bằng thịt với
tất cả sinh khí và cảm xúc, không thể được đối xử như máy móc vô tri giác,
và lại càng không nên áp đặt họ bằng một hệ thống mà không quan tâm tới
nhu cầu của họ. Mayo giới thiệu một phương pháp mới gọi là Phương Pháp
Quản Trị theo tâm lý xã hội( trường phái hành vi trong quản lí). Phương
pháp này nhấn mạnh đến sự thoả mãn nhu cầu của con người, không phải là
thứ nhu cầu vật chất, nhưng là tâm lý của họ trong một tổ chức. Tư tưởng
chủ chốt của Mayo được tóm lược trong những điểm chính sau đây: Tổ chức
phải tạo bầu khí để nhân viên cảm thấy thoải mái và thân thiện khi làm việc.
Tạo cơ hội để nhân viên nhận ra chân giá trị của chính mình trong tổ chức.
Tạo được tinh thần đội ngũ trong các nhóm. Nhân viên cần được quan tâm
và tôn trọng.Mayo đề nghị giới quản trị nên thay đổi quan niệm dài.
3.Thuyết quản lí con người của Chris Argiris (1923)
Argyris là một nhà tâm lí học, xuất phát từ việc nghiên cứu cá tính con
người ông đã phát hiện ra những mâu thuẫn giữa cá nhân và tổ chức và đề ra
các biện pháp điều hòa, phối hợp giữa cá nhân và tổ chức.
Chris Argyris: nghiên cứu tư cách con người và các yếu tố đời sống tổ
chức đã cho rằng, một sự nhấn mạnh thái quá của nhà lãnh đạo, quản trị đối

phương thức hành vi nào đó. Khi trưởng thành, phương thức hành vi của họ
sẽ đa dạng, phức tạp. Trong thời kỳ trẻ nhỏ, con người chỉ có hứng thú ngẫn
nhiên, đơn giản. Khi trưởng thành, họ sẽ có hứng thú sâu sắc, mạnh mẽ.
Trong thời kỳ trẻ nhỏ, quan niệm thời gian của con người chỉ bao gồm “hiện
tại”, do đó họ chỉ nghĩ đến những hành vi trong thời gian ngắn. Khi trưởng
thành, nó sẽ dần dần phát triển đến những hành vi trong thời gian dài. Trong
thời kỳ trẻ nhỏ, con người chỉ có thể dựa dẫm vào người khác. Trong quá
trình trưởng thành, họ sẽ dần dần tạo lập được địa vị bình đẳng hoặc ưu việt
trong gia đình và xã hội.Trong thời kỳ trẻ nhỏ, con người thiếu ý thức về
mình. Trong quá trình trưởng thành, họ sẽ dần dần có ý thức về mình, đồng
thời có khả năng tự điều khiển.
• Giải pháp chủ yếu để vận dụng có hiệu quả thuyết quản lí của
C.Barnard, E.Mayor, C.Argiris vào doanh nghiệp nước ta hiện
nay.
Khi chuyển sang thời kỳ CNH-HĐH nền kinh tế đã xuất hiện đa dạng
các hìnhthức lao động, sức ép về dân số, việc làm, số lao động ở ngoại tỉnh
tràn ngập các thành phố lớn dẫn đến tình trạng mất cân đối lao động giữa
thành thị và nông thôn, nên không thể tránh khỏi tình trạng công tác bảo hộ
lao động còn bộc lộ bất cập và thiếu xót, môi trường lao động ở nhiều nơi bị
ô nhiễm nặng nhất là ở các làng nghề thủ công, khu công nghiệp, khu chế
xuất. Thực trạng sức khoẻ tính mạng và bệnh nghề nghiệp của người lao
động đang ngày một nghiêm trọng.Việc bảo vệ người lao động trước những
mối đe doạ hiểm hoạ của môi trường, điều kiện làm việc không an toàn, ảnh
hưởng xấu đối với sức khoẻ của họ chính là giữ gìn nguồn nội lực của quốc
gia. Ví dụ1: Trong công ty chuyên sản xuất giầy thể thao mang nhãn hiệu
NiKe (Công ty Changshin Việt Nam với 100%vốn của Hàn Quốc) có tổng
số 5802 người lao động trong đo có 85 người khuyết tật và khoảng một vài
thương binh. Mỗi quý một lần ban lãnh đạo công ty tổ chức gặp gỡ nhân
viên một lần để tìm hiểu thăm dò ý kiến của công nhân viên, công ty đã phát
hiện ra những nhu cầu riêng của công nhân trong doanh nghiệp mình và

nếu có môi trường để phát huy thì nó góp phần tạo nên sự hưng thịnh của
mỗi doanh nghiệp nói riêng và đất nước nói chung. Một vấn đề nữa ở đây
cần giải quyết đó là vấn đề bảo hiểm cho người lao động cần phải có sự
thống nhất với bảo hiểm của cán bộ và công nhân viên trong doanh nghiệp,
bảo dảm bình đẳng, dân chủ phát huy sức mạnh của doanh nghiệp. Trong
doanh nghiệp vai trò của công đoàn cũng góp phần rất nhiều cho sự nghiệp
phát triển của doanh nghiệp. Theo luật Công Đoàn, tạo điều kiện cho người
lao động liên kết theo các tổ chức công đoàn, nghiệp đoàn hiệp hội riêng
nằm trong cơ quan công đoàn cấp trên quản lý để bảo vệ lợi của mình. Mở
rộng giới hạn của luật công đoàn, soạn thảo và cho ra đời luật bảo hiểm, có
như vậy thì quyền lợi của người lao động mới được đảm bảo thực sự, và đáp
ứng đựơc đòi hỏi tất yếu của nền kinh tế thị trường hiện nay.
KẾT LUẬN
Trong nền kinh tế tri thức hiện nay, việc đầu tư cho phát triển nguồn lực
là một vấn đề rất cần thiết.Đó là chìa khoá dẫn tới sự thành công của nền
kinh tế mỗi nước. Do đó, nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ thứ
VIII đã nêu ra một giải pháp cơ bản cho quá trình CNH-HĐH lấy việc phát
huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển của nền kinh tế
đất nước. Tại hội nghị Trung Ương lần II khoá VIII của Đảng khẳng định
con người là nguồn lực quan trọng nhất đối với sự phát triển kinh tế - xã hội
của nước ta. Để thực hiện mục tiêu chiến lược mà Đại hội VIII đã đề ra, cần
khai thác và sử dụng nhiều nguồn lực khác nhau, trong đó nguồn lực con
người là quý báu nhất, có vai trò quyết định đặc biệt đối với nước ta khi mà
nguồn lực tài chính và nguồn lực vật chất còn hạn hẹp. Xuất phát từ mục
tiêu lợi ích của các doanh nghiệp Việt Nam với việc nghiên cứu về thuyết
quản lý của trường phái “Quan hệ con người’’ và sự vận dụng vào các doanh
nghiệp Việt Nam, để tìm ra những mặt được và chưa được từ đó đưa ra
những giải pháp hoàn thiện hơn nhằm thúc đẩy hoạt động của các doanh
nghiệp Việt Nam. Đó là việc làm cần thiết cho giai đoạn phát triển hiện nay.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status