MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
NỘI DUNG 2
1. Nghiên cứu khoa học biển là gì? 2
2. Quyền tự do nghiên cứu khoa học biển 2
a. Theo quy định của UNCLOS 1982 2
b. Theo quy định của Luật biển Việt Nam 2012 3
3. Đánh giá quy định của UNCLOS 1982 và Luật biển Việt Nam 2012 về quyền tự do
nghiên cứu khoa học biển 4
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 4
MỞ ĐẦU
Việt Nam cũng như các quốc gia khác trên thế giới đánh giá cao Công
ước luật biển quốc tế năm 1982 (UNCLOS). Nó như một Công ước khung
1
quan trọng nhất, thiết lập một trật tự pháp lý mới công bằng trên biển, bảo
đảm tốt nhất quyền lợi biển của các quốc gia ven biển và các quốc gia khác,
mà một trong số đó là quyền tự do nghiên cứu khoa học biển. Để hiểu rõ hơn
về vấn đề này, thì việc phân tích những quy định của Công ước Luật biển
1982 cũng như Luật biển Việt Nam 2012 về quyền tự do nghiên cứu khoa học
biển là hết sức quan trọng và cần thiết.
NỘI DUNG
1. Nghiên cứu khoa học biển là gì?
Có thể hiểu nghiên cứu khoa học biển là hoạt động tìm kiếm, xem xét,
điều tra, hoặc thử nghiệm,… để từ đó phát hiện ra những cái mới về biển cũng
như các vùng ven biển và ứng dụng nó vào trong các hoạt động thực tiễn của
con người trên biển (như nghiên cứu hải dương học vật lý và hóa học, sinh
học biển, địa chất và địa lý biển, nghiên cứu thủy sản, khoan lấy mẫu lõi đại
dương và khoa học cũng như các hoạt động khác trên biển với mục đích khoa
học…).
2. Quyền tự do nghiên cứu khoa học biển
a. Theo quy định của UNCLOS 1982
(vùng lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa), quyền tự do nghiên
cứu khoa học biển bị hạn chế, do tính chất chủ quyền và quyền chủ quyền.
Các quốc gia ven biển có đặc quyền quy định, cho phép và tiến hành các công
tác nghiên cứu khoa học biển ở trong vùng biển của mình. Công tác nghiên
cứu khoa học biển chỉ được tiến hành với sự thỏa thuận rõ ràng của quốc gia
ven biển (Điều 245, Điều 246). Tuy vậy, hầu như trong tất cả mọi trường
hợp, quốc gia ven biển có trách nhiệm đồng ý với đề nghị của các quốc gia
khác khi việc nghiên cứu được tiến hành vì mục đích hoà bình và đã thực hiện
một số điều kiện chi tiết.
b. Theo quy định của Luật biển Việt Nam 2012
Quyền tự do nghiên cứu khoa học biển tại các vùng biển của Việt Nam
chưa được Luật biển Việt Nam 2012 ghi nhận. Theo Điều 36 Luật biển Việt
Nam 2012, việc nghiên cứu khoa học biển của tàu thuyền, tổ chức, cá nhân
3
nước ngoài tiến hành nghiên cứu khoa học trong vùng biển Việt Nam phải có
giấy phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam, chịu sự giám
sát của phía Việt Nam, bảo đảm cho các nhà khoa học Việt Nam được tham
gia và phải cung cấp cho phía Việt Nam các tài liệu, mẫu vật gốc và các kết
quả nghiên cứu liên quan.
3. Đánh giá quy định của UNCLOS 1982 và Luật biển Việt Nam 2012 về
quyền tự do nghiên cứu khoa học biển
UNCLOS 1982 đã quy định quyền tự do nghiên cứu khoa học biển để
tạo điều kiện thuận lợi cho mọi quốc gia trên thế giới (dù có biển hay không
có biển) cũng như các tổ chức có thẩm quyền có thể tiến hành nghiên cứu
khoa học biển thuận lợi. Điều này tạo sự công bằng cho mọi quốc gia trong
lĩnh vực nghiên cứu khoa học biển, đồng thời tạo cơ hội cho các quốc gia
không có biển có thể tham gia vào công cuộc nghiên cứu khoa học, hạn chế
sự thiệt thòi không có biển của quốc gia đó. Đặc biệt quyền tự do nghiên cứu
khoa học biển ở Vùng và Biển cả được tiến hành tuyệt đối, không chịu sự
kiểm soát của bất cứ quốc gia nào, trong điều kiện không làm phương hại