ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
BỘ MÔN: TÀI CHÍNH TIỀN TỆ
Lớp KI 03, 04 – K35
Tiểu luận:
THUẾ THU NHẬP
CÁ NHÂN TẠI
VIỆT NAM:
THỰC TRẠNG VÀ
GIẢI PHÁP
DANH SÁCH CÁC THÀNH VIÊN CỦA NHÓM:
1. Nguyễn Thị Hiểu – KI04
Thực hiện: Phần mở đầu và chương 1
2. Phạm Thị Minh Trang – KI04
Thực hiện: chương 2
3. Nại Thị Ngọc Diễm – KI04
Thực hiện: chương 3
4. Nguyễn Ngọc Tường Vi – KI03
Thực hiện: chương 4
5. Nguyễn Quang Minh Trân – KI04
Thực hiện: chương 5 và phần kết luận
2
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU....................................................................................4
CHƯƠN G I: MỘT SỐ KHÁI NIỆM VỀ THUẾ...................................6
CHƯƠNG II: KHÁI NIỆM THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN.................10
CHƯƠNG III: HỆ THỐNG QUẢN LÝ THUẾ TNCN Ở VIỆT NAM..18
CHƯƠNG IV: THỰC TRẠNG THUẾ TNCN Ở VIỆT NAM.............27
CHƯƠNG V: KẾT QUẢ VÀ MỘT SỐ BIỆN PHÁP ĐỀ RA..............45
KẾT LUẬN.........................................................................................57
3
PHẦN MỞ ĐẦU
trọng. Nó đã ra đời tương đối sớm ở các nước phát triển và ngày nay thì phát
triển rộng rãi ở hầu hết các quốc gia trên thế giới. Sự phát triển của nó đồng
hành với sự phát triển của nền kinh tế và ngày càng khằng định được vai trò,
chức năng là một nguồn thu quan trong trong ngân sách nhà nước và là công
cụ góp phần đảm bảo công bằng xã hội một cách đắc lực. Chính vì vậy, việc
nghiên cứu và hoàn chỉnh pháp lệnh thuế thu nhập cá nhân, đồng thời sớm
xây dựng thành Luật thuế thu nhập cá nhân là một việc làm cần thiết từ bây
giờ.
Bởi vậy, mong muốn được tìm hiểu và nghiên cứu sâu hơn về thuế, đặc
biệt là về thuế thu nhập các nhân, nhóm em đã chọn đề tài: “ Thuế thu nhập
cá nhân và thực trạng ở Việt Nam ”.
5
CHƯƠNG I:
TÌM HIỂU CHUNG VỀ HỆ THỐNG THUẾ CỦA VIỆT NAM
1. Khái niệm chung về thuế:
Hiện nay, có nhiều cách hiểu khác nhau về thuế, vì thế chúng ta vẫn
chưa có một khái niệm thống nhất về thuế. Một khái niệm về thuế được coi
là hoàn hảo nhất được nêu trong cuốn “ economics” của hai nhà kinh tế học
của Mỹ ( Makkollhell và Brury) như sau: “ thuế là một khoản chuyển giao
bắt buộc bằng tiền hoặc chuyển bằng hàng hóa, dịch vụ của công ty và các
hộ gia đình cho chính phủ, mà trong sự trao đổi đó họ không được nhận trực
tiếp hàng hóa, dịch vụ nào cả, khoản nộp đó không phải là khoản tiền phạt
mà tòa án phạt do hành vi vi phạm pháp luật.
Các định nghĩa về thuế có thể khác nhau về cách hiểu nhưng nhìn
chung trong các cách hiểu đấy thuế là nguồn thu và ngân sách nhà nước
mang tính bắt buộc, gắn với quyền lực của nhà nước và người nộp thuế đóng
góp bắt buộc theo luật thuế mà không được hoàn trả trực tiếp nhằm đáp ứng
nhu chi tiêu của nhà nước.
2. Hệ thống thuế của nước ta:
Hệ thống thuế của nước ta bao gồm nhiều sắc thuế mà nhà nước swe
b. Phân loại theo đối tượng đánh thuế:
Thuế thu nhập như: thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh
nghiệp…
Thuế tài sản như: thuế sử dụng tài sản nhà nước( thuế sử dụng đất nông
nghiệp, thuế tài nguyên...) thuế chuyển nhượng tài sản( thuế chuyển giao
quyền sử dụng đất, thuế mua, bán các tài sản như nhà, xe cộ…)
7
Thuế tiêu dung đánh vào hàng hóa, dịch vụ lưu thông trên thị trường
trong nước và xuất khẩu như thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế
nhập khẩu, thuế xuất khẩu…
4. Các yếu tố cấu thành một sắc thuế bao gồm:
Tên gọi của thuế: bất kì một loại thuế nào cũng có tên gọi; tên gọi của
thuế xác định nội dung kinh tế của thuế. Thông thường người ta dựa vào đối
tượng đánh thuế để đặt tên cho một sắc thuế. Ví dụ: thuế thu nhập doanh
nghiệp, thuế giá trị gia tăng… Tên gọi của thuế cần ngắn gonk dễ hiểu, phản
ánh được mục tiêu của thuế, từ dung mang tính phổ thông.
Đối tượng nộp thuế: người nộp thuế được qui định rõ rang trong luật
thuế.
Đối tượng chịu thuế: là người phải gánh chịu khoản thuế, là người gánh
chịu sau cùng khoản thuế phải nộp cho ngân sách nhà nước.
Đối tượng đánh thuế: là các khách thể của luật thuế, là những thu nhập,
tài sản, hàng hóa mà một luật thuế nhất định tác động vào. Đối tượng đánh
thuế là mục tiêu tác động của thuế.
Căn cứ tính thuế: là những yếu tố mà người thu thuế dựa để tính số tiền
thuế phải nộp. các loại thuế khác nhau thì có cách tính khác nhau. Khi càn
xem xét căn cứ tính thuế thì cần xem xét các yếu tố sau đây:
+ Thuế suất: là phần thuế phải nộp trên mỗi đơn vị của đói tượng đánh
thuế.
+ Đợn vị tính thuế: là đơn vị được sử dụng làm phương tiện tính toán
của đối tượng đánh thuế.
chia thu nhập làm hai loại: thu nhập thường xuyên và thu nhập không
thường xuyên để tính thuế cho phù hợp. Lần đầu tiên ở Anh vào năm 1799
thuế thu nhập cá nhân được đưa vào thực hiện như một hình thức thu tạm
thời nhằm mục đích trang trải cho cuộc chiến tranh chống Pháp và được
chính thức áp dụng vào năm 1942. Sau đó nhiều nước tư bản phát triển khác
cũng áp dụng thuế này như: ở Nhật năm 1887, Ðức 1899, Mỹ 1903, pháp
1916 và Liên Xô năm 1922.
2. Đặc điểm:
Thuế thu nhập cá nhân là lại thuế trực thu đánh vào thu nhập chính
đáng của từng cá nhân. Do là thuế trực thu nên nó phản ánh sự đồng nhất
giữa đối tượng nộp thuế theo luật và đối tượng chịu thuế theo ý nghĩa kinh
tế. Người chịu thuế thu nhập cá nhân không có khả năng chuyển giao gánh
nặng thuế khoá sang cho các đối tượng khác tại thời điểm đánh thuế.
Thuế TNCN có diện đánh thuế rất rộng, thể hiện trên hai khía cạnh:
một là đối tượng đánh thuế TNCN là toàn bộ các khoản thu nhập của cá
nhân thuộc diện đánh thuế không phân biệt thu nhập đó có nguồn gốc phát
sinh trong nước hay ở nước ngoài; hai là đối tượng phải kê khai nộp thuế
TNCN là toàn bộ những người có thu nhập, bao gồm tất cả công dân của
nước sở tại và những người nước ngoài cư trú thường xuyên hay không
thường xuyên nhưng có số ngày có mặt, làm việc, có thu nhập theo mức độ
quy định của pháp luật thuế TNCN.
10
Thuế TNCN là một loại thuế thu nhập nhưng khác với thuế Thu
nhập doanh nghiệp ở chỗ nó có tính tất yếu gắn với chính sách xã hội của
mỗi quốc gia cho dù quốc gia đó có mục tiêu hoàn thiện chính sách thuế, xây
dựng một chính sách thuế có tính trung lập không nhằm nhiều mục tiêu khác
nhau. Thể hiện, nó luôn quy định loại trừ một số khoản thu nhập trước khi
tính thuế TNCN như thu nhập mang tính trợ cấp xã hội, khoản chi cần thiết
cho cuộc sống cá nhân, gia đình người nộp thuế, khoản chi mang tính nhân
đạo xã hội
thu nhập cá nhân. Sau khi có Nghị định của Chính phủ hướng dẫn thi hành
thì sẽ có thể có các Thông tư của Bộ tài chính hướng dẫn chi tiết hơn. Các
thông tư số 81 và 12 sẽ đồng thời hết hiệu lực thi hành kể từ ngày
01/01/2009.
Do tại thời điểm viết bài này Luật thuế TNCN chưa có hiệu lực thi
hành nên người viết chủ yếu dẫn chứng các quy định tại Pháp lệnh số 14,
thông tư 81 và thông tư 12, các thay đổi được điều chỉnh từ ngày
01/01/2009.
b. Vai trò của thuế thu nhập cá nhân trong xã hội:
- Góp phần tăng nguồn thu cho ngân sách Nhà nước:
Sự giảm dần các loại thuế xuất nhập khẩu do yêu cầu tự do hóa thương
mại nên thuế thu nhập cá nhân ngày càng trở thành nguồn thu quan trọng
cho ngân sách Nhà nước. Nền kinh tế nước ta ngày càng phát triển, thu nhập
bình quân đầu người của cá nhân ngày càng tăng từ đó thuế thu nhập cá
nhân sẽ góp phần quan trọng vào việc tăng thu cho ngân sách Nhà nước.
Thực tế tỷ trọng thu thuế TNCN trong tổng thu ngân sách của nhiều
quốc gia đã phản án,h tiến trình đó, tại các nước khối ASEAN: 5-10%, các
nước phát triển có tỷ trọng 15-16% có nước đạt tới tỷ trọng 30- 40% như
Anh, Mỹ. Tại Việt Nam, mới tiếp cận chính sách thu và còn phân tán ở
nhiều sắc thuế nhưng cũng đã có kết quả tăng trưởng thu khá lớn trong
những năm gần đây: năm 1991 thu theo chính sách thuế thu nhập đối với
người có thu nhập cao là 62 tỷ, thì đến năm 2000 thu được 1.832 tỷ và đến
12
năm 2005 số thu đã đạt 8.300 tỷ. Tuy vậy tỷ trọng thu cũng mới chỉ đạt
khoảng 5% tổng thu ngân sách.
- Góp phần thực hiện công bằng xã hội:
Thông thường, thuế thu nhập cá nhân chỉ đánh vào thu nhập cao hơn
mức khởi điểm thu nhập chịu thuế, không đánh thuế vào những cá nhân có
thu nhập vừa đủ nuôi sống bản thân và gia đình ở mức cần thiết. Thêm vào
đó khi thu nhập cá nhân tăng lên thì tỷ lệ thu thuế cũng tăng thêm. Ở nhiếu
cầu thủ bóng đá; vận động viên chuyên nghiệp có xác nhận của cơ quan
quản lý Nhà nước chuyên ngành, được trừ 25% thu nhập khi xác định thu
nhập chịu thuế
Thu nhập thường xuyên chịu thuế được tính như sau:
Công dân Việt Nam ở trong nước hoặc đi công tác, lao động ở nước
ngoài, cá nhân khác định cư tại Việt Nam: lấy tổng thu nhập nhận được
trong năm kể cả thu nhập phát sinh ở nước ngoài chia 12 tháng (theo năm
dương lịch).
Người nước ngoài được coi là cư trú tại Việt Nam nếu ở tại Việt Nam
từ 183 ngày trở lên: lấy tổng thu nhập nhận được trong năm bao gồm thu
nhập phát sinh tại Việt Nam và thu nhập phát sinh ngoài Việt Nam chia cho
12 tháng.
Người nước ngoài ở tại Việt Nam dưới 183 ngày thì được coi là không
cứ trú ở Việt Nam, trong trường hợp này thu nhập thường xuyên chịu thuế là
tổng thu nhập phát sinh tại Việt Nam trong thời gian đó.
Thu nhập không thường xuyên.
Thu nhập không thường chịu thuế là số thu nhập của từng cá nhân
trong từng lần phát sinh thu nhập nằm trong mức giới hạn phải nộp thuế thu
nhập do biểu thuế quy định.
b. Thuế suất.
Ðối với thu nhập thường xuyên.
Thuế thu nhập đối với thu nhập thường xuyên được áp dụng biểu thuế
suất lũy tiến từng phần có phân biệt giữa người Việt Nam và người nước
ngoài. Biểu thuế chia thành các nhóm sau:
Ðối với công dân Việt Nam và cá nhân khác định cư tại Việt Nam,
thuế thu nhập theo biểu thuế lũy tiến từng phần như sau:
14
Ðối với công dân Việt Nam và cá nhân khác định cư tại Việt
Nam, thuế thu nhập theo biểu thuế lũy tiến từng phần như sau:
Bậc
tại khoản 2 Điều 13 của Luật này
0,1
e) Thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản quy định
tại khoản 1 Điều 14 của Luật này
25
Thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản quy định
tại khoản 2 Điều 14 của Luật này
2
15
Riêng đối với người nước ngoài cư trú tại Việt Nam dưới 183 ngày
trong năm tính thuế thì áp dụng thuế suất thống nhất là 25 % trên tổng số thu
nhập.
Trường hợp công dân Việt Nam trong năm vừa có thời gian làm
việc ở trong nước, vừa có thời gian làm việc ở nước ngoài thì thu nhập chịu
thuế bình quân tháng được xác định bằng tổng thu nhập phát sinh ở trong
nước và ở nước ngoài chia cho 12 tháng, hoặc xác định theo thu nhập chịu
thuế bình quân tháng tính cho thời gian ở trong nước, thời gian ở nước ngoài
Ðối với thu nhập không thường xuyên.
i.) Đối với thu nhập về chuyển giao công nghệ là khoản thu nhập có giá
trị trên 15 triệu đồng tính cho từng hợp đồng, không phân biệt số lần chi trả;
ii.) Đối với thu nhập về trúng thưởng xổ số dưới các hình thức, kể cả
trúng thưởng khuyến mại là khoản thu nhập có giá trị trên 15 triệu đồng tính
cho từng lần trúng thưởng và nhận giải thưởng.
c. Thuế thu nhập cá nhân và Hiệp định tránh đánh thuế hai lần.
Hiệp định tránh đánh thuế trùng mà Chính phủ Việt Nam ký với
Chính phủ một số nước có tác dụng đối với việc nộp thuế thu nhập cá nhân
tại Việt Nam của người nước ngoài như sau:
Hiệp định tránh đánh thuế trùng mà Việt Nam ký với các nước có tác
dụng tránh đánh thuế trùng thuế thu nhập cá nhân của người nước ngoài có
thu nhập tại Việt Nam. Trường hợp người nước ngoài đã nộp thuế thu nhập
được thoái trả số thuế được miễn, giảm bằng cách trừ vào số thuế phải nộp
kỳ sau hoặc được cơ quan ủy nhiệm thu trả lại tiền thuế đã khấu trừ theo
quyết định của cơ quan thuế.
17
CHƯƠNG III:
HỆ THỐNG QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN Ở VIỆT
NAM
1. Khái niệm công tác quản lý thuế TNCN :
Quản lý thuế TNCN là sự tác động có chủ đích của cơ quan chức năng
trong bộ máy nhà nước đối với quá trình tính và thu thuế TNCN để thay đổi
quá trình này nhằm tạo nguồn thu cho ngân sách và đạt được các mục tiêu
nhà nước đặt ra.
Công tác quản lý thuế TNCN nhằm đạt được các mục tiêu sau:
Tăng cường tập trung, huy động đầy đủ và kịp thời số thu cho ngân
sách nhà nước trên cơ sở không ngừng nuôi dưỡng và phát triển nguồn
thu.Thuế TNCN chiếm tỉ trọng chủ yếu trong số thu ngân sách nhà nước ở
hầu hết các quốc gia trên thế giới.Vì vậy, làm tốt công tác quản lý thuế thu
nhập nói chung và TNCN nói riêng sẽ có tác dụng lớn trong việc tập trung,
huy động đầy đủ và kịp thời số thu cho ngân sách nhà nước.
Góp phần tăng cường ý thức chấp hành pháp luật cho các tổ chức kinh
tế và dân cư.
Phát huy tốt nhất vai trò của thuế TNCN trong nề kinh tế
2. Nội dung công tác quản lý thuế TNCN
Công tác quản lý là 1 phần quan trọng của quản lý tài chính nhà nước,
công tác này cần được nhìn nhận ở tầm vĩ mô và phải bao gồm toàn bộ các
công việc thuộc các lĩnh vực lập pháp , hành pháp , tư pháp về thu.
a. Ban hành chính sách thuế TNCN
Đây là công việc thuộc lĩnh vực lập pháp.Việc ban hành chính sách
thuế TNCN sẽ tạo ra những quy định pháp luật làm cơ sở để tính và thu
thuế.Đồng thời, ban hành chính sách cũng đưa ra những căn cứ để kiểm tra,
• Đối tượng nộp thuế:
Thuế TNCN thuộc loại thuế trực thu nên đối tượng chịu thuế cũng đồng
thời là đối tượng nộp thuế.Xác định đối tượng nộp thuế là một trong những
nội dung quan trọng của thuế TNCN, từ đó mới có thể vận dụng cách tính
19
thuế cho phù hợp. Khi tiến hành xác định đối tượng nộp thuế , người ta
thường dựa vào hai tiêu thức là “nơi cư trú” và “nguồn phát sinh thu nhập”.
• Đối tượng tính thuế:
Việc xác định đối tượng tính thuế là 1trong những vấn đề quan trọng
hàng đầu được đề cập đến trong chính sách thuế TNCN của các nước. Căn
cứ vào đó, người ta có thể thấy rằng loại thuế TNCN mà từng nước cụ thể áp
dụng có công bằng không, thuế này tạo được nguồn thu như thế nào cho
ngân sách nước đó. Đối tượng tính thuế ở đây là một số khoản thu nhập nằm
trong trong diện tích thuế TNCN theo quy định trong chính sách thuế TNCN
của từng quốc gia. Để tính được thuế TNCN cá nhân phải nộp trước tiên
phải xác định những khoản thu nhập nào là đối tượng tính thuế và tính toán
thu nhập đó như thế nào. Sau đó , căn cứ vào 1 số quy định khác trong chính
sách thuế như các khoản miễn giảm, khấu trừ…cơ quan thuế xác định được
thu nhập tính thuế, từ thu nhập tính thuế và thuế suất sẽ xác định thuế phải
nộp.
• Các phương pháp tính thuế TNCN:
Thông thường, thuế TNCN được chia làm 2 loại riêng biệt : thuế
TNCN theo khoản và thuế TNCN tổng hợp.
+ Thuế thu nhập cá nhân theo khoản: là thuế được xác định theo từng
nguồn thu nhập. Ứng với mỗi nguồn thu nhập khác nhau. Do đó, tổng số
thuế phải nộp chính là tổng số thuế thu nhập mà họ phải nộp theo từng
nguồn. Thuế TNCN theo khoản này tồn tại với 2 nguyên tắc: tính thuế độc
lập và có phân biệt thuế suất với các loại thu nhập khác nhau. Từ đó, nó cho
phép điều chỉnh tăng giảm mức đóng góp về thuế tùy theo nguồn gốc thu
nhập , có sự phù hợp giữa kỹ thuật tính thuế với đặc điểm của mỗi loại thu
• Về miễn, giảm thuế TNCN
Các nước cũng có quuy định về vấn đề này tùy theo trình độ phát triển
kinh tế-xã hội của từng quốc gia.
Ví dụ như Mỹ quy định “suất miễn giảm thu nhập” cho người nộp thuế
trong trường hợp này phải chứng minh được rằng mình phải cung cấp quá
nửa sự hỗ trợ cho cá nhân ăn theo thì sẽ được miễn thu 3250 USD/năm. Mức
này được xác định theo tỷ lệ lạm phát từng năm có dự điều chỉnh.
c. Công tác tổ chức thực hiện chính sách thuế TNCN
21
Sau khi đã được phê chuẩn và ban hành, chính sách thuế TNCN được
tổ chức thực hiện. Đây là khâu đóng vai trò quan trọng nhất quyết định của
việc sử dụng công cụ thuế. Nhờ việc tổ chức thực hiện chính sách thuế và
quá trình tính, thu thuế mới diễn ra trong thực tế, đồng thời các quy định về
quá trình này mới đến được với mọi người dân thông qua tuyên truyền, phổ
biến chính sách thuế. Nội dung tổ chức thực hiện chính sách thu nhập cá
nhân bao gồm:
• Tuyên truyên, phổ biến chính sách thuế
Ngoài những quy định trong văn bản pháp quy có được hoàn hảo hay
không thì sự thành công việc thực hiện các chính sách thuế còn phụ thuộc rất
lớn vào sự hiểu biết sâu sắc và ý thức chấp hành nghiêm túc của cán bộ thuế
cũng như người nộp thuế. Để nội dung của chính sách thuế đến với mọi
người dân trong xã hội,cơ quan thuế cần phải tiến hành công tác tuyên
truyền, phổ biến về chính sách thuế. Công tác này cần phải được thực hiện
trước hết từ cán bộ thuệ, sau đó tới mọi người dân.
• Tiến hành tổ chức quản lý thu thuế
Muốn thực hiện tốt công tác quản lý thuế TNCN , cần phải xây dựng
một đội ngũ cán bộ thuế chuyên trách được đào tạo chuyên sâu trong công
tác quản lý thu thuế TNCN. Đội ngũ này cần phải được tổ chức 1 cách thống
nhất, đồng bộ và có khoa học. Nếu làm được điều này, chúng ta sẽ vừa tiết
kiệm được chí phí cho công tác quản lý thu thuế đồng thời vẫn đảm bảo thực
a. Quan điểm của tầng lớp lãnh đạo nhà nước .
Quan điểm của tầng lớp lãnh đạo có ảnh hưởng trước hết tới các chính
sách thuế TNCN, sau đó là tới quá trình thực hiện và các công việc khác
thuộc phạm vi quản lí sắc thuế này.
Pháp luật thể hiện quan điểm của giai cấp thống trị.Luật thuế nói chung
và thuế thu nhập nói riêng cũng không ngoại lệ.Một ví dụ cho điều này là sự
đánh đổi giữa công bằng và hiệu quả kinh tế. Nhìn chung, trong quá trình
thực hiện công bằng, xã hội phải chịu sự giảm sút của những hoạt động
đang đạt hiệu quả kinh tế. Trong khi cố gắng chuyển một phần thu thu thập
của cá nhân X có thu nhập cao sang cho cá nhân Y có thu nhập thấp hơn,
hiệu quả kinh tế sẽ giảm sút do những lý do sau:
23
Cá nhân X đang tiến hành những hoạt động mang lại hiệu quả kinh tế
còn cá nhân Y thì không. Khi cá nhân X phải nộp thuế thu nhập với thuế
suất lũy tiến, anh ta sẽ lựa chọn giữa đi làm và nghỉ ngơi để tối đa hóa lợi
ích của mình. Thuế suất lũy tiến đối với thuế thu nhập đã làm cho lợi ích do
một giờ đi làm mang lại ngày càng nhỏ hơn đi còn lợi ích của một giờ ngỉ
ngơi vẫn không đổi. Vô hình chung, anh ta sẽ được giảm giờ làm, tăng nghỉ
ngơi để tối đa hóa lợi ích của mình.
Bên cạnh đó, với thu nhập nhận được tăng thêm từ cá nhân X, cá nhân
Y sẽ không thực hiện được những hoạt động mang lại hiệu quả cao như vậy.
Một nhà nước chú trọng công bằng hơn hiệu quả kinh tế sẽ có chính
sách điều tiết mạnh vào người có thu nhập cao, mức thuế suất sẽ tăng rất
nhanh theo lượng thu nhập tăng thêm. Điều này thông thường sẽ làm giảm
nỗ lực làm việc của cá nhân có thu nhập cao. Nhìn chung , hiệu quả kinh tế
sẽ giảm.
b. Cơ sở vật chất của ngành thuế .
Nhân tố này có ảnh hưởng mạnh mẽ tới công tác quản lý thuế THCN.
Những quy định trong chính sách về diện thu thuế (rộng hay hẹp) , phương
thức kê khai, nộp thuế, quyết toán thuế…phụ thuộc rất nhiều vào khả năng
thuế cũng sẽ thực hiện nghiêm túc hơn các quy định trong luật thuế bởi họ
biết rằng khi vi phạm họ sẽ không tránh khỏi những hình phạt nếu bị phát
hiện. Như vậy, công tác quản lý thuế TNCN sẽ đạt hiệu quả hơn.
f. Tình hình kinh tế và mức sống của người dân.
Hiệu quả của công tác quản lý thuế TNCN phụ thuộc không nhỏ vào
mức độ phát triển kinh tế và đời sống của dân cư. Cùng một đơn vị thu thuế
trên một khu vực, số đối tượng nộp thuế TNCN sẽ giảm bớt chi phí trên 1
đồng thuế thu được, và ngược lại. Sự phát triển kinh tế sẽ đồng hành với sự
phát triển của cơ sở hạ tầng phục vụ cho quản lý nói chung và công tác quản
lý thuế TNCN nói riêng. Khi cơ sở hạ tầng tốt thì khả năng quản lý thuế
cũng sẽ được đơn giản và hiệu quả.
g. Ý thức chấp hành luật thuế của đối tượng nộp thuế.
Ý thức chấp hành pháp luật nói chung và pháp luật thuế nói riêng tỉ lệ
thuận với ý thức và trách nhiệm nộp thuế. Khi người dân có ý thức chấp
hành luật thuế tốt, họ sẽ tự giác trong kê khai, nộp thuế. Hanh vi trốn thuế sẽ
25