Website: Email : Tel : 0918.775.368
LỜI NÓI ĐẦU
Việt Nam đang đi trên con đường đổi mới và hội nhập với nền kinh tế thế
giới. Những quy luật kinh tế khách quan và tất yếu đang từng giờ, từng phút
điều chỉnh nền kinh tế toàn cầu, nền kinh tế của từng khu vực, từng quốc gia và
bản thân mỗi chúng ta. Quá trình mở cửa, hội nhập kinh tế trong khu vực tiến
đến toàn cầu hoá nền kinh tế đang dần chứng tỏ là một quy luật của loài người
tiến bộ. Để bắt kịp với quá trình này thì mỗi quốc gia phải liên tục có những cải
cách nhằm làm phù hợp và thích nghi với môi trường bên ngoài. Trong công
cuộc cải cách đó, cải cách về thuế luôn đươc các quốc gia chú trọng.
Đối với Việt Nam trong thời gian tới sau khi Việt Nam được gia nhập WTO
thì những biến đổi về cơ cấu thuế và nguồn thu ngân sách sẽ là một điều không
thể tránh khỏi. Thuế là một vấn đề nhạy cảm ở khắp mọi nơi trêdn thế giới
không riêng gì Việt Nam, thế nhưng tính trên dân số 82 triệu đa số người dân chỉ
quen trả thuế gián thu qua tiêu sài mua hàng hoá, ít người phải đóng thuế lợi tức.
Chính vì thế liên tiếp nhiều ngày qua, báo chí đưa lên mạng rất nhiều bài tường
thuật liên quan đến bản dự thảo luật thuế thu nhập cá nhân vừa được bộ tài chính
công bố ngày 05/09/2006. Dĩ nhiên đây mới chỉ là một dự thảo dự kiến sẽ được
hoàn chỉnh lần chót để chuyển qua quốc hội xem xét thông qua vào năm 2007,
và hiệu lực thi hành từ năm 2009.
Trong thời gian gần đây hệ thống thuế nước ta đã có rất nhiều thay đổi nhằm
thích nghi với điều kiện mới. Pháp lệnh thuế thu nhập cá nhân ra đời năm 1991,
cho đến nay qua năm lần sửa đổi, bổ sung và hiện nay chính phủ đang nghiên
cứu nhằm xây dựng thành Luật thuế thu nhập cá nhân là một trong những minh
chứng cho công cuộc cải cách thuế của Việt Nam.
Thuế thu nhập cá nhân là một sắc thuế trực thu có vai trò hết sức quan trọng.
Nó đã ra đời tương đối sớm ở các nước phát triển và ngày nay thì phát triển rộng
rãi ở hầu hết các quốc gia trên thế giới. Sự phát triển của nó đồng hành với sự
phát triển của nền kinh tế và ngày càng khằng định được vai trò, chức năng là
một nguồn thu quan trong trong ngân sách nhà nước và là công cụ góp phần đảm
1
nhằm mục đích cung cấp nguồn tài chính cho cuộc nội chiến. Thuế TNCN xuất
hiện ở Nhật năm 1887, ở Trung Quốc năm 1936 còn ở Hàn Quốc năm 1974.
1.1.2 Đặc điểm của thuế TNCN:
● Thu nhập chịu điều tiết của thuế sẽ căn cứ vào cụ thể nguồn gốc phát sinh
của các khoản thu nhập và căn cứ vào đặc điểm cư trú hay một số đặc điểm khác
tuỳ theo luật của từng nước.
● Do đối tượng nộp thuế đồng thời cũng chính là đối tượng chịu thuế nên
thuế TNCN được xếp vào loại thuế trực thu.
Không giống các loại thuế gián thu (như thuế tiêu dùng…) khoản thuế
được tính sẵn trong giá thanh toán nên nó không ảnh hưởng nhiều đến tâm lý
người mua về khoản thuế mình phải nộp. Thuế trực thu có thể hiểu bóng bẩy là
nhà nước trực tiếp thò tay vào túi chúng ta và lấy tiền của ta ra, điều đó chắc
chắn có ảnh hưởng mạnh về tâm lý của người nộp thuế. Chính vì vậy mỗi khi
chính phủ có những thay đổi trong chính sách thuế TNCN như việc điều chỉnh
thuế suất hay thay đổi pham vi các đối tượng được miễn giảm thuế thì đều gây
ra những phản ứng mạnh mẽ trong dân cư.
●Thuế TNCN thông thường là loại thuế luỹ tiến.
Các nước thường xây dựng một biểu thuế luỹ tiến, các bậc ứng với mức
thu nhập càng cao thì mức thuế suất biên càng cao. Do đó những người có thu
3
Website: Email : Tel : 0918.775.368
nhập càng cao thì phải chịu mức thuế đóng góp cao hơn so với những người có
mức thu nhập thấp hơn. Nó góp phần đảm bảo tính công bằng trong xã hội (công
bằng ở đây là công bằng theo chiều dọc). Khoảng cách tương đối giữa các bậc
thuế suất sẽ quyết định tính chất luỹ tiến mạnh hay yếu của biểu thuế.
• Thuế TNCN là một loại thuế phức tạp và mang tính trung lập đối với cơ
cấu kinh tế:
Do đặc điểm là điều tiết lên thu nhập của dân cư, phạm vi điều chỉnh rất
rộng nên việc quản lý đối loại thuế này là hết sức khó khăn. Nó dễ gây phản ứng
cho người nộp thuế. Đồng thờI do tính chất phân tán và động của đối tượng chịu
thu ngân sách nhà nước.
∗ Thuế TNCN góp phần đảm bảo tính công bằng và giảm bớt sự phân hoá
giàu nghèo trong xã hội.
Do đặc điểm của thuế là đánh trên thu nhập của các cá nhân cùng với tính
chất luỹ tiến của thuế TNCN đã thu hẹp được khoảng cách về thu nhập của các
cá nhân trong xã hội. Đây là quan điểm công bằng theo chiều dọc. Trên lý thuyết
đây là một loạI thuế rất ưu việt trong việc điều hoà thu nhập giữa người giàu và
người nghèo. Tuy nhiên trên thực tế nó vẫn còn gây rất nhiều tranh cãi giữa các
nhà kinh tế do bản thân việc đánh giá hiệu quả công bằng của một chính sách
thuế là một vấn đề rất khó khăn và trìu tượng. Bởi vậy nên ý nghĩa công bằng ở
đây chỉ mang tính chất tương đối, nó mang công bằng cho đại đa số một bộ phận
dân cư này nhưng lại không công bằng cho một bộ phận dân cư khác. Chính
sách thuế TNCN được xây dựng để mang lại sự công bằng cao nhất cho xã hội
trong điều kiện có thể, tất nhiên nó cũng cần đảm bảo các mục tiêu xã hội khác.
∗ Thuế TNCN góp phần tăng tỉ lệ tiết kiệm quốc gia, tạo điều kiện tăng đầu
tư và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Thuế TNCN là một công cụ để điều tiết giữa tiêu dùng và tiết kiệm, tránh
những tiêu dùng xa hoa mà thay vào đó là đầu tư vào tư bản và con ngườI, điều
đó sẽ góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế lâu dài. Tuy nhiên nếu mức thuế
TNCN quá cao sẽ dẫn đến tình trạng mất động lực của ngườI lao động hoặc
ngườI lao động sẽ chuyển qua những nước có mức thuế thu nhập nhỏ hơn để
5
Website: Email : Tel : 0918.775.368
làm việc. Do đó chúng ta cần có một mức thuế suất vừa phảI và hợp lý để đảm
bảo việc tăng tỉ lệ tiết kiệm quốc gia nhưng đồng thờI vẫn duy trì được nỗ lực và
động cơ làm việc của ngườI lao động.
∗ Thuế TNCN được các chính phủ của các nước sử dụng rộng rãi trong việc
điều hành chính sách tài khoá và các chính sách kinh tế khác.
Do thuế TNCN chiếm một phần lớn trong nguồn thu ngân sách nhà nước,
đồng thờI nó ảnh hưởng trực tiếp đến quyết định đầu tư và tiêu dùng của dân cư
ban nhiệm thu hay cơ quan chi trả thu nhập. Cách thứ hai là đốI tượng nộp thuế
sẽ trực tiếp kê khai thu nhập của mình và tự tính mức thuế mình phải nộp.
Thứ tư là việc phát hiện ra những bất cập, thiếu sót trong quy định về nộI
dung luật thuế cũng như trong công tác quản lý, kê khai nộp thuế. Qua đó cơ
quan thuế có thể kiến nghị lên cấp trên xem xét để từ đó có thể hoàn thiện tốt
hơn Luật thuế TNCN và công tác tổ chức quản lý thuế TNCN.
1.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng tới quản lý thuế TNCN:
1.2.2.1 Nội dung Luật thuế TNCN:
Muốn thực hiện tốt trước tiên Luật thuế phải thống nhất, chặt chẽ,
rõ ràng và dễ hiểu. Tránh những khe hở trong Luật thuế phòng trừ các đối tượng
lợi dụng trốn thuế.
1.2.2.2 Bộ máy thu thuế:
Đây là cơ quan chịu trách nhiệm tiến hành tính thuế và thu thuế đốI
vớ các đốI tượng có nghĩa vụ phảI nộp thuế. Hiệu quả hoạt động của bộ máy
hành thu phụ thuộc rất nhiều vào độI ngũ cán bộ thu thuế và cách thức tổ chức
đội ngũ này. Một đội ngũ có trình độ và nghiệp vụ tốt cộng vớI phẩm chất đạo
đức tốt là một điều kiện hết sức quan trọng đốI vớI bộ máy của cơ quan thuế.
1.2.2.3 Hệ thống tín dụng, ngân hàng và ứng dụng công nghệ thông tin:
Muốn có một hệ thống thu thuế phát triển thì sự phát triển của hệ
thống ngân hàng là điều không thể thiếu. Việc sử dụng tài khoản rộng rãi trong
dân cư, giảm bớt việc nắm giữ tìên mặt sẽ giúp cho cơ quan thu thuế bớt những
việc không cần thiết, đặc biệt trong công tác quản lý thu nhập thực cuả người
7
Website: Email : Tel : 0918.775.368
dân. Bên cạnh đó một hệ thống thanh toán điện tử hiện đạI cũng sẽ giảm bớt rất
nhiều chi phí và tăng hiệu quả cho công tác thu thuế.
1.2.2.4 Tình hình kinh tế, mức sống dân cư và trình độ dân trí:
Hiệu quả của công tác quản lý thu thuế TNCN phụ thuộc không nhỏ
vào mức độ phát triển kinh tế và đờI sống của dân cư. Sự phát triển của kinh tế
đồng hành vớI sự phát triển của cơ sở hạ tầng phục vụ cho công tác quản lý nói
hạn tại Việt Nam có thu nhập.
- Người nước ngoài làm việc tại Việt Nam kể cả người nước ngoài không sinh
sống ở Việt Nam nhưng có thu nhập phát sinh ở Việt Nam.
9
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Điểm mới trong dự thảo Luật thuế TNCN đưa cá nhân kinh doanh và chủ hộ
gia đình sản xuất, kinh doanh trong các lĩnh vực, ngành nghề hiện đang điều
chỉnh tại Luật thuế thu nhập doanh nghiệp vào đối tượng điều chỉnh của Luật
thuế TNCN.
2.1.2 Loại thu nhập phải chịu thuế và các khoản không thuộc diện chịu thuế,
miễn thuế, chưa thu thuế:
Loại thu nhập phải chịu thuế được chia làm hai loại:
• Thu nhập thường xuyên: Là những khoản phát sinh từ hoạt động chính
của người nộp thuế như: tiền lương , tiền công, tiền phụ cấp, tiền bản quyền,
nhuận bút…
Thuế tính trên thu nhập bình quân tháng trong năm tính thuế, được tam nộp
hàng tháng và quyết toán vào cuối năm hoặc cuối hạn hợp đồng.
• Thu nhập không thường xuyên: Là thu nhập không phát sinh từ hoạt động
chính, như: thu nhập vè chuyển giao công nghệ; trúng thưởng xổ số, trúng
thưởng khuyến mại…
Thuế được tính và nộp từng lần phát sinh.
Điểm mới trong dự thảo Luật thuế TNCN là:
- Đưa thu nhập thu nhập từ lợi tức cổ phần, lợi tức từ các hình thức góp vốn
kinh doanh, thu nhập từ chuyển nhượng vốn hiện đang tạm thời chưa thu vào
diện chịu thuế.
- Đưa thu nhập từ lãi tiền gửi tiết kiệm đang tạm thời chua thu vào diện chịu
thuế.
- Dự luật dự kiến thu thuế đối với thu nhập từ thừa kế và quà tặng đối với
tài sản thừa kế, quà tặng là cổ phiếu, trái phiếu, quyền sở hữu công ty; riêng đối
với tài sản là nhà, đất chỉ đưa vào diện chịu thuế trong trường hợp người đã có
bậc thu nhập bình quân
tháng/người
thuế
suất
1 0-5 0%
2 5-15 10%
3 15-25 20%
4 25-40 30%
5 >40 40%
Đối với người nước ngoài cư trú tại VN và công dân VN lao động, công tác ở
nước ngoài
Đơn vị tính: triệu đồng
bậc thu nhập bình quân
tháng/người
thuế
suất
1 0-8 0%
2 8-20 10%
3 20-50 20%
4 50-80 30%
5 >80 40%
Đối với ngườì nước ngoài không cư trú rại VN: Áp dụng thuế suất 25% tính trên
tổng thu nhập chịu thuế.
Đối với công dân VN nếu trong năm vừa có thu nhập trong nước, vừa có thu
nhập ở nước ngoài thì thuế suất áp dụng đối với thời gian ở trong nước theo biểu
thuế đối với người VN, thời gian ở nước ngoài theo biểu thuế đôi với người
nươc ngoài.
2.1.3.2 Đối với thu nhập không thường xuyên: thuế suất áp dụng đối với
tổng thu nhập chịu thuế:
Thứ hai: Biểu thuế suất toàn phần: Áp dụng đối với thu nhập từ đàu tư , thu
nhập từ chuyển nhượng vốn, thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản và cấc
khoản thu nhập khác. Thuế thu nhập đựoc tính và thu theo từng lần phát sinh thu
nhập.
Thu nhập chịu thuế Thuế suất
1. Thu nhập chịu thuế từ đầu tư vốn:
• Lãi cho vay, lợi tức cổ phần và lợi tức từ các hình
thức góp vốn kinh doanh khác.
• Lãi tiền gửi tiết kiệm vượt trên 5triệu đông/tháng
5%
2. Thu nhập chịu thuế từ chuyển nhượng vốn 25%
3. Thu nhập chịu thuế từ chuyển nhượng, chuyển đổi bất động
sản
25%
13
Website: Email : Tel : 0918.775.368
4 Thu nhập chịu thuế khác:
- Thu nhập chịu thuế từ tiền bản quyền vượt trên 10triệu
đồng/lần phát sinh thu nhập.
- Thu nhập chịu thuế từ trúng thưỏng xổ số, khuyến mại, trò
chơi, có thường vượt trên 10 triệu đồng/ giải thưởng.
- Thu nhập từ thừa kế, quà tặng vượt trên 10triệu đồng/ lần
phát sinh thu nhập.
5%
10%
10%
Việc áp dụng các mức thuế suất như trên là vì các lí do:
Để kiếmoát thu nhập và động vien một phàncho nhân sách nhà nước, Dự
luật quy định áp dụng là 10% trên phần thu nhập vượt ngưỡng là 10triệu
đồng.
Kê khai, thu nộp: Nguyên tắc khấu trừ tại nguồn: cơ quan chi trả thu thu nhập
có nghĩa vụ khấu trừ tiền thu thúe trước khi chi trả thu nhậpc cho đối tượng
nộp thuế để nộp thay tiền thuế vào ngân sách nhà nước
Cá nhân có thu nhập chịu thuế cỏ trách nhiệm kê khai,thuế đầy đủ , đungs
thời hạn hành năm thực hiện quyết toán thuế đối với thu nhập thường xuyên
theo quy định của bộ tài chính.
Điểm mới trong dự thảo luật thuế TNCN là: đối với khoản thu nhập từ kinh
doanh và thu nhập từ chuyển quyền sử dụng đất là cá nhân tự kê khai, tự tính
thuế và tự nộp thuế, cơ quan thuế thực hiện kiểm tra, kiểm soát.
Đối với các khoản thu nhập thuộc diện chịu thuế còn lại áp dụng phương pháp
thu thuế khẩu trừ tại nguồn: khi chi trả thu nhập cho người nộp thấp , cơ quan
chi trả thu nhập thực hiẹn khấu trừ và nộp thuế vào ngân sách nhà nước. Cuối
năm cá nhân tổng hợp các khoản thu thực hiện quyết toán nếu có số thuế nộp
thừa thì được thoái trả tiền thuế.
2.1.4 Các chính sách giảm thuế:
15
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Đối với trưòng hợp miễn giảm trừ gia cảnh: Trước đây trong Luật thuế cũ
không có điều khoản này. Ở dự thảo Luật thuế TNCN mới có quy định mức
giảm trừ gia cảnh bao gồm hai phần:
♦ Đối với người nộp thuế có hai phương án:
- Trên 4 triệu đồng/ tháng
- Trên 5triệu đồng/ tháng
♦ Đối với người phụ thuộc:
50% đối với người tàn tật
40% đối với người dưới 18 tuổi
30% đối với người phụ thuộc khác.