1
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cảm ơn
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các ký hiệu, chữ viết tắt
Danh mục các bảng biểu
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài ........................................................................... 1
2. Mục đích nghiên cứu .................................................................................. 3
3. Đối tượng, giới hạn của đề tài nghiên cứu ............................................... 4
4. Phương pháp nghiên cứu ........................................................................... 4
5. Những đóng góp của luận văn ................................................................... 5
6. Kết cấu của luận văn ................................................................................. 5
CHƯƠNG I : CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1. Khái Niệm.................................................................................................. 6
1.1.1 Khái niệm nguồn nhân lực ................................................................ 6
1.1.2 Đào tạo nguồn nhân lực .................................................................... 7
1.1.3 Nguyên tắc đào tạo nguồn nhân lực .................................................. 9
1.1.4 Mục tiêu của đào tạo……………………………………………………………………...10
1.1.5 Vai trò của đào tạo………………………………………………………………………….10
1.2. Tiến trình đào tạo phát triển……………………………………………………………………………..11
1.3. Phân loại các hình thức đào tạo…………………………………………………………………………11
1.4. Phương pháp đào tạo………………………………………………………………………………………………12
1.5. Phương pháp đánh giá hiệu quả của công tác đào tạo nguồn
2
nhân lực…………………………………………………………………………………………………………………………13
3.1. Đònh hướng phát triển thông tin đến năm 2015 của Bộ Văn Hóa
Thông Tin ……………………………………………………………………………………………………………………42
3.1.1. Các quan điểm chỉ đạo phát triển thông tin……………………………………42
3.1.2. Mục tiêu phát triển thông tin đến năm 2015…………………………………..42
3.2. Quan điểm đào tạo nguồn nhà báo cho ngành báo in thành phố……….43
3.2.1. Nhận thức đúng đắn về vai trò đào tạo đôi ngũ nhà báo………………43
3.2.2. Tăng khả năng cạnh tranh thông qua chính sách đào tạo hiệu quả
đội ngũ nhà báo………………………………………………………………………………44
3.2.3. Đào tạo đội ngũ nhà báo có chất lượng cao……………………………….…45
3.2.4. Rèn luyện đạo đức báo chí cho đội ngũ nhà bá………………………….….45
3.2.5. Phát triển ngành báo in theo cả chiều rộng và chiều sâu………………45
3.3. Hệ thống giải pháp đào tạo đội ngũ nhà báo cho ngành báo in………….46
3.3.1. Giải pháp về hoàn thiện hệ thống trường lớp đào tạo nhà báo……46
3.3.2. Bồi dưỡng và nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ quản lý báo chí
kế thừa…………………………………………………………………………………………..50
3.3.3. Cải tiến phương thức quản lý, chú trọng công tác đào tạo nguồn
nhân lực tại các cơ quan báo chí……………………………………………………51
3.3.4. Một số giải pháp nâng cao năng lực cho ngành và các cơ quan báo
chí Thành phố Hồ Chí Minh……………………………………………………………52
3.3.5. Một số kiến nghò khác…………………………………………………………………….56
3.3.6. Kết luận chương III………………………………………………………………………………………….57
KẾT LUẬN……………………………………………………………………………………………………………………58
Tài liệu tham khảo
Danh mục Phụ lục
Phụ lục
4
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
1. VN : Việt Nam
2. TP.HCM : Thành phố Hồ Chí Minh
nguồn nhân lực cả về số lượng lẫn chất lượng. Sự yếu kém về chất lượng của
nguồn nhân lực Việt Nam thể hiện ở những kết quả kinh tế đạt được tuy có
thành công nhưng chưa tương xứng với những tiềm năng của Việt Nam về tài
lực, vật lực và nhân lực.
Thực trạng này của nền kinh tế đã đặt ra những yêu cầu cho các nhà
nghiên cứu phải tham gia tích cực vào việc tìm kiếm giải pháp về nhiều mặt.
Trong đó, quan trọng nhất là những giải pháp về xây dựng và phát triển nguồn
nhân lực làm cơ sở cho sự phát triển kinh tế nhanh chóng và bền vững.
6
Bắt đầu từ việc các doanh nghiệp trong mọi ngành nghề thực hiện tốt
công tác đào tạo nguồn nhân lực giúp các doanh nghiệp giảm bớt rủi ro, tiết
kiệm chi phí, nâng cao năng lực cạnh tranh và giúp các ngành phát triển đồng
đều. Những điều kiện này sẽ tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển kinh tế.
Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng vai trò của ngành báo chí Việt Nam
không chỉ như một công cụ tuyên truyền, đấu tranh về mặt tư tưởng mà còn là
một ngành có khả năng gián tiếp thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước thông
qua hoạt động cung cấp thông tin của mình. Quá trình đổi mới đã tạo ra nhiều
thay đổi sâu sắc và toàn diện trên nhiều lónh vực nhưng so với các ngành khác
sự thay đổi của ngành báo chí diễn ra chậm hơn do tính chất đặc thù của mình.
Tuy nhiên, theo sự vận động chung của toàn bộ nền kinh tế, ngành báo chí Việt
Nam đã có những thay đổi to lớn trong vài năm gần đây.
Về mặt số lượng, sự tăng lên nhanh chóng về những đầu báo tạo nên một
thò trường thông tin báo chí sôi động.
Về mặt nội dung, tính chất thông tin ngày càng đa dạng, phong phú để
dần dần trở thành một “hàng hoá” đáp ứng ngày càng tốt hơn đòi hỏi của thò
trường, của người đọc. Tác dụng chính của báo chí là tuyên truyền đường lối
chính sách của Đảng của Nhà nước đồng thời, phản ánh tâm tư nguyện vọng
chính đáng của nhân dân, chống tham nhũng tiêu cực, góp phần giữ vững ổn
đònh về an ninh – chính trò, góp phần nâng cao chất lượng đời sống tinh thần của
phát triển nội tại của ngành, giúp ngành báo chí thành phố đạt được mục tiêu đề
ra mà còn để góp phần vào sự phát triển toàn diện các mặt kinh tế – xã hội –
văn hóa – chính trò của thành phố.
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Luận văn đặt ra các mục đích nghiên cứu sau đây :
Làm sáng tỏ cơ sở lý luận về công tác đào tạo nguồn nhân lực
8
trong điều kiện của Việt Nam hiện nay. Tìm hiểu kinh nghiệm thực tiễn của một
số nước trong khu vực và trên thế giới về công tác đào tạo nguồn nhân lực để rút
ra những kinh nghiệm cần thiết cho các báo in ở Thành phố Hồ Chí Minh.
Phân tích, đánh giá thực trạng và công tác đào tạo nguồn nhân lực
trong các báo in của Thành phố Hồ Chí Minh cũng như phân tích những nguyên
nhân sâu xa dẫn đến những yếu kém tồn tại này.
Đưa ra một số giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện công tác đào tạo
nguồn nhân lực cho các báo in ở Thành phố Hồ Chí Minh.
3. ĐỐI TƯNG, GIỚI HẠN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu của luận văn được xác đònh là các báo in ở Thành
phố Hồ Chí Minh vì báo in được coi là ngành cơ bản, có quá trình tồn tại lâu đời
nhất trong các loại hình báo chí (Báo in là loại hình báo chí xuất hiện đầu tiên
trên thế giới và ở Việt Nam hiện nay, loại hình báo in có tầm hoạt động rộng
nhất, phố biến nhất trên cả nước). Ngoài ra, ngành báo in ở Thành phố Hồ Chí
Minh là ngành có số lượng các cơ quan báo chí nhiều nhất, số lượng lao động
lớn nhất, trong đó, số lượng nhà báo, phóng viên hoạt động cũng đông nhất.
Luận văn này cũng giới hạn trong lónh vực đào tạo nguồn nhân lực là
phóng viên, biên tập viên chính thức của các tờ báo in không tính đến các lực
lượng lao động có tính phục vụ của các tờ báo như : các lao động quản lý, lao
động phục vụ công tác quảng cáo và phát hành, lao động in ấn… Vì đội ngũ
phóng viên, biên tập viên là lực lượng quyết đònh chất lượng nội dung, yếu tố có
tính chất chi phối, quyết đònh đến mọi hoạt động và hiệu quả của các tờ báo. 10
CHƯƠNG I:CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC
1.1. KHÁI NIỆM
1.1.1. Khái niệm nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực là nguồn lực về con người và được nguyên cứu dưới
nhiều khía cạnh. Trước hết, với tư cách là nguồn cung cấp sức lao động cho toàn
xã hội, nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư trong độ tuổi lao động theo quy
đònh, có khả năng lao động, là một trong ba yếu tố cơ bản của tái sản xuất xã hội
(công cụ lao động, đối tượng lao động và sức lao động). Với cách hiểu này
nguồn nhân lực tương đương với nguồn lao động.
Nguồn nhân lực (tài nguyên nhân lực) là thuật ngữ chung dùng để chỉ tất
cả những người làm việc trong một tổ chức hay tất cả lao động trong một xã hội.
Nguồn nhân lực còn có thể hiểu là tổng hợp cá nhân những con người cụ
thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể chất và tinh
thần được huy động vào quá trình lao động.
Hai yếu tố chính cấu thành nguồn nhân lực là số lượng và chất lượng. Số
lượng nguồn nhân lực được biểu hiện thông qua các chỉ tiêu quy mô và tốc độ
phát triển nguồn nhân lực. Các chỉ tiêu này có quan hệ mật thiết với chỉ tiêu tốc
độ tăng dân số. Quy mô dân số càng lớn, tốc độ tăng dân số càng cao thì dẫn
đến quy mô và tốc độ tăng nguồn nhân lực càng cao và ngược lại.
Vai trò của nguồn nhân lực đối với sự phát triển của doanh nghiệp
Vai trò của nguồn nhân lực là rất lớn và có tính quyết đònh đến sự phát
triển của mỗi doanh nghiệp. Tuy nhiên, để nguồn nhân lực phát huy tốt vai trò
chủ đạo trong quá trình phát triển sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đòi hỏi
nguồn nhân lực phải đạt được những tiêu chuẩn nhất đònh về chất lượng và số
lượng. Một nguồn nhân lực được coi là có chất lượng khi từng cá nhân người lao
Đào tạo là một vũ khí chiến lược đối với các tổ chức
12
Thực tế đã có những bằng chứng xác thực chứng tỏ đầu tư cho đào tạo
gắn liền với khả năng sinh lợi lâu dài cho các tổ chức, các doanh nghiệp. Những
doanh nghiệp sau khi nâng cao chất lượng lao động qua các chương trình đào tạo
có hiệu quả đều cho năng suất cao hơn.
Đào tạo được xem như một công cụ quan trọng để đạt tới những mục tiêu
của tổ chức và của chính bản thân nhân viên. Mối liên kết giữa đào tạo và các
mục tiêu là hiển nhiên, thế nhưng người ta thường hay bò cuốn hút vào cuộc đấu
tranh hàng ngày để thực hiện các chương trình và đối phó với các cuộc khủng
hoảng. Đào tạo trở thành một hoạt động chứ không phải một chiến lược. Đó là
một nhận thức sai lầm. Đào tạo thực sự đem lại một hiệu quả trực tiếp cho việc
thực hiện các mục tiêu của tổ chức. Thậm chí quảng bá một chương trình đào tạo
tốt có tác dụng thu hút khách hàng và nâng cao uy tín của doanh nghiệp.
Đào tạo là một vũ khí chiến lược đối với các dân tộc
Ngày càng có thêm nhiều bằng chứng và nhận thức rõ ràng về đào tạo và
giáo dục là việc đầu tư chiến lược chủ chốt cho sự phồn vinh của dân tộc.Cụ thể:
Môi trường học tập, đào tạo lý tưởng là một trong những nguồn gốc của
sự phát triển thần kỳ của Nhật Bản sau Thế chiến thứ hai.
Mexico đã sử dụng khoản tiền vay của Ngân hàng Thế giới để tăng gấp
đôi quy mô của chương trình đào tạo người lớn tuổi và triển khai việc đào
tạo năng lực để làm cho công nhân dễ có khả năng kiếm việc làm hơn.
Chương trình đào tạo tạo nhiều cơ hội tiếp cận với sự giáo dục, cải tiến kỹ
năng và phát triển cá nhân để tránh tụt hậu trong cuộc cạnh tranh quốc tế
của Đan Mạch, nhất là trong điều kiện quốc gia này rất ít tài nguyên.
Bộ Giáo dục và Nghiên cứu Khoa học của Đức nhận thức rõ rằng đào tạo
nghề là rất cần thiết cho quốc gia của họ. Các công ty của Đức cũng nhận
thức rõ việc đào tạo đội ngũ công nhân viên cho chính họ là một việc
đáng làm. Đó là phương cách tốt nhất để đảm bảo có sự chuẩn bò tối ưu
lợi đáng kể, vì phát triển và đào tạo nguồn nhân lực là những phương tiện để đạt
được sự phát triển tổ chức có hiệu quả nhất.
1.1.4. Mục tiêu của đào tạo
Trực tiếp giúp người lao động thực hiện công việc tốt hơn, đặc biệt khi
người lao động thực hiện công việc không đáp ứng tiêu chuẩn hoặc khi người lao
động mới nhận công việc.
Cập nhật các kỹ năng, kiến thức mới cho nhân viên, giúp họ áp dụng
thành công các tiến bộ trong các mặt công nghệ, kỹ thuật,... vào công việc.
Tránh tình trạng quản lý lỗi thời, thường xuyên cập nhật và áp dụng các
phương pháp quản lý cho phù hợp với những thay đổi trong thực tế của đơn vò.
Đào tạo và phát triển có thể giúp các nhà quản trò giải quyết các vấn đề
nội bộ thông qua việc đề ra các chính sách quản lý nguồn nhân lực có hiệu quả.
Các chương trình đào tạo có tính đònh hướng công việc sẽ giúp người lao
động nhanh chóng thích ứng với môi trường làm việc mới.
Đào tạo giúp cho đội ngũ lao động trong doanh nghiệp có những kỹ năng
cần thiết cho các cơ hội thăng tiến và thay thế cho các cán bộ quản lý chuyên
môn khi cần thiết.
Đào tạo sẽ trang bò cho người lao động những kỹ năng chuyên môn cần
thiết. Từ đó, kích thích người lao động làm việc tốt hơn, tạo ra những động lực
làm việc mạnh mẽ hơn.
1.1.5. Vai trò của đào tạo
Về mặt xã hội, đào tạo nguồn nhân lực là vấn đề sống còn của một đất
nước. Nó quyết đònh sự phát triển của xã hội và là một trong những giải pháp
làm giảm trình trạng thất nghiệp.
Về phía các doanh nghiệp : đào tạo nguồn nhân lực để đáp ứng được yêu
cầu công việc của doanh nghiệp, đáp ứng được nhu cầu tồn tại và phát triển của
15
doanh nghiệp. Đó là một hoạt động mang lại nguồn lợi đáng kể cho các doanh
nghiệp.
đào tạo
Đào tạo, hướng dẫn công việc cho nhân viên
Đào tạo, huấn luyện kỹ năng
Đào tạo kỹ thuật an toàn lao động
Đào tạo và nâng cao trình độ chuyên môn kỹ thuật
Đào tạo và phát triển năng lực quản lý
Hình thức tổ chức Đào tạo chính quy
Đào tạo tại chức
Đào tạo cạnh xí nghiệp
Kèm cặp tại chỗ
Đòa điểm hoặc nơi
đào tạo
Đào tạo tại nơi làm việc
Đào tạo ngoài nơi làm việc
Đối tượng học viên Đào tạo mới
Đào tạo lại
16
1.4. PHƯƠNG PHÁP ĐÀO TẠO
Kinh nghiệm các doanh nghiệp thành đạt đều chứng tỏ rằng nhờ họ chú
trọng vào công tác đào tạo nguồn nhân lực. Chất lượng con người được xem là
ưu thế cạnh tranh trong môi trường kinh doanh hiện nay. Vì vậy đào tạo được
xem là mũi đột phá của phát triển kinh tế xã hội nói chung và hiệu quả kinh
doanh trong từng doanh nghiệp nói riêng.
Khái niệm đào tạo nhấn mạnh đến việc huấn luyện có đònh hướng, chú
trọng công việc hiện thời của cá nhân, giúp cá nhân kỹ năng cần thiết để thực
hiện tốt công tác hiện nay.
Có nhiều loại hình đào tạo, việc chọn lựa hình thức đào tạo tùy thuộc vào
nhu cầu, năng lực, quy mô, đònh hướng của doanh nghiệp.
Để xác đònh nhu cầu đào tạo của một doanh nghiệp bộ phận phụ trách
)
Tỷ suất lợi nhuận thuần trên tổng tài sản (R
T
)
So sánh với các kỳ trước đào tạo, R
P
và R
T
càng cao phản ánh hiệu quả
hoạt động của doanh nghiệp càng lớn. Điều này gián tiếp phản ánh hiệu quả của
công tác đào tạo.
Năng suất lao động (W
T
, W
L
) Trong đó, Tổng số hao phí lao động là tổng chi phí vật chất trong quá
trình đào tạo bao gồm các khoản :
W
T
=
Doanh thu thuần
phản ánh hiệu quả sử dụng lao động càng tốt. Điều này phản ánh trực tiếp hiệu
quả của công tác đào tạo.
Mức sinh lợi của lao động (M
T
, M
L
) M
L
cho biết một thời gian hao phí lao động mang lại bao nhiêu lợi nhuận
và M
L
cho biết một lao động trong doanh nghiệp mang lại bao nhiêu lợi nhuận.
So sánh hai chỉ tiêu này qua các thời kỳ, nếu M
T
và M
L
ngày càng tăng phản
ánh hiệu quả sử dụng lao động ngày càng cao. Thành quả này đem lại từ chất
lượng của công tác đào tạo trong doanh nghiệp.
Kết luận chương I
Vai trò nguồn nhân lực đối với sự phát triển chung của kinh tế – xã hội
ngày càng được khẳng đònh theo sự phát triển của lực lượng sản xuất. Sự tăng
trưởng và phát triển kinh tế – xã hội của một đất nước phụ thuộc vào chất lượng
nguồn nhân lực, trong sản xuất kinh doanh triết lý lấy con người làm trung tâm.
Từ đó, các nước tập trung vào phát triển nguồn nhân lực và coi đây là lợi thế
cạnh tranh hữu hiệu nhất trong quá trình toàn cầu hóa.
Để có thể sử dụng nguồn nhân lực một cách hiệu quả trong tiến trình hội
Hệ quả của việc đa dạng hóa các lựa chọn này là sự gia tăng cạnh tranh
trong thò trường thông tin và quảng cáo. Sức ép cạnh tranh làm cho báo chí ngày
nay thường xuyên phải tự chuyển đổi hình thức thành một phương tiện truyền
thông phù hợp với những nhu cầu, sự năng động và đa dạng của thò trường.
Tại nhiều nước trên thế giới hiện nay, hoạt động báo chí đã trở thành một
ngành công nghiệp, đó là ngành công nghiệp truyền thông. Đây là một trong
những ngành sử dụng nhiều nhân công và mang tầm vóc toàn cầu tại nhiều nước
phát triển như tại Hoa Kỳ và các nước phát triển Châu Âu.
Dưới đây là một số nét chung quan trọng nhất của nền báo chí thế giới :
Báo chí là ngành công nghiệp tin tức
Ngành công nghiệp truyền thông là một ngành kinh doanh rất lớn. Nguồn
thu chủ yếu của báo chí là quảng cáo thương mại (khoảng 75%). Năm 1991,
20
ngành truyền thông Hoa Kỳ đã thu được tổng cộng 130 tỉ đô-la doanh thu từ
quảng cáo. Với số lượng các hãng truyền thông ngày càng tăng lên như hiện nay
và thêm vào đó là việc các nhà quảng cáo có thể tiếp cận khách hàng của mình
bằng nhiều cách khác, cuộc cạnh tranh giữa các hãng truyền thông để có doanh
thu quảng cáo sẽ còn tiếp tục diễn ra rất gay gắt.
Một trong những cách mà khu vực thông tin của ngành báo chí tự bảo vệ
mình không bò ảnh hưởng bởi sự xung đột về động cơ lợi nhuận là việc tách biệt
rõ ràng bộ phận kinh doanh và bộ phận tin tức để tránh ảnh hưởng lẫn nhau. Tuy
nhiên, gần đây, sự phân cách mang tính truyền thống đó đã bò phá vỡ trong một
chừng mực nào đó do việc các tờ báo, các tạp chí mới và các chương trình tin tức
phát sóng đang đẩy mạnh cuộc chiến giành thêm “thò phần”. Điều này không có
nghóa rằng sự quan tâm ngày càng lớn vì lợi nhuận về bản chất là có hại đối với
nghề làm báo. Một số hãng tin có lợi nhuận cao nhất là những hãng tin tốt nhất
bởi vì họ đã sử dụng nguồn thu nhập ngày càng tăng của mình để cung cấp tài
chính cho các chương trình có chất lượng tốt hơn.
Báo chí được coi là sự đại diện cho niềm tin của công chúng
của người xem, người nghe và người đọc ở ngay tại đòa phương mình. Có những
lý do kinh tế quan trọng giải thích điều này.
2.2. NỀN BÁO CHÍ VIỆT NAM
2.2.1. Sơ lược về báo chí Việt Nam
Tờ báo đầu tiên xuất bản ở Việt Nam là một tờ báo tiếng Pháp dành cho
quân đội Pháp tại Việt Nam đó là tờ Bulletin Officiel de l' Expéditin de la
Cochinchine (Bản tin chính thức của Phái bộ Viễn chinh Nam kỳ), xuất bản năm
1862. Năm 1865, tờ báo tiếng Việt đầu tiên là tờ Gia Đònh Báo do hai ông
Trương Vónh Ký và Huỳnh Tònh Của phụ trách được xuất bản.
22
Hiện nay, các báo chí trong cả nước đã có nhiều phát triển (Bảng 1 – Phụ
lục 4). Đến thời điểm tháng 07/2006, trên phạm vi toàn quốc, Việt Nam có 620
cơ quan báo chí với 803 ấn phẩm báo chí (một cơ quan báo có thể xuất bản
nhiều ấn phẩm báo chí – Phụ lục 5). Trong đó gồm có :
Báo in : 172 báo, 448 tạp chí và 2000 bản tin
Báo hình : 67 đài truyền hình
Báo điện tử : 88 báo điện tử
Báo nói : 600 đài cấp huyện.
Về lực lượng làm báo hiện nay gồm có 13.000 nhà báo được cấp thẻ,
10.000 cán bộ, công nhân viên chức, kế toán viên, nhân viên hành chính
làm việc trong các tòa soạn các báo.
Hàng năm số lượng báo được phát hành ở nước ta khoảng 600 triệu bản.
Tỷ lệ báo chí bình quân trên đầu người là 7,5 bản báo/người/năm.
2.2.2. Đặc điểm của báo chí Việt Nam so với các nước phát triển
Báo chí tại Việt Nam hiện nay đã dần dần trở thành một ngành kinh
doanh hiệu quả, ngày càng có nhiều tờ báo có thể tự đảm bảo kinh phí hoạt
động và có lợi nhuận nhưng hoạt động báo chí Việt Nam còn xa mới có thể trở
thành một ngành công nghiệp. Hiện nay trong số 620 cơ quan báo in có gần 100
đơn vò tự cân đối được thu chi và khoảng 50 đơn vò thực chất có lãi. Trên thực tế,
lục 4), với tổng số :
38 cơ quan báo và tạp chí (Phụ lục 6)
1 cơ quan báo nói (Đài Tiếng nói nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh).
1 cơ quan báo hình (Đài truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh).
113 văn phòng đại diện báo chí Trung ương và các tỉnh
3 Nhà xuất bản của thành phố
24
21 chi nhánh Nhà xuất bản Trung ương
Về lực lượng làm báo hiện nay khoảng 1.500 nhà báo được cấp thẻ, 6.400
cán bộ, công nhân viên chức, kế toán viên, nhân viên hành chính làm
việc trong các tòa soạn các báo.
Hàng năm số lượng báo phát hành ở thành phố khoảng 313,1 triệu bản.
Tỷ lệ báo chí bình quân trên đầu người là 55 bản báo/người/năm.
Báo chí Thành phố Hồ Chí Minh cũng đã đi đầu trong việc chuyển qua
chế độ hoạch toán kinh tế, xóa bỏ bao cấp, đưa hoạt động báo chí vào quỹ đạo
chung của nền kinh tế thò trường hoạt động đạt hiệu quả kinh tế khá, có thể tự
trang bò máy móc và tăng dần mức thu nhập của đội ngũ những người làm báo.
Báo chí thành phố đã có nhiều hoạt động xã hội đáng kể. Ngoài việc
tham gia cổ động các chương trình chung của thành phố, mỗi đơn vò đều có sáng
kiến tổ chức các hoạt động có hiệu quả thiết thực tùy theo khả năng và điều
kiện, phương tiện của mình.
Các báo Sài Gòn Giải Phóng, Thời báo Kinh Tế Sài Gòn, Tuổi Trẻ đã đặt
nhiều cơ quan đại diện, thường trú ở các thành phố lớn của cả nước.
Có thể nói báo chí là một thế mạnh của thành phố bên cạnh nhiều thế
mạnh khác.
2.3.2. Ưu, nhược điểm của báo chí Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay
(Trích lược Báo cáo nhìn nhận về thực trạng báo chí Thành phố Hồ Chí
Minh của Ban Tư tưởng – Văn hóa Thành ủy ngày 06/07/2006)
2.3.2.1. Ưu điểm
Tình trạng đưa thông tin sai, áp đặt quy chụp tùy tiện vẫn xảy ra. Đạo đức
nghề nghiệp của một bộ phận nhà báo có khuynh hướng giảm sút.