BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN
Đề tài:
VẬN DỤNG HÌNH THỨC OUTSOURCING CỦA NGÀNH IT TRONG
GIAI ĐOẠN KHỦNG HOẢNG KINH TẾ.
Sinh viên thực hiện: Hoàng Thúy Linh- K47U2
Phan Thị Linh- K47U2
Chuyên ngành: Quản Trị Nguồn Nhân Lực
Giáo viên hướng dẫn: Ts Chu Thị Thủy
Hà Nội, tháng 3 năm 2014
LỜI CẢM ƠN
Trong những năm qua, với những đổi mới về phương pháp dạy và học trong ngôi
trường Đại Học Thương Mại, sự tạo điều kiện cho sinh viên được tìm hiều và vận dụng
kiến thức trên sách vở vào môi trương thực tế, nhà trường đã tạo điều kiện cho sinh viên
đang học tập tại trường được tham gia nghiên cứu khoa học nhằm nâng cao chất lượng
đào tạo của nhà trường và thỏa mãn niềm đam mê nghiên cứu khoa học trong sinh viên.
Là những sinh viên đang học tập tại trường, chúng tôi muốn trực tiếp tìm hiểu
những gì còn tồn tại trong vấn đề vận dụng kiến thức được học trong các bộ môn với thực
tế các doanh nghiệp bên ngoài. Với mong muốn có thể đóng góp một phần nhỏ ý kiến
của nhóm và nhìn nhận kiến thức một cách đa chiều hơn trong quá trinh nghiên cứu.
Sau một thời gian nghiên cứu và tìm hiểu về cả lý thuyết và thực tế các doanh
nghiệp thì đề tài chúng tôi đã hoàn thành. Nhóm chúng tôi xin gửi lời cảm ơn tới các thầy
cô trong Khoa Quản Trị Nhân Lực – Trường Đại Học Thương Mại đã tạo điều kiện cho
chúng tôi có thể thực hiện nghiên cứu đề tài này. Đặc biệt, chúng tôi xin gửi lời cảm ơn
sâu sắc tới T.S Chu Thị Thủy- người trực tiếp hướng dẫn và nhiệt tình giúp đỡ chúng tôi
trong suốt quá trình nghiên cứu cũng như hoàn thành đề tài. Chúng tôi cũng xin gửi lời
cảm ơn tới các bạn sinh viên khoa Quản Trị Nhân Lực đã giúp đỡ chúng tôi trong quá
trình tiến hành điều tra, khảo sát và đóng góp ý kiến với nhóm để có thể kịp thời điều
Trong bối cảnh toàn cầu hóa như hiện nay, Việt Nam xác định công nghiệp phần
mềm là ngành kinh tế tri thức, công nghệ cao, có giá trị gia tăng lớn, tạo ra giá trị xuất
khẩu cao, góp phần quan trọng vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Nền công nghiệp phần mềm ở nước ta, tuy vậy, mới đang dần phát triển để vươn ra thị
trường thế giới, chưa tạo được những thương hiệu phần mềm quốc gia. Outsourcing hiện
đang là một hình thức để nhanh có thể tận dụng tốt những cơ hội, lợi thế mà chúng ta
đang có để đưa ngành công nghiệp phần mềm trở thành một ngành kinh tế trọng điểm
trong nền kinh tế quốc dân trong những năm tới đây. Là những sinh viên đang theo học
ngành quản trị nhân lực tại trường, chúng tôi với những kiến thức hàn lâm được thầy cô ở
trường giảng dạy cùng với niềm đam mê tìm hiểu việc sử dụng nguồn nhân lực trong các
doanh nghiệp, chúng tôi đã lựa chọn ngành công nghệ thông tin- một trong những ngành
đang có tốc độ tăng trưởng mạnh trong nền kinh tế nước ta hiện nay để nghiên cứu với
mong muốn tìm ra được thực trạng sử dụng nguồn nhân lực bên ngoài doanh nghiệp hiện
nay và tìm ra được giải pháp để sử dụng nguồn nhân lực đó hiệu quả. Đây cũng chính là
mục tiêu theo học ngành quản trị nhân lực của chúng tôi. Xuất phát từ thực tế đó, nhóm
chúng em đã quyết định chọn đề tài: “Vận dụng hình thức outsourcing của ngành IT
trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế.”
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
1.1. Tính cấp thiết nghiên cứu đề tài
1.1.1. Lý do lý luận
Tầm quan trọng của outsourcing trong doanh nghiệp hiện nay. Để lý giải cho việc
tồn tại và phát triển của xu hướng này, việc đầu tiên chúng ta cần phải thừa nhận là môi
trường kinh doanh toàn cầu ngày nay biến động hơn trước rất nhiều. Chính vì thế mà
nhiều doanh nghiệp nước ngoài, bao gồm cả doanh nghiệp Việt Nam đều chịu chung ảnh
hưởng sự cạnh tranh toàn cầu khốc liệt. Việc tạo ra được sự ổn định và kiểm soát tốt bộ
máy quản trị nhân sự là điều kiện cốt lõi góp phần duy trì sự tồn tại vững chắc và giúp
doanh nghiệp đón nhận được những cơ hội quý giá trong tầm tay
1.1.2. Lý do thực tiễn
Trước áp lực cạnh tranh và những biến động của nền kinh tế toàn cầu trong
vài năm trở lại đây, việc chèo lái con thuyền doanh nghiệp đi đúng ‘quỹ đạo” theo kế
phương pháp mà chúng ta bàn luận trong đề tài chính là “ vận dụng hình thức
outsourcing của ngành IT trong giai đoạn khủng hoảng king tế”.
1.3. Tổng quan tình hình nghiên cứu outsourcing ở Việt Nam và trên thế giới
1.3.1. Trên thế giới
“Outsource” hay “Outsourcing” là thuật ngữ không còn mới mẻ đối với thế giới,
loại hình dịch vụ này đã xuất hiện đầu thập niên 90 tại các nước đang phát triển, đặc biệt
là Ấn Độ, Trung Quốc. Có thể định nghĩa “outsource” là hình thức chuyển một phần
chức năng nhiệm vụ ra gia công bên ngoài (từ tiếng Anh: out – ngoài, source –nguồn) –
những chức năng mà trước đây doanh nghiệp vẫn đảm nhận. Với hình thức này, chất
lượng sản phẩm “được outsource” bằng, thậm chí cao hơn sản phẩm “không được
outsource” nhưng giá thành rẻ hơn.
Tác nhân thúc đẩy hình thức “Outsourcing” phát triển chính là cuộc đổ bộ ồ ạt của
các công ty, tập đoàn phần mềm của Mỹ và Tây Âu vào các quốc gia mới phát triển ở
châu Á như Ấn Độ, Trung Quốc để tận dụng lợi thế chi phí nhân công rẻ nhằm tạo ra ưu
thế cạnh tranh. Thời gian này, nhiều tập đoàn lớn của Mỹ đã xây dựng nhà máy, các
trung tâm nghiên cứu và phát triển sản phẩm tại các quốc gia châu Á. Ví dụ điển hình
cho cuộc đổ bộ đó là sự ra đời của khu công nghệ cao Bangalore – Ấn Độ, được mệnh
danh là “thung lũng Silicon của Ấn Độ”, nơi tập trung các tên tuổi lớn như IBM,
Microsoft, Intel, Dell…
Trong cuốn sách “Thế giới phẳng” (The world is flat), tác giả Thomas L.
Friedman đã tận mắt chứng kiến một Ấn Độ phát triển do lợi ích của dịch vụ
“Outsourcing” hay lớn hơn, do “toàn cầu hóa” mang lại. Tác giả hóm hỉnh nhận xét:
“Các kỹ sư trẻ Ấn Độ, một anh chàng trông có vẻ như có thể giúp tôi làm thủ tục thuế;
một cô nàng có thể tháo rời máy tính của tôi và cô nàng thứ ba thì làm ra vẻ như đã thiết
kế ra nó!”. Ông cho rằng thuê làm ngoài “đã tạo ra một hệ thống cho phép việc làm tri
thức và trí tuệ có thể được thực hiện từ bất cứ nơi đâu. Việc làm có thể được chia nhỏ,
được giao, phân phối, sản xuất và ghép lại, cho phép chúng ta làm việc một cách tự do
hơn trước kia rất nhiều, đặc biệt đối với những việc làm có tính trí tuệ… Những gì các
bạn đang chứng kiện tại Bangalore hôm nay thực sự là đỉnh điểm của tất cả những hiện
tượng trên kết hợp lại”.
Trong kinh doanh hiện đại, việc cung cấp nguồn lực bên ngoài cho phép sử dụng
những dịch vụ truyền thống dựa trên những điều kiện linh hoạt, với ý tưởng chủ đạo là:
đảm bảo sự mềm dẻo nhưng năng động, chi phí thấp và có khả năng pháp triển. Khi áp
dụng mô hình outsourcing, doanh nghiệp có thể đạt được điều đó mà không cần phải
thường xuyên tuyển dụng và “giữ” số lượng lớn nhân viên. Đối với doanh nghiệp, việc
sử dụng những nhân viên hợp đồng có trình độ cao từ các công ty cung cấp dịch vụ
chuyên nghiệp giúp họ tiết kiệm chi phí đáng kể.
Lãnh đạo doanh nghiệp tìm đến mô hình dịch vụ này khi họ phải đối diện với yêu
cầu đảm bảo năng lực cạnh tranh của mình. Lợi thế quan trọng có tính chiến lược của
nguồn lực bên ngoài là khả năng tập trung vào nhiệm vụ kinh doanh trọng yếu của
doanh nghiệp. Sử dụng nguồn nhân lực bên ngoài cho phép doanh nghiệp tiết kiệm thời
gian, công sức mà trước đây họ phải đầu tư vào những yếu tố không sinh lợi (đào tạo
nhân viên, chi phí bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế…). Khi sử dụng nguồn lực này, các
công ty chỉ quan tâm đến giá cả và chất lượng của dịch vụ nhận được, còn tất cả rủi ro
tài chính sẽ “nhường lại” cho nhà cung cấp dịch vụ. Nhờ việc cắt giảm một phần nhân
sự và chuyển sang cơ cấu biên chế của nhà cung cấp dịch vụ mà doanh nghiệp tăng tính
hấp dẫn đầu tư: chỉ số năng suất sản phẩm chủ yếu trên mỗi đơn vị biên chế tăng lên,
điều được thể hiện ở trị giá doanh nghiệp nói chung. Bên cạnh đó, chất lượng dịch vụ
của các công ty cung cấp nguồn nhân lực này cũng ngày một nâng cao nhờ cập nhật
công nghệ thường xuyên, việc tự động hoá quá trình sản xuất và hệ thống kiểm tra chất
lượng hiệu quả hơn…
Những nguy cơ phải đối mặt
Việc sử dụng nhân lực theo hợp đồng thường đi kèm với việc cắt giảm số lượng
nhân viên trong công ty. Ít nhất, trong nhận thức của nhân viên thì cả hai quá trình –
chuyển sang sử dụng nguồn lực bên ngoài và cắt giảm chỗ làm- có liên quan mật thiết
với nhau.
Thông thường, quyết định chuyển sang chế độ sử dụng nguồn lực bên ngoài có những
nguyên nhân sâu xa. Chúng ta đều biết, khi doanh nghiệp phải nỗ lực tập trung vào công
việc kinh doanh chủ yếu, thì nhu cầu hạ thấp chi phí các loại, bao gồm chi phí về sản
xuất và cả chi phí nhân sự, là bắt buộc. Doanh nghiệp sẽ vận dụng tối đa cách tổ chức
đối tác bên trong mà cả bên ngoài doanh nghiệp.
Trên quan điểm nhân văn, cách làm này tất nhiên tiện lợi hơn đối với nhân viên,
bởi vì tạo cho họ cơ hội tiếp tục làm việc trong doanh nghiệp của mình, mà vẫn học
được những kỹ năng và kiến thức mới như định hướng khách hàng, nỗ lực nâng cao
chất lượng công việc hoặc dịch vụ, và như vậy là họ đang tự chuẩn bị điều kiện để “bơi
tự do” sau này.
1.4.2. Nhìn nhận rõ hơn về thực tế ứng dụng outsourcing trong ngành IT ở cả
Việt Nam và thế giới
Quan niệm outsourcing với lĩnh vực gia công phần mềm hay lập trình có lẽ
xuất phát từ xu hướng di chuyển một phần việc làm của các doanh nghiệp tại các quốc
gia phát triển sang các nước đang phát triển vào đầu thập niên 90. Đây là khoảng thời
gian mà các công ty phần mềm lớn ở Mỹ ồ ạt đổ bộ vào các quốc gia mới phát triển ở
châu Á như Ấn Độ, Trung Quốc hay để tận dụng lợi thế chi phí nhân công rẻ nhằm tạo ra
ưu thế cạnh tranh. Nhiều tập đoàn lớn tại Mỹ đã xây dựng nhà máy, các trung tâm nghiên
cứu và phát triển sản phẩm tại các quốc gia châu Á và đang ngày càng ăn nên làm ra do
áp dụng thành công mô hình kinh doanh outsourcing. Quá trình này được gọi là thuê
ngoài ngoại biên (outsource hay outsourcing. Ví dụ điển hình cho cuộc đổ bộ đó là sự ra
đời của khu công nghệ cao Bangalore – thủ phủ bang Karnataka thuộc miền nam Ấn Độ,
được mệnh danh là “thung lũng Silicon của Ấn Độ” – địa điểm lý tưởng được các công ty
phần mềm Tây Âu chọn lựa: IBM, Microsoft, Intel, Sun Microsystems, Dell, Cisco,
Oracle Thậm chí, Reuters – một hãng truyền thông tên tuổi của Mỹ cũng đã chọn
Bangalore làm đại bản doanh cho các họat động outsourcing nhằm thu thập thông tin tài
chính của các công ty lớn trên thế giới. Việc chuyển một phần công việc sang Ấn Độ đã
giúp Reuters giảm được nhiều chi phí. Với mức lương chỉ bằng một phần năm so với
mức trả cho các phóng viên ở New York , Reuters đã tiết kiệm được khoản tiền lương mà
không phải cắt giảm nhân sự tại văn phòng chính.
Tuy nhiên, do giá nhân công trong lĩnh vực phần mềm tại Bangalore đang ngày
càng tăng nhanh trong khi hạ tầng cơ sở tại khu vực này vẫn trong tình trạng yếu kém nên
Bangalore không còn được ưa chuộng như trước nữa. Trung Quốc, Nga, Brazin, Việt
Nam đang trở thành những địa điểm hấp dẫn hơn nhờ giá nhân công rẻ hơn và chất
• Việc nghiên cứu về vận dụng outsourcing trong ngành IT hiện nay
giúp chúng ta thấy được một xu hướng sử dụng lao động mới và hiệu quả của nó
mang lại cho ngành. Từ đó các doanh nghiệp có thể rút ra được bài học cho doanh
nghiệp mình trong từng giai đoạn để vận dụng phương pháp hợp lý, sáng tạo.
• Những nghiên cứu của nhóm cung cấp số liệu liên quan đến ngành
IT
• Giải pháp của nhóm đề xuất và đánh giá cá nhân của nhóm góp phần
xây dựng nên kinh nghiệm sử dụng outsourcing cho các doanh nghiệp trong ngành
IT có thể áp dụng được trong thực tế.
1.8. Kết cấu báo cáo nghiên cứu
Lời cám ơn
Lời cam đoan
Lời mở đầu
Danh mục bảng biểu hình vẽ
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu đề tài
Chương 2: Tóm lược một số vấn đề lý luận outsourcing
Chương 3: Phân tích thực trạng vận dụng hình thức outsourcing
Chương 4: Đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện việc sử dụng hình thức outsourcing
của ngành IT trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế
Tài liệu tham khảo
CHƯƠNG 2: TÓM LƯỢC MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN OUTSOURCING
2.1. Một số định nghĩa và khái niệm cơ bản
2.1.1. Khái niệm và đặc điểm outsourcing
Mặc dù ngành công nghiệp outsourcing đã ra đời cách đây khoảng 20 năm (từ
những năm 1989) nhưng cho đến hiện nay, các chuyên gia kinh tế của Việt Namvẫn chưa
thống nhất để đưa ra một định nghĩa chính thức nào về outsourcing, cũng như việc tìm
được một cụm từ tiếng Việt chính thức thay thế cho thuật ngữ outsourcing thật không dễ
dàng. Tuy nhiên, hiện tại khi đề cập đến outsourcing, các thuật ngữ
phổ biến thường được dùng để thay thế hay sử dụng trong sách báo là “thuê ngoài” hoặc
“thuê làm bên ngoài”. Trong bài viết này, tác giả xin phép được giữ nguyên thuật ngữ
pháp khoa học, các phương tiện và công cụ kĩ thuật hiện đại - chủ yếu là kĩ thuật máy
tính và viễn thông - nhằm tổ chức khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên
thông tin rất phong phú và tiềm năng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã
hội".
Thuật ngữ "Công nghệ Thông tin" xuất hiện lần đầu vào năm 1958 trong bài viết
xuất bản tại tạp chí Harvard Business Review. Hai tác giả của bài viết, Leavitt và Whisler
đã bình luận: "Công nghệ mới chưa thiết lập một tên riêng. Chúng ta sẽ gọi là công nghệ
thông tin (Information Technology - IT)."
Các lĩnh vực chính của công nghệ thông tin bao gồm quá trình tiếp thu, xử lý, lưu
trữ và phổ biến hóa âm thanh, phim ảnh, văn bản và thông tin số bởi các vi điện tử dựa
trên sự kết hợp giữa máy tính và truyền thông. Một vài lĩnh vực hiện đại và nổi bật của
công nghệ thông tin như: các tiêu chuẩn Web thế hệ tiếp theo, sinh tin, điện toán đám
mây, hệ thống thông tin toàn cầu, tri thức quy mô lớn và nhiều lĩnh vực khác. Các nghiên
cứu phát triển chủ yếu trong ngành khoa học máy tính.
2.2. Nội dung của outsourcing
2.2.1. Đặc điểm của outsourcing
2.2.1.1. Lịch sử phát triển của outsourcing
Ngày nay thuật ngữ outsourcing đã trở nên phổ biến với nhiều người trên khắp thế
giới, song không phải ai cũng hiểu rõ về nguồn gốc hình thành của loại hình công nghiệp
này. Thông qua tìm hiểu một số tài liệu nghiên cứu về lịch sử hình thành của outsourcing,
toàn bộ quá trình phát triển của outsourcing cho đến nay có thể khái quát thành ba chặng
chính: giai đoạn sơ khai hình thành (từ năm 1989 trở về trước), giai đoạn phát triển
(những năm 1990), và giai đoạn hợp tác chiến lược (hiện nay).
Giai đoạn sơ khai (những năm 70 – 80 của thế kỉ XX)
Kể từ cuộc cách mạng công nghiệp, các công ty đã bắt đầu liên kết để tận dụng
những thế mạnh của nhau để mở rộng thị trường và tăng lợi nhuận. Mô hình phổ biến của
thế kỉ 20 là một công ty liên doanh lớn có thể cùng “sở hữu, quản lý,và trực tiếp điều
hành nắm giữ” các nguồn lực. Đến những năm 50 và 60 của thế kỉ XX, các công ty buộc
phải đa dạng hóa hình thức kinh doanh để mở rộng cơ sở và tận dụng lợi thế theo quy mô
để từ đó kì vọng tăng lợi nhuận, thậm chí mở rộngviệc quản lý thành các cấp độ khác
• Thuê ngoài nội địa (Inshore Outsourcing/Local Outsourcing): là loại
hình mà một phần công việc được chuyển giao cho doanh nghiệp khác ở trong
nước hay phần một phần công việc được lao động không phải của doanh nghiệp
thực hiện mà là lao động của doanh nghiệp khác trong nước thực hiện.
• Thuê ngoài ngoại biên (Offshore Outsourcing): loại hình này là
doanh nghiệp sẽ chuyển một phần công việc ra ngoài nước, giao cho quốc gia
được giao đó hoàn thành phần công việc đó cho doanh nghiệp.
- Theo nội dung Outsourcing:
• Thuê ngoài hoạt động sản xuất kinh doanh (BPO – Business Process
Outsourcing): BPO là khái niệm để chỉ việc sử dụng các dịch vụ liên quan của các
nhà cung cấp chuyên nghiệp bên ngoài thay vì tự tổ chức cung cấp (in-house)
nhằm giảm chi phí và tăng khả năng cạnh tranh cũng như khả năng tập trung phát
huy những mặt mạnh của doanh nghiệp.Khái niệm BPO được nhắc đến tại Việt
Nam từ cuối năm 2005, nhưng theo khảo sát của IDC, tới năm 2007 vẫn chỉ có
17% các tổ chức, doanh nghiệp Việt Nam cho biết đã sử dụng dịch vụ BPO.Các
dịch vụ BPO đã có nhiều doanh nghiệp đang cung cấp chủ yếu như: bảo vệ, kế
toán tài chính, luật và dự án IT.
• Thuê ngoài hoạt động nghiên cứu thiết kế (KPO-Knowledge
Proccess Outsourcing): dịch vụ KPO bao gồm tất cả các loại nghiên cứu và thu
thập thông tin, ví dụ như nghiên cứu sở hữu trí tuệ cho các ứng dụng bằng sáng
chế; nghiên cứu vốn chủ sở hữu , kinh doanh và nghiên cứu thị trường , dịch vụ
pháp lý và y tế, đào tạo, tư vấn và nghiên cứu và phát triển trong các lĩnh vực.
• Thuê ngoài dịch vụ công nghệ thông tin (ITO - Information
Technology Outsourcing): là lại hình sử dụng lao động ngoài doanh nghiệp trong
lĩnh vực công nghệ thông tin của doanh nghiệp.
• Phát triển ứng dụng và bảo trì (Application Development and
maintenance): lao động được thuê ngoài làm việc trong bộ phận nghirnj cứu phát
triển ứng dụng và bảo trì sản phẩm cho doanh nghiệp.
• Dịch vụ tổng đài và chăm sóc khách hàng (call centers – customer
service): bộ phận tổng đài và chăm sóc khách hàng được lao động thuê ngoài thực
của hai doanh nghiệp trở lên đồng thời thuê ngoài một nguồn lực lượng lao động
nào đó nhằm tiết kiệm chi phí thuê ngoài lao động và phục vụ lợi ích riêng của
mỗi doanh nghiệp.
• Hợp tác chiến lược (Strategic partnership): trong các chiến lược của
doanh nghiệp, doanh nghiệp cần hợp tác với doanh nghiệp khác, thuê lao động của
nhau để thuận lợi cho việc thực hiện chiến lược của mình.
2.2.2. Tính hai mặt của outsourcing
2.2.2.1. Vai trò của outsourcing
Ngay từ những ngày đầu phát triển, mô hình outsourcing đã tỏ ra có ưu thế và
được các công ty đánh giá cao. Theo các nguồn tài liệu khác nhau, ở Mỹ có gần 60%, còn
ở châu Âu có 45% tổng số doanh nghiệp sử dụng dịch vụ của các công ty chuyên nghiệp
trong lĩnh vực cung cấp nguồn nhân lực bên ngoài. Dự tính trong những năm tới
thị trường outsourcing vẫn sẽ tăng tưởng nhanh chóng với sự gia tăng các công ty có nhu
cầu outsource các công việc từ cấp thấp đến cấp cao ra bên ngoài, đồng thời số công ty
cung cấp dịch vụ outsourcing cũng tăng lên. Trên thực tế càng nhiều công ty outsourcing
thì rủi ro càng nhỏ vì các doanh nghiệp có kinh nghiệm hơn và có mục tiêu rõ ràng hơn.
Vậy tại sao lại có sự gia tăng trên? Trong kinh doanh hiện đại, outsourcing cho phép một
doanh nghiệp sử dụng những dịch vụ truyền thống dựa trên những điều kiện linh hoạt,
với ý tưởng chủ đạo là: đảm bảo sự mềm dẻo nhưng năng động, chi phí thấp và có khả
năng phát triển.Trong phần này tác giả sẽ cố gắng hệ thống lại một cách đầy đủ nhất
những ưu điểm cũng như vai trò của outsourcing trong hoạt động của doanh nghiệp.Có
thể kể đến một số những điểm nổi bật như:
• Chuyên môn hóa công việc
Mỗi công ty đều có thế mạnh riêng của mình, vì thế vai trò đầu tiên của
outsourcing là giúp cho doanh nghiệp tập trung vào chuyên môn, và nâng cao hiệu quả
của các hoạt động khác bằng cách sử dụng nguồn nhân lực bên ngoài. Trong công ty có
một số hoạt động tuy không tiếp xúc trực tiếp với khách hàng (back office) nhưng hầu hết
chúng rất quan trọng đối với các công việc hàng ngày của tổ chức.Thông qua outsource
các hoạt động back office cho một bên chuyên môn thứ ba quản lý, công ty có thể tập
trung vào công việc kinh doanh chính của mình.
dựng các chiến lược. Tuy nhiên, khi hoạt động kinh doanh được outsourcing thành công,
tỉ lệ này sẽ thay đổi, các nhà quản lý có thể cân đối dành nhiều thời gian hơn để xây dựng
chiến lược. Bên cạnh đó, công ty có điều kiện tốt hơn để phân bổ lại các nguồn lực cho
các dự án quan trọng, giúp tiết kiệm thời gian khám phá các khu vực lợi nhuận mới, tăng
số dự án và tập trung vào chăm sóc khách hàng.
• Giúp nâng cao khả năng cạnh tranh doanh nghiệp
Lãnh đạo doanh nghiệp tìm đến mô hình dịch vụ outsourcing khi họ phải đối diện
với yêu cầu đảm bảo năng lực cạnh tranh của mình. Một công ty muốn đứng vững trên
thị trường, cần cung cấp các dịch vụ có chất lượng cao, và chi phí hợp lý tương ứng. Khi
sử dụng nguồn lực bên ngoài, công ty chỉ quan tâm đến giá cả và chất lượng dịch vụ nhận
được, còn các rủi ro tài chính sẽ nhường lại cho các nhà cung cấp, vì thế, chất lượng dịch
vụ mà công ty quyết định outsourcing cũng ngày càng tăng lên và hiệu quả cao hơn.
2.2.2.2. Hạn chế của outsourcing
Bên cạnh những ưu điểm mà doanh nghiệp có thể tận dụng đƣợc từoutsourcing,
vẫn có các mặt hạn chế của dịch vụ này mà mỗi công ty cần cân nhắc trước khi quyết
định có outsourcing không:
• Công ty outsource có thể rơi vào bị động nếu bên cung cấp dịch vụ
từ chốicung cấp do bị phá sản, không có đủ khả năng về tài chính, nguồn nhân lực,
… Các công ty có thể lại phải tìm một đối tác khác, và bắt đầu lại toàn bộ quá
trình outsourcing khi xảy ra sự cố này. Cũng bởi bên nhận outsouce có thể phá sản
mà không hề có những dấu hiệu báo trước rõ ràng, nên sự đảm bảo tính ổn định
của bên cung cấp dịch vụ được coi là rủi ro lớn nhất đối với bên outsource.
• Công ty phải đối mặt với nguy cơ mất khả năng kiểm soát với các
chức năng được outsource
Outsourcing đòi hỏi việc quản lý quy trình phải được chuyển sang cho bên cung
cấp dịch vụ, vì thế rủi ro mất quyền kiểm soát đối với quy trình, chức năng được
outsource là rất lớn, trong đó mối lo ngại lớn nhất là về mức độ và chất lượngcung cấp
dịch vụ. Ví dụ như khi dịch vụ IT được outsource thì công ty outsource khó có thể kiểm
soát được một cách trực tiếp phạm vi dự án, công nghệ, hay chi phí. Nếu công ty
outsource không hiểu biết rất rõ về mảng IT thì sẽ rất khó để quyết định xem họ có nên
- Chiến lược kinh doanh: các chiến lược ngắn hạn, dài hạn mà doanh nghiệp muốn
đạt tới ảnh hưởng đến chiến lược về nguồn nhân lực, chính sách tuyển dụng lao động dài
hạn hay thuê lao động tạm thời để đạt được mục tiêu kinh doanh đã đặt ra.
- Ngành nghề, lĩnh vực hoạt động và quy mô hoạt động của doanh nghiệp: lĩnh
vực hoạt động của doanh nghiệp cũng là một nhân tố ảnh hưởng lớn đến vấn đề thuê lao