Môn: Quản trị chiến lược 1.2 Nhóm thảo luận: 10
VÀI NÉT VỀ NGÂN HÀNG TECHCOMBANK
Tên đầy đủ DN : Ngân hàng thương mại cổ phần kĩ thương Việt Nam.
Tên viết tắt DN : Techcombank.
Trụ sở : 70 – 72 Bà Triệu, Hoàn Kiếm, Hà Nội.
Ngày thành lập : 27/9/1993.
Loại hình doanh nghiệp : Ngân hàng thương mại.
Tel: (04) 944 6368 Fax: (04) 944 6362.
Website : www.techcombank.com.vn
Ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp : Ngành ngân hàng.
- Giấy phép hoạt động Ngân hàng số 0040/NH - GP ngày 6 tháng 8 năm 1993.
- Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 055697 ngày 7 tháng 9 năm 1993.
I-Xác định các hoạt động kinh doanh chiến lược (SBU)
1. Cung ứng tín dụng và đầu tư, tài trợ dự án.
2. Các dịch vụ thanh toán quốc tế và ngoại hối.
3. Các dịch vụ nhận tiền gửi.
4. Các dịch vị thanh toán.
5. Các dịch vụ ngân quỹ, tư vấn đầu tư, môi giới, chiết khấu thương phiếu.
II-Tầm nhìn sứ mạng kinh doanh của doanh nghiệp
Tầm nhìn 2010:
Trở thành Ngân hàng tốt nhất và doanh nghiệp hàng đầu Việt Nam.
Sứ mệnh:
- Trở thành đối tác tài chính được lựa chọn và đáng tin cậy nhất của khách hàng nhờ
khả năng cung cấp đầy đủ các dịch vụ tài chính đa dạng và dựa trên cơ sở luôn coi khách hàng
là trọng tâm.
- Luôn tạo dựng cho cán bộ nhân viên một môi trường làm việc tốt nhất với nhiều cơ
hội để phát triển năng lực, đóng góp giá trị và tạo dựng sự nghiệp thành đạt.
- Mang lại cho cổ dông những lợi ích hấp dẫn, lâu dài thông qua việc triển khai một
chiến lược phát triển kinh doanh nhanh mạnh song song với việc áp dụng các thông lệ quản trị
doanh nghiệp và quản lý rủi ro chặt chẽ theo tiêu chuẩn quốc tế.
III-Một số chỉ tiêu tài chính cơ bản
- Tốc độ tăng trưởng năm 2007: 19% - 21%
- Tốc độ tăng trưởng năm 2008: 21% - 22%
- Tốc độ tăng trưởng năm 2009: 25% - 27%
II. Giai đoạn trong chu kỳ phát triển của ngành
Qua các số liệu trên có thể thấy Techcombank đang ở giai đoạn tăng trưởng mạnh trong
chu kỳ phát triển của ngành.
III. Đánh giá tác động của môi trường vĩ mô
Các nhân tố môi trường bên ngoài có tác động mạnh đến hệ thống ngân hàng nói chung
và ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam nói riêng là:
- Nhân tố chính trị - pháp luật.
- Nhân tố công nghệ.
- Môi trường kinh tế.
- Môi trường văn hóa - xã hội.
1. Nhân tố chính trị - pháp luật:
Có thể thấy rằng nhân tố chính trị - pháp luật là nhân tố có tác động mạnh nhất trong
giai đoạn hiện nay và trong trung dài hạn đến ngân hàng nói chung và ngân hàng
Techcombank nói riêng.
Môi trường chính trị Việt Nam được đánh giá là ổn định so với các nước trong khu vực
và trên thế giới, là một trong những điểm mạnh để thu hút đầu tư nước ngoài, tạo điều kiện
cho ngành tài chính – ngân hàng mở rộng và phát triển ổn định.
10/1998: Luật Ngân hàng Nhà nước (NHNN) và Luật Các tổ chức tín dụng (TCTD) có
hiệu lực tạo ra một sân chơi bình đẳng hơn cho các tổ chức tín dụng, góp phần duy trì ổn định
và phát triển kinh tế đất nước.
2003 – 2004: Luật NHNN và Luật Các TCTD được bổ sung, sửa đổi giải quyết sự thiếu
hụt về các dịch vụ ngân hàng, nâng cao chất lượng hoạt động, năng lực quản lý và khuyến
khích sự độc lập của các TCTD, nhằm đáp ứng các yêu cầu của việc hội nhập kinh tế khu vực
và quốc tế.
Chính sách tiền tệ: từ những năm 1990 đến nay, NHNN đã thành công trong việc điều
hành chính sách tiền tệ, ổn định giá trị đồng tiền, kiểm soát lạm phát, góp phần thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế, đảm bảo sự ổn định và phát triển hệ thống các TCTD. Bên cạnh đó, môi trường
rộng mạng lưới, phát triển dịch vụ mới. Trong năm 2009, nhiều sản phẩm - dịch vụ mới giàu
chất công nghệ được ra mắt, khẳng định thế mạnh của Techcombank trong việc ứng dụng
công nghệ, đáp ứng nhu cầu của thị trường và được khách hàng đón nhận. Đặc biệt sản phẩm
tiết kiệm Online dù mới đi vào hoạt động từ tháng 9/2009 nhưng chỉ sau 3 tháng hoạt động đã
đạt số dư 93 tỷ đồng với 2.000 khách hàng. Trong năm 2009, khối dịch vụ khách hàng doanh
nghiệp của Techcombank cũng đã xây dựng nhiều chương trình tài trợ nhà phân phối, tạo lập
quan hệ đối tác với nhiều doanh nghiệp lớn cũng như mở rộng thêm đối tượng khách hàng là
các nhà phân phối của những đối tác này. Nhiều dự án kết nối công nghệ thông tin với các đối
tác như HSBC, Bank Net, Vietnam Airline, Bảo Việt Nhân Thọ…đã được triển khai thành
công.
Rất nhiều các ngân hàng đã thay đổi bộ mặt nhờ công nghệ. Do đó, nếu cho ngành công
nghệ là đòn bẩy để các ngân hàng nâng cao năng lực cạnh tranh thì cũng rất đúng. Nhiều
chuyên gia tin rằng, càng ngày, khi môi trường cạnh tranh càng khốc liệt thì yếu tố công nghệ
chính là yếu tố quyết định để tạo ra sự khác biệt trong các ngân hàng.
3. Nhân tố kinh tế
Nền kinh tế tăng trưởng cao, ổn định và được nhiều chuyên gia dự báo sẽ tiếp tục duy
trì trong vài năm tới. Nền kinh tế Việt Nam nói chung và lĩnh vực tài chính ngân hàng nói
riêng sẽ hội nhập ngày càng sâu rộng hơn với nền kinh tế thế giới.
Việt Nam là một nước có nền kinh tế đang nổi, một thị trường đầy tiềm năng, tốc độ tăng
trưởng GDP ổn định (GDP 2008 và 2009 đạt 6,18% và 5,2%. Dự kiến năm 2010 đạt 6,5%).
Thu nhập bình quân đầu người tiếp tục tăng trưởng ổn định (bình quân đầu người khoảng
1.200 USD/năm năm 2010). Lượng FDI tiếp tục tăng trưởng mạnh mẽ (tháng 1/2010 Việt
Nam đã thu hút thêm 318 triệu USD vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), tăng 71,9% so với
cùng kỳ năm trước).
3
Môn: Quản trị chiến lược 1.2 Nhóm thảo luận: 10
Những tiến trình của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và thực thi các cam kết khi gia
nhập tổ chức thương mại thế giới đối với kĩnh vực ngân hàng. Trong quá trình đàm phán gia
nhập WTO các cam kết trong lĩnh vực tài chính ngân hàng được xác định là khó khăn và nhạy
cảm nhất. Bởi lẽ các cam kết này có tác động trực tiếp đến an ninh kinh tế của đất nước. Cùng
Đồng thời Techcombank cũng đã và đang xây dựng mô hình thanh toán quốc tế tập
trung cao với sự lãnh đạo của nhà quản lý chuyên nghiệp, giàu kinh nghiệm lĩnh vực thanh
toán quốc tế tại ngân hàng nước ngoài và Techcombank, đội ngũ nhân viên có trình độ chuyên
môn, nhiệt huyết trong công việc. Tốc độ xử lý các giao dịch thanh toán quốc tế của
Techcombank ngày càng nhanh chóng, chất lượng tốt hơn nhờ sự hỗ trợ của hệ thống công
nghệ hiện đại core banking chuyển đổi thành công hệ thống thanh toán quốc tế SWIFT từ
SWIFT Entry sang SWIFT Net Fin theo yêu cầu của tổ chức thanh toán quốc tế.
Trong 6 tháng đầu năm nay, Techcombank đã tiến hành tăng vốn điều lệ đợt 1 năm
2010 lên hơn 6.930 tỷ đồng, trở thành ngân hàng thương mại đô thị đa năng ở Việt Nam, cung
4
Môn: Quản trị chiến lược 1.2 Nhóm thảo luận: 10
cấp dịch vụ tài chính đồng bộ, đa dạng và có tính cạnh tranh cao cho người dân và doanh
nghiệp.
Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của Việt Nam đang trong giai đoạn
chuyển đổi, nhiều thiết chế mới của thị trường mới trong giai đoạn vận hành và hoàn thiện,
trong đó có thị trường ngân hàng. Điều này có tác động to lớn trong việc xây dựng và quảng
bá thương hiệu của các doanh nghiệp trên thị trường nói chung và các NHTM nói riêng.
4. Nhân tố văn hóa – xã hội:
Cùng với việc phát triển kinh tế ổn định, xã hội Việt Nam cũng có nhiều chuyển biến rõ
nét, dân trí phát triển cao, đời sống người dân ngày càng được cải thiện. Nhu cầu người dân
quan tâm đến việc thanh toán qua ngân hàng, và các sản phẩm dịch vụ tiện ích khác do ngân
hàng cung cấp ngày càng tăng.
IV. Đánh giá cường độ cạnh tranh
1. Tồn tại các rào cản gia nhập ngành
Những điều kiện liên quan đến việc gia nhập ngành rất khắt khe mà không phải tổ
chức, cá nhân nào cũng có thể đáp ứng. Nếu các ngân hàng dễ dàng gia nhập thị trường thì
mức độ cạnh tranh sẽ càng lúc càng gia tăng. Rào cản giá nhập còn được thể hiện qua các phân
khúc thị trường, thị trường mục tiêu mà các ngân hàng hiện tại đang nhằm đến, giá trị thương
hiệu cũng như cơ sở khách hàng, lòng trung thành của khách hàng mà các ngân hàng đã xây
dựng được. Những điều này đặc biệt quan trọng bởi nó sẽ quyết định khả năng tồn tại của một
Khái niệm nhà cung cấp trong ngành ngân hàng khá đa dạng. Họ có thể là những cổ
đông cung cấp vốn cho ngân hàng hoạt động, hoặc là những công ty chịu trách nhiệm về hệ
thống hoặc bảo trì máy ATM. Hiện tại ở Việt Nam các ngân hàng thường tự đầu tư trang thiết
bị và chọn cho mình những nhà cung cấp riêng tùy theo điều kiện. Điều này góp phần giảm
quyền lực của nhà cung cấp thiết bị khi họ không thể cung cấp cho cả một thị trường lớn mà
phải cạnh tranh với các nhà cung cấp khác. Tuy nhiên khi đã tốn một khoản chi phí khá lớn
vào đầu tư hệ thống, ngân hàng sẽ không muốn thay đổi nhà cung cấp vì quá tốn kém, điều
này lại làm tăng quyền lực của nhà cung cấp thiết bị đã thắng thầu.
Quyền lực của các cổ đông trong ngành ngân hàng thì như thế nào? Không nhắc đến
những cổ đông đầu tư nhỏ lẻ thông qua thị trường chứng khoán mà chỉ nói đến những đại cổ
đông có thể tác động trực tiếp đến chiến lược kinh doanh của một ngân hàng. Nhìn chung hầu
hết các ngân hàng Việt Nam đều nhận đầu tư từ một ngân hàng khác, quyền lực của nhà đầu tư
sẽ tăng lên rất nhiều nếu như họ có đủ cổ phần và việc sáp nhập với ngân hàng được đầu tư có
thể xảy ra. Ở một khía cạnh khác ngân hàng đầu tư sẽ có một tác động nhất định đến ngân
hàng đầu tư.
3.Quyền lực thương lượng từ phía khách hàng
Vấn đề sống còn của ngân hàng dựa trên đồng vốn huy động được của khách hàng. Nếu
không còn thu hút được dòng vốn của khách hàng thì ngân hàng tất nhiên sẽ bị đào thải. Ví dụ:
Sự kiện nổi bật gần đây là việc các ngân hàng quyết định thu phí sử dụng ATM trong khi
người tiêu dùng không đồng thuận. Vụ việc này đã ảnh hưởng không ít đến mức độ hài lòng
và lòng tin của khách hàng. Nhưng không vì thế mà ta có thể đánh giá thấp quyền lực của
khách hàng trong ngành ngân hàng tại Việt Nam.
Trong vụ việc này, ngân hàng và khách hàng ai cũng có lý lẽ của mình nhưng rõ ràng
nó đã ảnh hưởng không ít đến mức độ hài lòng và lòng tin của khách hàng. Nhưng cũng không
thể vì thế mà ta có thể đánh giá thấp quyền lực của khách hàng trong ngành ngân hàng của
Việt Nam.
Điều quan trọng nhất vẫn là việc sống còn của ngân hàng dựa trên đồng vốn huy động
được của khách hàng. Nếu không còn thu hút được dòng vốn của khách hàng thì ngân hàng tất
nhiên sẽ bị đào thải. Trong khi đó, nguy cơ thay thế của ngân hàng ở Việt Nam, đối với khách
hàng tiêu dùng là khá cao. Với chi phí chuyển đổi thấp, khách hàng gần như không mất mát gì
Các sản phẩm và dịch vụ của ngành ngân hàng Việt Nam có thể xếp vào 5 loại:
- Là nơi nhận các khoản tiền (lương, trợ cấp, cấp dưỡng…)
- Là nơi giữ tiền (tiết kiệm…)
- Là nơi thực hiện các chức năng thanh toán
- Là nơi cho vay tiền
- Là nơi hoạt động kiều hối
Đối với khách hàng doanh nghiệp, nguy cơ ngân hàng bị thay thế không cao lắm do đối
tượng khách hàng này cần sự rõ ràng cũng như các chứng từ, hóa đơn trong các gói sản phẩm
và dịch vụ của ngân hàng. Nếu có phiền hà xảy ra trong quá trình sử dụng sản phẩm, dịch vụ
thì đối tượng khách hàng này thường chuyển sang sử dụng một ngân hàng khác vì những lý do
trên thay vì tìm tới các dịch vụ ngoài ngân hàng.
Đối với khách hàng tiêu dùng thì nguy cơ ngân hàng bị thay thế là rất cao vì sự bất tiện
trong thanh toán cộng với tâm lý chuộng tiền mặt đã khiến họ muốn giữ và sử dụng tiền mặt
hơn là thông qua ngân hàng. Ngay ở siêu thị, người tiêu dùng phải chờ đợi nhân viên đi lấy
máy đọc thẻ hoặc đi tới một quầy khác khi muốn sử dụng thẻ để thanh toán. Chính sự bất tiện
này cộng với tâm lý chuộng tiền mặt đã khiến người tiêu dùng muốn giữ và sử dụng tiền mặt
hơn là thông qua ngân hàng. Ngoài hình thức gửi tiết kiệm ở ngân hàng, người tiêu dùng Việt
Nam còn có khá nhiều lựa chọn khác như giữ ngoại tệ, đầu tư vào chứng khoán, các hình thức
bảo hiểm, đầu tư vào kim loại quý (vàng, kim cương…) hoặc đầu tư vào nhà đất. Đó là chưa
kể các hình thức không hợp pháp như là “chơi hụi”. Không phải lúc nào lãi suất ngân hàng
cũng hấp dẫn người tiêu dùng. Chẳng hạn như thời điểm này, giá vàng đang sốt, tăng giảm đột
biến trong ngày, trong khi đô la Mỹ ở thị trường tụ do cũng biến động thì lãi suất tiết kiệm của
đa số các ngân hàng chỉ ở mức 11%/năm.
6. Đe dọa từ các gia nhập mới:
7
Môn: Quản trị chiến lược 1.2 Nhóm thảo luận: 10
Nếu các ngân hàng dễ dàng gia nhập thị trường thì mức độ cạnh tranh sẽ càng lúc càng
gia tăng. Nguy cơ từ các ngân hàng mới sẽ phụ thuộc vào “độ cao” của rào cản gia nhập. Theo
các cam kết khi gia nhập WTO, lĩnh vực ngân hàng sẽ được mở cửa dần theo lộ trình bảy năm.
Ngành ngân hàng đã có những thay đổi cơ bản khi các tổ chức tài chính nước ngoài có thể
bởi nhiều yếu tố thuận lợi.
Biểu đồ thể hiện mức độ hấp dẫn của ngành ngân hàng hiện nay
9
Môn: Quản trị chiến lược 1.2 Nhóm thảo luận: 10
V. Xác định các nhân tố thành công chủ yếu trong ngành (KFS)
1. Thị trường của ngành biến động không ngừng, đem lại nhiều lợi nhuận.
2. Việt Nam gia nhập các tổ chức thương mại quốc tế tạo điều liện thuận lợi cho ngành phát
triển.
3. Nhu cầu tài chính tín dụng là không ngừng nghỉ ở mọi giai đoạn.
VI. Thiết lập mô thức EFAS
10
Môn: Quản trị chiến lược 1.2 Nhóm thảo luận: 10
Các nhân tố chiến lược Độ
quan
trọng
Xếp
loại
Tổng
điểm
quan
trọng
Giải thích
Các cơ hội:
1. Thị trường thẻ thanh toán hấp dẫn
2. Việt Nam gia nhập WTO
3. Thị trường bán lẻ tiềm năng đang trở
thành xu hướng tất yếu.
4. Nhu cầu về vốn ở thị trường VN vẫn
rất lớn
5. Công nghệ ngành ngân hàng ngày càng
4
4
2
3
3
0,6
0,4
0,1
0,3
0,3
Tổng
1,0 3,3
⇒
Khả năng phản ứng với môi trường bên ngoài của ngân hàng Techcombank là khá tốt.
Giải thích
1.Cơ hội
(1) Thị trường thẻ thanh toán hấp dẫn
Tháng 12/2006 cùng với việc phê duyệt đề án phát triển thanh toán không dùng tiền
mặt giai đoạn 2006-2010 và tầm nhìn đến 2020, Chính phủ cũng đã ban hành nghị định
161/2006/ND-CP quy định về thanh toán bằng tiền mặt.
Ông Basel Abdelmoneim – Phó chủ tịch BGS ( smartcard Systems AG) tỏ ra khá am
hiểu về thị trường Việt Nam khi đưa ra những con số khá chính xác: 86% chi phí mua sắm của
người dân Việt Nam hiện nay được trả bằng tiền mặt; 32% tiền thuế được thu bằng tiền mặt;
và 22% dịch vụ khác thanh toán bằng tiềng mặt. ông cho rằng Việt Nam là một trong những
nền kinh tế mạnh trong khu vực, cộng với vai trò là thành viên của WTO chắc chắn việc thanh
toán phi tiền mặt sẽ tăng trong tương lai. Và theo ông, ngay từ bây giờ phải xây dựng nền tảng
cho hệ thống thanh toán đa mục tiêu.
Từ đầu năm 2006, ông Michael Cannon, Tổng giám đốc phụ trách thẻ thương mại khu
vực châu Á - Thái Bình Dương Tập đoàn Visa đã nhận định: Nếu Việt Nam đạt được mức chi
tiêu thương mai trung bình trong khu vực thì sẽ có hơn 200 triệuUSD được thanh toán bằng
nhánh. Khách hàng còn có thể tiếp cận trực tiếp với sản phẩm và dịch vụ ngân hàng qua các
phương tiện viễn thông và công nghệ thông tin tiên tiến, khi sử dụng dịch vụ online hoặc qua
điện thoại di động. Đối tượng của ngân hàng bán lẻ là các cá nhân, doanh nghiệp vừa và nhỏ,
nên dịch vụ thường đơn giản, thuận tiện, phục vụ nhu cầu thường nhật, tập trung và dịch vụ
tiền gửi và tài khoản, vay vốn, thẻ thanh toán…
Việt Nam với dân số khoảng 85 triệu người và mức thu nhập ngày càng tăng, là thị
trường đầy tiềm năng cho dịch vụ NHBL. Các ngân hàng trong nước đã quan tâm và tập trung
khai thác thị trường bán, như đẩy mạnh hiện đại hoá công nghệ, phát triển dịch vụ mới, đa tiện
ích và được xã hội chấp nhận như máy giao dịch tự động (ATM), internet banking, home
banking, PC banking… Thực tế này đã đánh dấu bước phát triển mới của thị trường dịch vụ
NHBL tại Việt Nam, làm cơ sở cho việc phát triển dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt.
Nhờ đó tỉ trọng nguồn vốn huy động từ dân cư tăng lên đáng kể và chiếm 35-40% vốn huy
động.
Techcombank có lợi nhuận đứng thứ ba trong số các ngân hàng cổ phần, cũng đang tìm
kiếm cơ hội mở rộng hoạt động ngân hàng bán lẻ, trong khi vẫn tập trung vào khối các doanh
nghiệp nhỏ và vừa, đồng thời tiếp tục thực hiện dự án của mình từ năm 2006 trong lĩnh vực
ngân hàng tiêu dùng. Các hoạt động của Techcombank trùng lắp với các hoạt động ngân hàng
tiêu dùng của HSBC nhưng không phải là vấn đề đáng lo ngại trong tình hình mỗi ngân hàng
có một ưu thế cạnh tranh riêng. Techcombank có kế hoạch phát hành cổ phiếu lần đầu (IPO)
vào cuối năm 2008, có tỷ lệ tăng trưởng tín dụng đạt khoảng 70% trong năm.
12
Môn: Quản trị chiến lược 1.2 Nhóm thảo luận: 10
(4) Nhu cầu về vốn ở thị trường Việt Nam vẫn rất lớn.
Việt Nam là thị trường mới nổi, đối với hoạt động ngân hàng, xét về khía cạnh cung
vốn sẽ tiếp tục phát triển. Việt Nam là nước đang phát triển cần rất nhiều vốn trong việc xây
dựng cơ sở hạ tầng, phát triển kinh tế…
Để đạt được mục tiêu trở thành quốc gia công nghiệp hoá và hiện đại hoá trong 20 năm
đầu của thế kỷ 21, Việt Nam phải hoàn tất củng cố hệ thống cơ sở hạ tầng. Điều này yêu cầu
một nguồn vốn khổng lồ, bao gồm quỹ Nhà nước và vốn từ các cá nhân cả trong nước và nước
ngoài, cũng như sự hợp tác chặt chẽ giữa Nhà nước và cá nhân trong việc phát triển hệ thống
động PR còn nhiều yếu kém.
Cam kết mở rộng dịch vụ tài chính - ngân hàng cho phép các ngân hàng 100% vốn
nước ngoài được phép hoạt đọng tại Việt Nam bắt đầu từ ngay 1/4/2007. Đây là mối lo lớn
nhất của các ngân hàng trong nước vì khả năng tài chính, công nghệ thua kém ở mức độ cách
biệt so với các ngân hàng, tổ chức tài chính nước ngoài
13
Môn: Quản trị chiến lược 1.2 Nhóm thảo luận: 10
Thách thức chủ yếu là sự tham gia ngày càng sâu rộng của ngân hàng nước ngoài khiến
hệ thống ngân hàng trong nước phải đối mặt với nguy cơ mất dần lợi thế về dịch vụ ngân hàng
bán lẻ (hiện chiếm 90% thị phần) và những rủi ro thị trường về giá, tỷ giá, lãi suất có thể bắt
nguồn từ sự lan truyền các cuộc khủng hoảng tài chính khu vực và thế giới.
(2) Rủi ro hoạt động thẻ
Thời gian vừa qua, hiệp hội ngân hàng Việt Nam đã nhận được phản ánh của một số tổ
chức hội viên có hoạt động kinh doanh thẻ về việc xuất hiện những giao dịch lạ (rút tiền bằng
thẻ của khách) trên máy ATM. Nhiều khách hàng khiếu nại tại thời điểm có giao dịch, khách
hàng mang thẻ theo người và không thực hiện bất cứ giao dịch rút tiền nào từ tài khoản. Đây
có thể là hành vi lấy cắp dữ liệu của khách hàng để sản xuất thẻ giả và xâm hại tài khoản của
khách hàng.
Nếu hoạt động này diễn ra trên phạm vi rộng, sẽ gây tâm lý lo lắng, hoang mang cho
khách hàng, ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động kinh doanh thẻ của các ngân hàng hiện nay và
ảnh hưởng nghiêm trọng đến chủ trương của chính phủ về việc khuyến khích thanh toán
không dùng tiền mặt.
(3) Những biện pháp điều chỉnh của nhà nước
Đầu 2009 mặc dù không tuyên bố chính thức, nhưng việc nới lỏng chính sách tiền tệ là
có và với quy mô lớn. Nới lỏng ở đây là tiền cung ra thị trường nhiều, lãi suất thấp, ưu đãi cho
người vay vốn nhiều hơn khi có chủ trương hỗ trợ lãi suất, kích cầu. Thế nhưng, sang năm
2010, với thông điệp được đưa ra kiểm soát tăng trưởng tín dụng dưới mức 25% thì hoạt động
của ngành sẽ bị kiểm soát chặt chẽ hơn. Như vậy, năm 2010, sẽ không loại trừ việc các ngân
hàng sẽ phải đối mặt với những vấn đề khó giải quyết.
(4) Thị trường chứng khoán, bất động sản Việt Nam phát triển mạnh