giải pháp nâng cao chất lượng công tác quản lý bảo trì đường thuỷ nội địa của đoạn quản lý đường thuỷ nội địa số 13 đến năm 2020 - Pdf 25

MỞ ĐẦU
Việt Nam có mạng lưới sông kênh vô cùng phong phú và đầy tiềm năng, với
tổng chiều dài hơn 41.900km bao gồm 2.360 sông, kênh, 3.260km bờ biển, trên
100 cửa sông, nhiều hồ, đầm, phá, vịnh…tạo nên mạng lưới giao thông đường thủy
đến hầu hết các thành phố, thị xã, các khu dân cư và các vùng kinh tế tập trung.
Vận tải thủy cùng với các ngành vận tải khác luôn gắn liền với lịch sử dựng
nước, giữ nước và phát triển kinh tế của Việt Nam. So với các phương thức vận tải
khác, vận tải thủy, có nhiều ưu điểm: giá thành hạ, vận tải được nhiều, ít gây ô
nhiễm môi trường. Vận tải thủy còn thỏa mãn được việc chuyên chở với khối
lượng lớn cho các khu công nghiệp, vận chuyển an toàn cho những khối hàng siêu
trường, siêu trọng. Hiện tại vận tải thủy nội địa đang đảm nhận gần 30% tổng
lượng hàng hóa lưu thông trong cả nước. Riêng khu vực đồng bằng sông Cửu Long
vận tải thủy đảm nhận tới 70% khối lượng hàng hóa lưu thông trong vùng.
Ở Việt Nam, tất cả các dòng sông chính cùng với các chi lưu và phụ lưu tạo
ra các hệ thống sông như: Hệ thống sông Hồng, sông Thái Bình, sông Bằng Giang
– Kỳ Cùng, sông Thu Bồn, sông Cả, sông Đồng Nai, sông Mê Kông. Tất cả các hệ
thống sông này đan xen, kết nối với hệ thống đường sắt và đường bộ hợp thành
một mạng lưới vận tải thống nhất.
Nhiều cảng sông sát với hệ thống đường bộ và đường sắt thành hệ thống
cảng trung chuyển. Hầu hết các sông chính đều có vị trí tiếp cận hấp dẫn đối với
những cảng biển quan trọng, tạo nên điểm nối giao lưu với kinh tế đối ngoại. Mặt
khác hệ thống sông kênh ở Việt Nam không chỉ là tuyến luồng để khai thác vận tải
mà hệ thống ấy còn mang lại cho nước ta một nền văn minh lúa nước, một tiềm
năng phát triển thủy điện, thủy sản, du lịch v.v…và đặc biệt là nguồn nước ngọt
phục vụ đời sống con người.
Để đáp ứng yêu cầu trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước,
Đảng và Nhà nước khẳng định giao thông vận tải có vị trí đặc biệt quan trọng, đi
trước một bước, phát huy thế mạnh của từng phương thức vận tải, tạo sự đồng bộ.
Trong đó việc tận dụng thế mạnh của mạng lưới sông kênh có mật độ cao, chảy
qua hầu hết các thành phố, thị xã, đến tận thôn ấp đang còn nhiều việc phải làm. Ý
thức được vấn đề này, Bộ Giao thông vận tải đã tiến hành xây dựng qui hoạch phát

lý, bảo trì đảm bảo an toàn giao thông đường thủy nội địa. Vì vậy chúng ta cần
phải có những giải pháp quản lý, bảo trì đường thủy nội địa sao cho hiệu quả ngày
càng được nâng cao đáp ứng được nhu cầu vận tải thủy ngày càng phát triển không
ngừng trong công cuộc đổi mới và phát triển đất nước hiện nay.
Nhằm góp phần xây dựng và thực hiện nhiệm vụ chính trị tại đơn vị, là cán
bộ, đảng viên Đoạn Quản lý Đường thủy nội địa số 13, qua thời gian học tập,
nghiên cứu, nhận thức trên cơ sở lý luận và thực tiễn, nên tôi quyết định chọn đề
tài “Giải pháp nâng cao chất lượng công tác quản lý, bảo trì đường thủy nội địa
của Đoạn Quản lý Đường thủy nội địa số 13 đến năm 2020” làm tiểu luận tốt
nghiệp khóa học Trung cấp lý luận chính trị - Hành chính khóa B62 tại trường
Chính trị Tôn Đức Thắng tỉnh An Giang. Trong quá trình viết tiểu luận mặc dù bản
thân có rất nhiều cố gắng nhưng chắc chắn không tránh khỏi những sai sót và chưa
đáp ứng đầy đủ yêu cầu về nội dung và hình thức, rất mong được sự giúp đỡ và tạo
điều kiện của thầy, cô để em hoàn thành tiểu luận của khóa học.
Chân thành cám ơn!
2
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUẢN LÝ,
BẢO TRÌ ĐƯỜNG THỦY NỘI ĐỊA
1.1. Những vấn đề cơ bản về quản lý, bảo trì đường thủy nội địa :
1.1.1. Đường thủy nội địa :
Khái niệm :
Đường thủy nội địa là luồng, âu tàu, các công trình đưa phương tiện qua
đập, thác trên sông, kênh, rạch hoặc luồng trên hồ, đầm, phá, vụng, vịnh, ven bờ
biển, ra đảo, nối các đảo thuộc nội thuỷ của Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt
Nam được tổ chức quản lý, khai thác giao thông vận tải.
Hoạt động giao thông đường thuỷ nội địa là hoạt động của người, phương
tiện tham gia giao thông, vận tải đường thuỷ nội địa; quy hoạch phát triển, xây
dựng, khai thác, bảo vệ kết cấu hạ tầng giao thông đường thuỷ nội địa và quản lý
nhà nước về giao thông đường thuỷ nội địa.

thông; thanh tra, kiểm tra việc bảo vệ công trình thuộc kết cấu hạ tầng giao thông
đường thuỷ nội địa.
Sửa chữa, bảo trì định kỳ hoặc đột xuất luồng, báo hiệu, thiết bị, công trình
phục vụ trên tuyến giao thông đường thuỷ nội địa, phương tiện dùng để quản lý,
bảo trì đường thủy nội địa; thanh thải vật chướng ngại; phòng, chống và khắc phục
hậu quả lụt, bão.
1.1.2. Sự cần thiết quản lý, bảo trì đường thủy nội địa:
Cùng với các loại hình hệ thống giao thông trên cả nước như đường không,
đường bộ, đường sắt thì hệ thống giao thông đường thủy nội địa có vị trí, vai trò rất
quan trọng trong hệ thống giao thông nước ta hiện nay. Đường thủy nội địa có tính
ưu việt là vận chuyển được khối lượng hàng hóa siêu trường, siêu trọng gấp nhiều
lần so với các loại hình giao thông khác mà giá thành vận chuyển lại thấp hơn
mang lại hiệu quả kinh tế cao so với các phương thức vận tải khác. Đặc biệt là khu
vực đồng bằng sông Cửu Long, với hệ thống sông, kênh chằng chịt đan xen nhau
tạo thành mạng lưới giao thông phong phú và đa dạng, do đó vận tải thủy phát triển
rất lớn chiếm tới hơn 70% khối lượng hàng hóa lưu thông trong vùng mang lại lợi
ích kinh tế cao cho toàn khu vực.
Xuất phát từ thực tế hiện nay, bên cạnh những ưu điểm mà sông kênh ban
tặng thì có một số biểu hiện buông lỏng công tác quản lý nhà nước về đường thủy
nội địa của một số các cơ quan chức năng làm cho chất lượng giao thông thủy có
một số hạn chế nhất định, luồng tuyến chưa được thông thoáng, người tham gia
giao thông chưa thực sự an tâm về chất lượng và độ tin cậy về an toàn giao thông.
Vì vậy để đảm bảo cho phương tiện thủy lưu thông được an toàn, thông suốt thì
công tác quản lý, bảo trì đường thủy nội địa là cần thiết để duy trì và đảm bảo giao
thông luôn được xuyên suốt cho phương tiện hoạt động trên các tuyến đường thủy
nội địa.
1.2.3. Vai trò của cơ quan quản lý đường thủy nội địa :
Vai trò của cơ quan quản lý đường thủy nội địa là quản lý nhà nước về lĩnh
vực đảm bảo an toàn giao thông bằng hệ thống các văn bản pháp luật về giao thông
đường thủy nội địa, có trách nhiệm phối hợp trực tiếp hoặc gián tiếp với cơ quan

cấu hạ tầng cả nước. Phát triển có trọng tâm, trọng điểm và đầu tư tập trung, dứt
điểm kiên quyết hoàn thành những công trình kết cấu hạ tầng kinh tế then chốt
theo hướng hiện đại và tương đối đồng bộ ở các vùng động lực phát triển, các khu
công nghệ cao, các khu công nghiệp, khu kinh tế. Hoàn thiện cơ bản mạng lưới
giao thông thiết yếu, đường ven biển, đường vành đai biên giới”.
1.3. Pháp luật của Nhà nước về phát triển giao thông đường thuỷ nội
địa :
Luật Giao thông Đường thủy nội địa số 23/2004/QH11 ngày 15/6/2004.
Trích Điều 5 của Luật Giao thông đường thủy nội địa như sau :
Nhà nước ưu tiên đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường thuỷ
nội địa trên các tuyến giao thông đường thuỷ nội địa trọng điểm, khu vực kinh tế
5
trọng điểm, vùng sâu, vùng xa có lợi thế về giao thông đường thuỷ nội địa so với
các loại hình giao thông khác.
Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện cho tổ chức, cá nhân Việt Nam, tổ
chức, cá nhân nước ngoài đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường thuỷ
nội địa, ứng dụng khoa học, công nghệ tiên tiến, đào tạo nguồn nhân lực chuyên
ngành và đầu tư kinh doanh, khai thác vận tải đường thuỷ nội địa để phát triển giao
thông đường thuỷ nội địa bền vững.
Thông tư số 23/2011/TT-BGTVT ngày 31/3/2011 của Bộ Giao thông vận tải
qui định về quản lý đường thủy nội địa. Trích Điều 4 thông tư này về phân loại
đường thủy nội địa như sau :
Đường thuỷ nội địa được phân loại thành đường thuỷ nội địa quốc gia,
đường thuỷ nội địa địa phương và đường thuỷ nội địa chuyên dùng.
1. Đường thuỷ nội địa quốc gia là tuyến đường thuỷ nội địa nối liền các
trung tâm kinh tế, văn hoá xã hội, các đầu mối giao thông vận tải quan trọng phục
vụ kinh tế, quốc phòng, an ninh quốc gia hoặc tuyến đường thuỷ nội địa có hoạt
động vận tải thuỷ qua biên giới.
2. Đường thuỷ nội địa địa phương là tuyến đường thuỷ nội địa thuộc phạm
vi quản lý hành chính của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, chủ yếu phục vụ

là Ban Chỉ huy PCLB & TKCN cơ sở) do Thủ trưởng các đơn vị cơ sở thành lập.
Ban Chỉ huy PCLB & TKCN cơ sở chịu sự chỉ đạo và hướng dẫn nghiệp vụ của
Ban Chỉ huy PCLB & TKCN cấp trên trực tiếp.
2. Nhiệm vụ của Ban Chỉ huy PCLB & TKCN cơ sở:
a) Lập phương án PCLB & TKCN chi tiết phù hợp với điều kiện thực tế, và
chức năng, nhiệm vụ của đơn vị;
b) Phối hợp, hiệp đồng với chính quyền địa phương thực hiện các biện pháp
thích hợp nhằm chủ động PCLB & TKCN trong phạm vi quản lý của đơn vị;
c) Trực tiếp thực hiện công tác kiểm tra các kết cấu hạ tầng giao thông
đường thủy nội địa có liên quan đến công tác PCLB & TKCN; xác định các công
trình xung yếu có nguy cơ bị ảnh hưởng của lụt, bão và sự cố thiên tai; kiểm tra
nhà cửa, kho tàng, vật liệu, trang thiết bị thi công, thông tin liên lạc, trang thiết bị,
vật tư dự phòng trước mùa mưa bão;
d) Trực tiếp và tham gia thực hiện các công việc sau:
- Trực tiếp chỉ huy ứng cứu, khắc phục hậu quả thiệt hại do bão, lụt, sự cố
thiên tai và tai nạn gây ra; đảm bảo giao thông thông suốt và khôi phục sản xuất
nhanh nhất trong mọi tình huống;
- Lập hồ sơ thiết kế, dự toán đối với các công trình bảo vệ, gia cố, sửa chữa
khắc phục hậu quả bão, lụt, sự cố thiên tai, thảm họa; trực tiếp giám sát, chỉ đạo
việc sửa chữa, gia cố, bảo vệ các công trình;
- Mua sắm, tập kết và thường xuyên duy trì bảo quản các vật tư, trang thiết
bị, phương tiện dự phòng cho công tác PCLB & TKCN phù hợp, đúng tiến độ, số
lượng, chủng loại và chất lượng;
- Bố trí nhân lực, thực hiện chế độ trực ban, tuần tra, chốt gác công trình
xung yếu và các khu vực trọng điểm trong mùa mưa, bão.
đ) Thường xuyên liên lạc với Ban Chỉ huy PCLB & TKCN cấp trên hoặc cơ
quan quản lý cấp trên để có thông tin nhanh nhất về tình hình bão, lụt, sự cố thiên
tai, thảm họa và tai nạn xảy ra;
7
e) Tổng kết, rút kinh nghiệm, đề nghị khen thưởng, kỷ luật đối với cá nhân,

6,5km; 6. sông Hậu (nhánh Năng Gù Thị Hòa) – 16km; 7. rạch Ông Chưởng –
21,8km; 8. rạch Khe Luông – 1,5km; 9. sông Cái Lớn – 13,6km; 10. sông Cái Bé
– 5,8km; 11. kênh Ông Hiển Tà Niên – 5,2km; 12. kênh Vành Đai – 8km; 13. kênh
Ba Hòn – 5km; 14. kênh Rạch Sỏi Hậu Giang – 59km; 15. kênh Tám Ngàn –
36km; 16. kênh Mặc Cần Dưng – 12,5km; 17. kênh Tri Tôn Hậu Giang – 57,5km;
18. kênh Rạch Giá Hà Tiên – 80,8km; 19. kênh Ba Thê – 57km; 20. kênh Rạch Giá
Long Xuyên– 64km.
8
Về hệ thống báo hiệu đường thủy nội địa Đoạn đang quản lý, bảo trì thường
xuyên hàng năm :
*Tổng số báo hiệu : 1.617 (trong đó).
Báo hiệu trên bờ : 889 bộ.
- Loại cột Ф 160 cao 6m đến 8,5m gắn biển báo hiệu tình huống : 193 bộ
- Loại cột Ф 168 cao 6m gắn biển báo hiệu chướng ngại vật: 312 bộ
- Loại trụ đèn 12m, 18m gắn đăng tiêu ngã ba sông : 42 bộ.
Báo hiệu tình huống trên cầu : 536 biển
Báo hiệu dưới nước : 192 bộ
- Phao dẫn luồng ≥ Ф 1.200 : 144 bộ.
- Phao dẫn luồng ≥ Ф 1.600 : 48 bộ.
*Tổng số đèn báo hiệu điện : 637 đèn.
- Đèn lắp đặt trên báo hiệu bờ : 316 đèn.
- Đèn lắp đặt trên báo hiệu cầu : 144 đèn.
- Đèn lắp đặt trên báo hiệu dưới nước : 177 đèn.
* Phương tiện thủy phục vụ công tác : 16 chiếc, gồm :
- Tàu công tác từ 30 cv -:- 65 cv : 10 chiếc.
- Tàu công tác từ 174 cv -:- 287 cv : 02 chiếc.
- Tàu thả phao ≥ Ф 1.600 trên sông 294 cv : 01 chiếc.
- Ca nô cao tốc từ 85 cv -:- 115 cv : 03 chiếc.
2.1.2. Chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn:
Quyết định số 212/QĐ-CĐTNĐ ngày 31/3/2009 của Cục Đường thủy nội

đảm an toàn giao thông đường thủy nội địa.
- Thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường đối với xây dựng kết cấu hạ tầng
giao thông đường thủy nội địa; phối hợp với các cơ quan chức năng ờ Trung ương
và địa phương trong việc khắc phục sự cố về môi trường giao thông đường thủy
nội địa.
* Tổ chức thực hiện nhiệm vụ sửa chữa, bảo trì đường thủy nội địa quốc gia
trong phạm vị trách nhiệm được giao bao gồm :
- Xây dựng phương án kỹ thuật, lập kế hoạch và dự toán chi ngân sách vốn
sự nghiệp kinh tế hàng năm trình Cục Đường thủy nội Việt Nam phê duyệt.
- Căn cứ phương án kỹ thuật và dự toán công tác sửa chữa, bảo trì đường
thủy nội địa được cấp có thẩm quyền phê duyệt, tổ chức thực hiện hoặc tổ chức lựa
chọn nhà thầu, ký hợp đồng với các doanh nghiệp để thực hiện.
2.1.3. Tổ chức bộ máy :
Về chính quyền:
Đoạn Quản lý Đường thủy nội địa số 13 được thành lập và hình thành trên
cơ sở 04 phòng nghiệp vụ gồm: (phòng Tổ chức Hành chính, phòng Kinh tế Kế
hoạch, phòng Kỹ thuật và phòng Kế toán tài vụ); 08 đơn vị Trạm Quản lý Đường
thủy nội địa trực thuộc (1. Trạm Quản lý ĐTNĐ Hòn Đất – quản lý 64,25km; 2.
Trạm Quản lý ĐTNĐ Kiên Lương – quản lý 52,5km; 3. Trạm Quản lý ĐTNĐ
Long Xuyên – quản lý 79,3km; 4. Trạm Quản lý ĐTNĐ Rạch Sỏi – quản lý
65,92km; 5. Trạm Quản lý ĐTNĐ Châu Đốc – quản lý 59,45km; 6. Trạm Quản lý
10
ĐTNĐ Châu Phú – quản lý 77,9km; 7. Trạm Quản lý ĐTNĐ Thạnh An – quản lý
62,03km; 8. Trạm Quản lý ĐTNĐ Tri Tôn – quản lý 80,2km) và 01 Đội Cơ khí
Công trình chuyên làm công tác sửa chữa báo hiệu, phương tiện cho các đơn vị.
Với tổng số cán bộ công nhân viên trong toàn đơn vị là 117 người, trải đều trên địa
bàn các tỉnh, thành phố như: An Giang, Kiên Giang và một phần thuộc thành phố
Cần Thơ.
Về tổ chức cơ sở Đảng:
Đảng bộ cơ sở Đoạn quản lý Đường thủy nội địa số 13 trực thuộc Đảng bộ

11
Định kỳ 1 tháng/lần phối hợp với các cơ quan chức năng và lực lượng liên
ngành của địa phương, tổ chức các đợt kiểm tra công tác đảm bảo an toàn giao
thông của cảng, bến thủy nội địa, bến khách ngang sông, công trình xây dựng, chợ
nổi nhằm thiết lập trật tự an toàn giao thông trên tuyến, đảm bảo an toàn giao
thông thông suốt. Đặc biệt là xử lý các phương tiện neo đậu lấn chiếm luồng trong
phạm vi hành lang an toàn các cầu vượt sông, các trọng điểm diễn biến phức tạp về
mùa lũ và trong dịp lễ tết, lễ hội hàng năm.
Thường xuyên kiểm tra, đo dò luồng lạch, khảo sát tình trạng diễn biến của
luồng vào mùa nước kiệt trên các tuyến sông, kênh. Kịp thời lắp đặt bổ sung báo
hiệu thông báo chiều sâu hạn chế cho 07 đoạn cạn cục bộ, báo hiệu vật chướng
ngại nguy hiểm trên luồng cho 05 vị trí đang tồn tại và thông báo luồng bằng văn
bản trên các phương tiện thông tin đại chúng giúp cho các phương thủy được biết
để lưu thông an toàn. Các tuyến kênh bị khan cạn cục bộ gây ảnh hưởng đến giao
thông thủy, số liệu cụ thể như sau:
TT
Tên sông, kênh
(vị trí đoạn cạn)
Bãi
cạn
Các đặc trưng của luồng năm 2012
Độ
sâu
(h)
Mực
nước
(H)
Cao
độ
(Z)

KênhVĩnh Tế
Km 5+100 -:- km
8+600
Đoạn
cạn
1,80 +0,60 -1,20 22 3.500 24/3
6
Sông Hậu_nhánh
Năng Gù - Thọ Hòa
Km 7+600 -:- km
8+100
Đoạn
cạn
1,60 +0,30 -1,30 60 500 11/5
7
Kênh Mặc Cần Dưng
Km 5+00 -:- km
10+500
Đoạn
cạn
1,60 +0,30 -1,30 22 5.500 23/3
Thực hiện quản lý cơ sở hạ tầng, thống kê theo dõi mực nước, phương tiện,
thường trực đảm bảo ATGT và hướng dẫn pháp luật tại 08 Trạm Quản lý Đường
thủy nội địa và văn phòng Đoạn. Số liệu thống kê phương tiện lưu thông trên tuyến
của các trạm (từ 1/1/2012 đến 31/12/2012), thời gian thống kê 12 giờ/ngày, cụ thể
như sau:
12
- Phương tiện hàng hóa : Tổng số 860.123 lượt/năm với 43.434.090 tấn
hàng hóa thông qua. Bình quân là 2.356 lượt/ngày với 118.997 tấn hàng hóa tăng
10% so với cùng kỳ năm 2011. Các tuyến có lưu lượng lưu thông cao là kênh Rạch

sông Hậu (212+100)
290
17/10/2012
457
14/10/2011
-58
30/4/2012
-40
07/5/2011
Châu
Phú
Sông Hậu
N. Năng Gù Thị Hòa
12+00
242
30/9/2012
348
28/10/2011
-42
15/5/2012
-36
13/5/2011
Hòn
Đất
Kênh
Rạch Giá Hà Tiên
5+740
63
27/9/2012
83

12/5/2011
Thạnh
An
K.Rạch Sỏi Hậu Giang
26+920
104
30/9/2012
176
31/10/2011
02
17/4/2012
-3
28/4/2011
Tri
Tôn
K. Tri Tôn Hậu Giang
26+620
153
30/9/2012
263
23/10/2011
-13
14/5/2012
-15
26/5/2011
Rạch
Sỏi
K. Ông Hiển Tà Niên
5+00
145

- Công trình sản xuất, thay thế báo hiệu hư hỏng trên tuyến kênh Rạch Giá
Long Xuyên, kênh Ba Thê, kênh Rạch Sỏi Hậu Giang, kênh Tri Tôn Hậu Giang,
nhánh Năng Gù Thị Hòa, rạch Ông Chưởng, sông Hậu : 12 bộ.
- Công trình sửa chữa, di dời báo hiệu bị xói lở chân móng trên tuyến kênh
Ba Thê, kênh Rạch Sỏi Hậu Giang, kênh Rạch Giá Hà Tiên, nhánh Năng Gù Thị
Hòa, sông Hậu : 11 vị trí.
- Công trình thanh thải vật chướng ngại cầu tàu bê tông cốt thép cũ từ thời
chế độ cũ bị hư hỏng không còn sử dụng nằm trong phạm vi hành lang bảo vệ
luồng tàu chạy tại km 60+500 bờ hữu kênh Rạch Giá Hà Tiên: 01 vị trí.
- Công trình sửa chữa, khôi phục mốc cao độ bị mất mát, hư hòng kênh Tri
Tôn Hậu Giang, kênh Mặc Cần Dưng, kênh Tám Ngàn : 74,5km.
- Công trình sửa chữa, nâng cấp nhà Trạm Quản lý Đường thủy nội địa Châu
Phú – xã Bình Mỹ, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang : 1 công trình.
* Công tác an toàn giao thông :
Tổ chức tuyên truyền triển khai Luật Giao thông đường thuỷ nội địa đến 124
xã, phường ven sông và các tổ chức, cá nhân có liên quan đến giao thông thuỷ.
Phối hợp Ban an toàn giao thông tỉnh An Giang, Kiên Giang thực hiện ra quân
tháng an toàn giao thông hàng năm cùng với các cơ quan chức năng, các cấp chính
14
quyền địa phương trên phạm vi quản lý, mục đích là tuyên truyền và tác động sâu
rộng đến ý thức người dân khi tham gia giao thông trên đường thủy nội địa.
Thực hiện chỉ đạo của UBND thành phố Long Xuyên về việc hỗ trợ đảm
bảo giao thông thủy khu vực sạt lở bờ sông Hậu phía bờ hữu thuộc phường Bình
Đức, thành phố Long Xuyên. Đoạn Quản lý Đường thủy nội địa số 13 đã khẩn
trương lắp đặt 02 bộ phao đèn hướng dẫn luồng cho phương tiện lưu thông ngoài
hàng phao khu vực sạt lở, tránh đi sát bờ vị trí xói lở tạo thành dòng nước chảy siết
nguy hiểm đến người và phương tiện.
Từ năm 2010 -:- 2012 phối hợp với cơ quan chức năng và chính quyền địa
phương tổ chức 03 hội nghị An toàn giao thông : 01 hội nghị tại huyện Tân Hiệp,
tỉnh Kiên Giang, 02 hội nghị tại huyện Chợ Mới và huyện Châu Thành tỉnh An

tới khu vực trên địa bàn nhằm hạn chế, giảm thiểu các thiệt hại về tài sản, cơ sở vật
chất cũng như con người.
Chủ động tiến hành phân bổ kinh phí cho các đơn vị ngay sau khi có quyết
định phê duyệt phương án và dự toán công tác phòng chống lụt, bão của cấp trên
để kịp thời mua vật tư, nhiên liệu triển khai các biện pháp phòng, chống, nhằm
giảm thiểu các thiệt hại thấp nhất khi lũ bão gây ra.
Lập kế hoạch phối hợp với các địa phương ven sông, kênh triển khai công
tác phòng, chống bão lũ, bố trí tàu công tác thường trực hỗ trợ công tác cứu hộ tại
các khu vực xung yếu, nguy hiểm trên địa bàn quản lý như các khu vực cầu bắc
qua sông, khu vực cua cong nguy hiểm, những đoạn sông thường có dòng xoáy
nước chảy mạnh phương tiện, nhà cửa dễ bị nước cuốn trôi bao gồm 03 khu vực :
cầu Cái Sắn, cầu Rạch Sỏi và cầu 13.
Thường xuyên theo dõi tình hình thủy văn, khi mực nước tại Châu Đốc đạt
báo động cấp I (3,0m) hoặc mưa bão ảnh hưởng trực tiếp đến địa bàn quản lý tất cả
các đơn vị từ văn phòng Đoạn đến các Trạm trực thuộc bố trí người và phương tiện
thường trực 24/24h, nắm bắt thông tin chỉ đạo của cấp trên, của địa phương về diễn
biến bão lũ xảy ra để chủ động ứng phó.
Triển khai lắp đặt bổ sung 02 báo hiệu dẫn luồng tại khu vực cầu 13 kênh
Tri Tôn Hậu Giang; đây là một trong những khu vực ngã tư rất nguy hiểm giao
nhau giữa kênh Tám Ngàn và kênh Tri Tôn Hậu Giang tạo thành dòng nước xoáy
chảy mạnh ngay chân cầu; hàng năm đều xảy ra tai nạn chìm đắm phương tiện khu
vục này.
Thu hồi 30 bộ phao bãi cạn Ф 1300 trên sông Hậu, điều chỉnh 48 phao dẫn
luồng ≥ Ф 1600 trên sông Hậu và sông Vàm Nao về sát bờ khi mùa lũ về, tránh để
lũ cuốn trôi gây hư hỏng mất mát như các năm trước. Phương tiện công tác và
nhân lực luôn thường trực sẵn sàng triển khai ứng phó với mọi tình huống bão, lũ
xảy ra; chấp hành nghiêm chỉnh công điện của Ban chỉ đạo phòng chống lụt, bão
của cấp trên và địa phương khi có lệnh điều động ứng cứu các địa phương nằm
trong vùng bị thiệt hại do lũ, lụt gây ra.
* Công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật :

- Kiểm tra bến thủy nội địa về giấy phép hoạt động của bến và công tác đảm
bảo an toàn giao thông, thường xuyên duy trì bảo dưỡng báo hiệu tại bến : 170 bến.
- Kiểm tra bến khách ngang sông ( cả bến phà ) về đảm bảo trật tự an toàn
giao thông, trang thiết bị, bằng cấp chứng chỉ chuyên môn : 233 trường hợp.
- Ký cam kết đối với các bến khách ngang sông thực hiện các quy định về
đảm bảo, trật tự an toàn giao thông đối với bến, phương tiện : 375 trường hợp;
- Lập biên bản đình chỉ thi công đối với phương tiện nạo vét luồng khi chưa
có phương án đảm bảo an toàn giao thông thủy : 1 trường hợp;
- Lập biên bản giải tỏa chà, đáy cá trên tuyến : 17 trường hợp;
- Lập biên bản vi phạm về xây dựng kè, đổ đất đá, xây dựng nhà sàn trên
hành lang bảo vệ luồng : 19 trường hợp;
- Kiểm tra, hướng dẫn, nhắc nhở đơn vị thi công công trình cầu kênh E lắp
đặt báo hiệu theo quy định : 8 lần;
- Lập biên bản đình chỉ việc sửa chữa và thi công nhà sàn trên hành lang bảo
vệ luồng 13 trường hợp, xử lý vi phạm 5 trường hợp.
- Hướng dẫn đơn vị thi công công trình cầu lắp đặt báo hiệu trên cầu, nhằm
đảm bảo an toàn giao thông thủy : 4 lần.
17
- Lập biên bản đình chỉ thi công nhà ven sông trên hành lang bảo vệ luồng :
4 trường hợp.
- Hướng dẫn phương tiện bơm hút cát thực hiện các biện pháp về đảm bảo
an toàn, làm thủ tục xin phép theo quy định : 16 trường hợp.
- Lập biên bản đối với trường hợp xây dựng công trình cầu vượt sông khi
chưa có ý kiến của cơ quan quản lý nhà nước về giao thông thủy và chưa thực hiện
phương án đảm bảo an toàn giao thông được cấp có thẩm quyền duyệt : 13 trường
hợp.
Tổng hợp giá trị sản lượng thực hiện kế hoạch quản lý, bảo trì thường
xuyên trên 20 tuyến đường thủy nội địa quốc gia từ năm 2010 -:- 2012 như sau :

Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012

40.000m
3
1.875 7.000m
3
351
II Các công trình
không thường xuyên
663 2.980 1.815
1 Sản xuất, thay thế báo
hiệu.
5phao 199 14bộ 510 12bộ 368
2 Sửa chữa, di dời báo
hiệu.
1trụ đèn 91 15cột 499 11cột 380
3 Thanh thải vật chướng
ngại trên luồng
1vị trí 146 1vị trí 155
18
Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012
TT Hạng mục Khối
lượng
Giá trị
(triệu
đồng)
Khối
lượng
Giá trị
(triệu
đồng)
Khối

bộ, đảng viên.
Tăng cường công tác giáo dục, rèn luyện đạo đức, lối sống nâng cao tính
tiên phong gương mẫu, phẩm chất và năng lực của đội ngũ cán bộ, đảng viên, đề ra
và thực hiện các biện pháp có hiệu lực chống tư tưởng cơ hội, thực dụng, chủ nghĩa
cá nhân; ngăn chặn các biểu hiện tham nhũng, lãng phí, quan liêu và những biểu
hiện tiêu cực khác.
* Công tác tổ chức - cán bộ:
19
Đảng bộ phối hợp với chính quyền thực hiện hoàn tất công tác quy hoạch
cán bộ giai 2011-2016 và giai đoạn 2016-2021; xây dựng củng cố bộ máy tổ chức,
cán bộ ở các đơn vị cơ sở, nhất là công tác đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng cán bộ,
đảng viên trẻ, nhằm nâng cao trình độ lý luận chính trị, năng lực lãnh đạo, quản lý,
có đủ phẩm chất đạo đức, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, phát huy tác dụng và
đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn hiện nay.
Từ đầu năm 2012 cho đến nay, Đảng bộ chỉ đạo Chính quyền, đoàn thể thực
hiện tốt công tác bổ nhiệm cán bộ, bổ nhiệm lại cán bộ, điều động, thôi giữ chức
vụ cán bộ theo Quyết định số 27/2003/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, Quyết
định số 61/QĐ-BCSBGTVT ngày 11/6/2009 của Ban Cán sự Đảng bộ GTVT,
Quyết định số 1688/QĐ-BGTVT ngày 11/6/2009 của Bộ Giao thông Vận tải về
việc ban hành quy chế bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, luân chuyển, từ chức, miễn nhiệm
cán bộ và Quyết định số 1583/QĐ-CĐS ngày 13/12/2007 của Cục Đường sông
Việt Nam (nay là Cục Đường thủy nội địa Việt Nam) về công tác bổ nhiệm và bổ
nhiệm lại cán bộ lãnh đạo, quản lý. Với tổng số: 09 cán bộ.
* Công tác chăm lo đời sống cán bộ công nhân viên :
Mua bảo hiểm tai nạn cho toàn thể cán bộ, công nân viên Đoạn với tổng giá
trị: 6.338.000, đồng.
Trang bị bảo hộ lao động và khám sức khoẻ định kỳ hàng năm: 92.600.000,
đồng.
Tổ chức 01 đợt tham quan du lịch tại Ninh Chữ, Đà Lạt cho 50 cán bộ, công
nân viên với kinh phí là: 100.466.000, đồng.

Ngoài ra Đoạn còn hưởng ứng quyên góp ủng hộ chương trình “ chung tay
khắc phục bom mìn sau chiến tranh” và ủng hộ xây dựng khu di tích Truông bồn
với số tiền là 24.896.000, đồng. Ủng hộ quĩ đền ơn đáp nghĩa tại địa phương số
tiền 1.000.000, đồng .
* Công tác thi đua khen thưởng : Được cấp trên khen thưởng tập thể và cá
nhân các danh hiệu như sau :
- Cấp Bộ : Bằng khen Bộ GTVT tặng 3 tập thể và 2 cá nhân.
- Cấp Cục : Giấy khen Cục ĐTNĐVN tặng 11 thể và 3 cá nhân.
- Địa phương : Bằng khen của UBND tỉnh Kiên Giang tặng 3 tập thể và 3 cá
nhân. Ban ATGT tỉnh An Giang, Kiên giang tặng giấy khen 2 tập thể, 6 cá nhân.
Ngoài ra các danh hiệu tuyến mẫu, Trạm mẫu : 100% đơn vị Trạm Quản lý
Đường thủy Nội địa đạt danh hiệu tuyến mẫu, Trạm mẫu năm 2012.
2.2.2. Nguyên nhân của những thành tích đạt được là :
Được sự quan tâm, chỉ đạo sâu sát về nghiệp vụ chuyên môn cũng như các
phương án bố trí nguồn vốn thực hiện kế hoạch từ Cục, Chi cục xuống các đơn vị
cơ sở được kịp thời thông suốt .
Sự lãnh đạo, chỉ đạo đúng đắn của Đảng bộ, Chính quyền Đoạn Quản lý
Đường thủy nội địa số 13 trong việc triển khai thực hiện các nghị quyết của Đảng
bộ, chi bộ, các văn bản qui phạm pháp luật của ngành và hướng dẫn nghiệp vụ của
cấp trên; giải quyết kịp thời có kết quả những vấn đề mới phát sinh.
Sự phối hợp, quan tâm giúp đỡ của các cấp chính quyền địa phương, các ban
ngành có liên quan ngày càng cao và chặt chẽ. Đặc biệt là giữa Đoạn, Trạm với
Ban ATGT, Sở GTVT, Cảnh sát Giao thông Đường thủy tình An Giang, Kiên
Giang, Đội Thanh tra Giao thông ĐTNĐ số 7 và các ban ngành, chính quyền địa
phương trên địa bàn.
21
Công tác an toàn giao thông luôn được đặt lên hàng đầu, các đơn vị đều thể
hiện tình thần trách nhiệm cao trong vai trò quản lý đảm bảo tuyến luồng thông
suốt, các sự cố tai nạn gây ách tắc giao thông trên tuyến đều được các đơn vị báo
cáo kịp thời với cấp trên, đồng thời phối hợp với các ngành chức năng giải quyết

năng suất lao động của đơn vị .
Công tác cải cách hành chính ở một số lĩnh vực chuyên môn chưa có sự
chuyển biến tích cực, việc triển khai còn chậm và mang tính hình thức, chưa đạt
hiệu quả.
22
Một số chi bộ chưa làm tốt vai trò tuyên truyền, quản lý, giáo dục và kiểm
tra, giám sát tại cơ sở làm cho một số cán bộ, đảng viên chưa có nhận thức đúng
đắn về tư tưởng và phẩm chất chính trị chưa vững vàng, dẫn đến những việc làm
và hành động chưa thực sự đạt hiệu quả như mong muốn .
Một số vấn đề tồn tại trên tuyến hiện nay như sau :
- Về báo hiệu đường thủy nội địa :
Hệ thống báo hiệu nằm trong khu vực nhà máy xi măng Hà Tiên 2 trên kênh
Ba Hòn, nhà máy xi măng Cần Thơ trên kênh Rạch Sỏi Hậu Giang, báo hiệu màu
sắc luôn bị nhanh phai mờ nhanh do bụi xi măng; các tấm năng lượng mặt trời
thường xuyên bị khói bụi xi măng bám vào gây ảnh hưởng đến khả năng tiếp thu
ánh sáng mặt trời để nạp điện bình ắc qui của đèn báo hiệu.
Vào mùa lũ một số vị trí móng báo hiệu bờ trên tuyến kênh Vĩnh Tế, kênh
Tri Tôn Hậu Giang, sông Hậu_nhánh Năng Gù Thị Hòa, sông Châu Đốc thường bị
ngập dưới mực nước lũ (0,5 -:- 1,0)m trong khoảng thời gian từ 40 đến 50 ngày, dễ
bị xói lở chân móng dẫn đến gây ngả đổ báo hiệu.
Báo hiệu do các đơn vị ngoài ngành lắp đặt cho các công trình vượt sông
trên tuyến chưa thực hiện việc duy tu, bảo dưỡng báo hiệu ĐTNĐ theo định kỳ;
một số vị trí báo hiệu bị cây cối che khuất tầm nhìn làm mất tác dụng của báo hiệu.
Phao báo hiệu giới hạn vùng nước thi công lắp đặt trên tuyến tại các khu vực
khai thác cát trên sông Hậu của các Doanh nghiệp trên địa bàn không đảm bảo
đúng kích thước theo qui định hiện hành.
- Về vật chướng ngại còn tồn tại trên tuyến chưa có kinh phí để khắc phục:
Vật chướng ngại (các khối bê tông cầu 13 cũ) nằm trong khoang thông
thuyền cầu 13 phía bờ hữu tại km 26+617 kênh Tri Tôn Hậu Giang .
Tại km 0+850 kênh Rạch Giá Long Xuyên (vị trí cầu Nguyễn Trung Trực

chậm đổi mới, chưa có sự đột phá rõ rệt trong điều hành chỉ đạo và giải quyết sự
việc.
Kinh phí đầu tư cho hạ tầng giao thông đường thủy nội địa chưa được chú
trọng, hàng năm chỉ đáp ứng được công tác quản lý, bảo trì là chủ yếu. Chưa có
những dự án mang tính đột phá để nâng cấp toàn diện hệ thống giao thông đường
thủy.
2.4. Rút ra những kinh nghiệm từ thực tiễn công tác quản lý:
Thường xuyên rà soát, kiểm tra việc thực hiện nội qui, qui chế, qui chế chi
tiêu nội bộ của đơn vị để phát huy tinh thần lao động sáng tạo, ý thức chấp hành kỷ
luật lao động của CB-CNV.
Tăng cường kiểm tra, giám sát thực hiện nhiệm vụ của các phòng ban, đơn
vị để tìm ra các thiếu sót, sơ hở và kịp thời chấn chỉnh nhằm hoàn thành tốt công
việc và nâng cao trình độ chuyên môn.
Tăng cường hơn nữa ý thức dân chủ, ý thức trách nhiệm đối với tập thể, đối
với công việc được giao của CB-CNV tạo ra sức mạnh đoàn kết nội bộ nhằm hoàn
thành tốt nhiệm vụ được giao. Tăng cường xây dựng mối quan hệ gắn kết trong
đơn vị và chịu trách nhiệm trước cấp trên về công tác điều hành thuộc cá nhân
cũng như phát huy tính chủ động, kịp thời từ Đoạn đến các đơn vị Trạm, Đội và
các phòng nghiệp vụ .
Chú trọng yếu tố con người trong thực hiện nhiệm vụ, từ đó có hướng quy
hoạch, đào tạo, bồi dưỡng các nhân tố tích cực nhằm đáp ứng yêu cầu công việc
ngày càng cao.
24
Cải cách thủ tục hành chính, thủ tục pháp lý, sửa đổi, bổ sung hoàn thiện các
nội qui, qui chế hàng năm của cơ quan phù hợp với tình hình hiện tại theo đúng qui
định của pháp luật và các văn bản hướng dẫn nghiệp vụ của đơn vị.
Trước tình hình Kinh tế - Chính trị - Xã hội phát triển và những yêu cầu cấp
bách đòi hỏi tập thể Đảng bộ, Chính quyền luôn quan tâm sâu sát cơ sở, bám sát
Nghị quyết của Đảng, vận dụng phù hợp với điều kiện hoàn cảnh thực tiễn của đơn
vị để thực hiện.

phương trong việc đảm bảo trật tự an toàn giao thông và bảo vệ công trình giao
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status