MỤC LỤC
I . LỜI MỞ ĐẦU 2
II . NỘI DUNG 3
1. Những đặc điểm nổi bật của dân số Việt Nam hiện nay 3
a. Quy mô dân số nước ta rất lớn và vẫn đang phát triển mạnh 3
b. Dân số nước ta đang bước vào giai đoạn cơ cấu “dân số vàng” 3
c. Tỷ lệ dân đô thị hiện thấp nhưng đang tăng mạnh 4
d. Chất lượng dân số chưa cao 4
e. Mất cân bằng giới tính 5
2. Những ảnh hưởng của dân số đến sự phát triển của xã hội
Việt Nam 5
a. Dân số và giáo dục 5
b. Dân số và y tế 7
c. Dân số và bình đẳng giới 8
d. Dân số và an sinh xã hội 9
3. Nâng cao chất lượng dân số 11
III. KẾT LUẬN 13
1
I. LỜI MỞ ĐẦU
Khi tìm hiểu tới một đất nước, ta thường nói ngay đến diện tích lãnh thổ và
dân số của đất nước đó. Tại sao vậy? Bởi vì dân số cũng như phân chia chất lượng
dân số có những ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển bền vững của một quốc gia,
dân tộc. Nhất là đối với Việt Nam, khi nước ta đang bước vào thời kỳ cơ cấu “dân
số vàng”. Đây là cơ hội mà tất cả các quốc gia đang phát triển đều mong đợi. Để
có một xã hội tiến bộ, một nền kinh tế vững mạnh thì sự phát triển dân số là một
trong những yếu tố quan trọng, cần quan tâm hàng đầu. Đó là lý em chọn đề tài :
“Ảnh hưởng của dân số đên sự phát triển xã hội Việt Nam”.
2
II. NỘI DUNG
1. Những đặc điểm nổi bật của dân số Việt Nam hiện nay
a. Quy mô dân số nước ta rất lớn và vẫn đang phát triển mạnh
Tuổi thọ bình quân của người Việt Nam cũng có bước tiến rõ rệt khi
tăng lên đến 73,1 tuổi và dự kiến đạt 75 tuổi vào năm 2020.
c. Tỷ lệ dân đô thị hiện thấp nhưng đang tăng mạnh
Mặc dù dân thành thị hiện chiếm 30% tổng dân số ở Việt Nam nhưng
lại đang tăng nhanh với tốc độ trung bình 3,4%/năm. Khu vực miền Đông
Nam Bộ là nơi có mức đô thị hóa cao nhất. Nguyên nhân chính là do thị
trường lao động mở rộng.
Mật độ dân số ở Việt Nam, theo Tổng cục Thống kê, có sự phân bố rất
chênh lệch và mức gia tăng không đồng đều. Khu vực đồng bằng sông
Hồng ở miền Bắc đông nhất trên cả nước (25 triệu người) trong khi vùng
Tây nguyên chỉ hơn 5 triệu người. Một số tỉnh như Nam Định, Thanh
Hóa tỉ lệ tăng dân số không đáng kể vì số người di cư vào các tỉnh thành
phía Nam (chủ yếu là Thành phố Hồ Chí Minh) để làm ăn sinh sống. Theo
ước tính trong năm năm 2004-2009 có tới 9,1 triệu người di cư.
Việc di cư từ nông thôn ra thành thị một mặt thúc đẩy nhanh quá trình
đô thị hóa nhưng mặt khác lại gây áp lực rất lớn lên hệ thống cơ sở hạ
tầng, dịch vụ xã hội , nhà ở, môi trường ở các đô thị lớn. Tình trạng kẹt
xe, ô nhiễm đã diễn ra ngày càng nhiều ở Thành phố Hồ Chí Minh (nơi
đông dân nhất nước với trên 7,1 triệu người) hay Hà Nội (6,5 triệu người).
d. Chất lượng dân số chưa cao
Chất lượng dân số là sự phản ánh các đặc trưng về thể chất, trí tuệ và
tinh thần của toàn bộ dân số.
Theo báo cáo Phát triển con người 2010 của Chương trình Phát triển
Liên hiệp quốc (UNDP), chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam
xếp thứ 128/187 quốc gia. Theo báo cáo của Viện dinh dưỡng quốc gia,
chiều cao của thanh niên Việt Nam 18 tuổi, tuy đã cải thiện (năm 2003:
Nam 163,7 cm, nữ 153cm) nhưng so với chuẩn quốc tế (nam 176,8 cm, nữ
163,7 cm) thì chiều cao của thanh niên Việt Nam còn thấp hơn rất nhiều.
4
Tình trạng thừa cân, béo phì trong độ tuổi học đường có dấu hiệu gia tăng,
- Sự bình đẳng về cơ hội học tập và trình độ học vấn giữa các nhóm xã
hội.
5
Tại nước ta, hai chỉ tiêu: tỷ lệ người lớn biết chữ và tỷ lệ tổng học
sinh đi học trong tổng sốtrẻ em từ 6-15 tuổi là những chỉ tiêu mà các
nước đang phát triển rất quan tâm. Chúng phản ánh trình độ và xu
hướng phát triển của một nền giáo dục và chính sách giáo dục của một
quốc gia.
• Ảnh hưởng của dân số đến giáo dục
i. Các tác động tích cực của dân số đến giáo dục
Quy mô dân số lớn là điều kiện để thúc đẩy mở rộng qui mô
của giáo dục. Ở nước ta, khoảng 20 năm cuối của thế kỷ XX, quy
mô dân số tăng nhanh nên số lượng học sinh phổ thông cũng
không ngừng tăng lên. Ví dụ từ năm 1980 đến năm 2001 dân số
tăng lên 148% thì số học sinh phổ thông tăng 154 %, và tỷ lệ đi
học tăng lên 104%.
Sự tăng nhanh dân số ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống,
mức thu nhập, từ đó ảnh hưởng đến đầu tư cho giáo dục cho con
cái nói chung và cho con trai, con gái nói riêng, ảnh hưởng đến
quy mô, chất lượng giáo dục và sự bình đẳng trong giáo dục .
Với một quốc gia dân số trẻ như nước ta, tỷ lệ dân số trong độ
tuổi đi học cao, tạo điều kiện cho giáo dục phát triển. Tuy nhiên,
trong những năm gần đây, do việc đẩy mạnh Kế hoạch hóa gia
đình, mức sinh giảm nên tỷ lệ dân số trong độ tuổi học sinh phổ
thông giảm từ 39,33% năm 1979 xuống còn 28,73% năm 2009. Số
dân trong độ tuổi này của cả nước cũng đã bắt đầu giảm, từ
26.507.676 người năm 1999 xuống còn 24.650.028 người năm
2009.
ii. Các tác động tiêu cực của dân số đến giáo dục
Dân số tăng, nhưng thu nhập bình quân chưa cao (năm
• Sức khỏe và y tế
Sức khoẻ là một yếu tố quan trọng đảm bảo hạnh phúc cho mỗi
con người. Sức khoẻ tốt là cơ sở để lao động có năng suất cao, có tinh
thần trách nhiệm, tâm hồn lành mạnh, trong sáng và là mục tiêu quan
trọng của quá trình phát triển. Theo định nghĩa của Tổ chức y tế thế
giới "Sức khoẻ là trạng thái thoải mái về thể chất, tinh thần và xã hội,
chứ không chỉ bó hẹp trong nghĩa là không có bệnh tật hay thương
tật".
Y tế là hệ thống tổ chức thực hiện các biện pháp cụ thể, đặc biệt là
biện pháp kỹ thuật để dự phòng, chữa bệnh, phục hồi chức năng. Mối
7
quan hệ giữa dân số và y tế có tính chất tương hỗ. Một mặt , ngày nay
y tế tác động đến toàn bộ quá trình tái sản xuất dân số, mặt khác sự
"bùng nổ dân số" cũng đang tạo sức ép mạnh mẽ đối với ngành y tế.
• Tác động của dân số đối với y tế
Dân số tăng quá nhanh sẽ dẫn đến tỷ lệ tăng lên và do đó
làm cho số người khám bệnh tăng lên. Thật vậy, dân số tăng
nhanh lại tập trung ở nước nghèo, khả năng dinh dưỡng h ạn
chế, tỷ lệ mắc bệnh tăng lên, trước hết là bệnh suy dinh dưỡng.
Dân số đông và tăng quá nhanh dẫn đến nhà ở thêm chật chội,
vệ sinh không đảm bảo, nhất là nguồn nước sinh hoạt.
Quy mô dân số lớn tốc độ tăng dân số cao đòi hỏi quy mô
hệ thống y tế bệnh viện , số cơ sở y tế, số gường bệnh, số y bác
sỹ …cũng phải phát triển với tốc độ thích hợp để đảm bảo các
hoạt động khám và chữa bệnh cho người dân. Trên thực tế hiện
nay, những nước nghèo sự phát triển của hệ thống y tế không
theo kịp nhu cầu khám chữa bệnh do tốc độ tăng dân số cao.
Chính vì vậy chất lượng chăm sóc y tế thường thấp.
Phân bố dân số ảnh hưởng đến hệ thống y tế. Ở Các khu
vực địa lý khác nhau , như đồng bằng miền núi, thành thị, nông
nữ thường có học vấn, thu nhập thấp hơn, ít hoạt động chính trị, xã hội ít hơn
hạn. Bất bình đẳng nam nữ là điều khó tránh khỏi.
Thực hiện tốt vấn đề bình đẳng giới trong gia đình, bởi gia đình là một tế
bào của xã hội, gia đình là nơi nuôi dưỡng giáo dục con người đầu tiên, là cầu
nối các thành viên trong gia đình với xã hội.
d. Dân số và an sinh xã hội
An sinh xã hội là sự bảo vệ của xã hội đối với các thành viên của mình
thông qua một loạt biện pháp công cộng, nhằm chống lại những khó khăn về
kinh tế và xã hội do bị ngừng hoặc giảm thu nhập, gây ra bởi ốm đau, thai sản,
tai nạn lao động, thất nghiệp, thương tật, tuổi già và chết; đồng thời đảm bảo
các chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình đông con. Có thể thấy tình trạng
dân số nói chung và dân số giai đoạn “cơ cấu vàng” nói riêng có tác động rất
lớn đến nhu cầu an sinh xã hội.
Ở Việt Nam, cấu trúc của hệ thống an sinh xã hội gồm 5 trụ cột: Bảo hiểm
xã hội; Bảo hiểm y tế; Bảo hiểm thất nghiệp; Cứu trợ xã hội; Trợ giúp và ưu
đãi xã hội. Xét về thực chất, năm trụ cột này là nhằm thực hiện 3 chức năng
9
chiến lược của hệ thống an sinh xã hội: Phòng ngừa rủi ro, giảm thiểu rủi ro
và khắc phục rủi ro.
Cơ cấu dân số có ảnh hưởng trực tiếp tới các dịch vị an sinh xã hội. Một
quốc gia có dân số trẻ thì các vấn đề về an sinh sẽ nghiên về các dịch vụ cho
trẻ em như giáo dục, trường học, phát triển tầm vóc trong khi đó với cơ cấu
dân số già thi các dịch vụ y tế, trợ cấp lại càng quan trọng.
Việc dân số gia tăng nhanh, nhất là ở nhóm trong độ tuổi lao động cũng
tạo ra
thách thức về nâng cao chất lượng lao động và tạo việc làm. Theo Tổng
cục Thống kê,
năm 2010, tỷ lệ thất nghiệp của cả nước là 2 ,88%, trong đó khu vực thành
thị là 4,29% và khu vực nông thôn là 2,3%. Bên cạnh đó tỷ lệ thiếu việc làm,
tương ứng cho các khu vực là 3,57%; 1,82 % và 4,26%. Điều này có nghĩa là
phát triển kinh tế xã hội là xu hướng chuyển đổi từ xã hội nông thôn là phổ
biến sang xã hội đô thị là phổ biến tại các nước phát triển và đang phát triển.
Đô thị hóa phải tiến hành trên cơ sở dữ liệu cụ thể, có phương án thực hiện
một cách thấu đáo; phải được thực hiện một cách đồng bộ, có đầy đủ các yếu
tố đảm bảo cho dân cư có cuộc sống ổn định, được hưởng các quyền lợi về
chăm sóc y tế, giáo dục, và văn hóa.
Sau năm 2005, cơ hội dân số sẽ bước vào giai đoạn hai: Nước ta tiến vào
kỷ nguyên dân số vàng của mình, kéo dài khoảng 30 năm. Nếu cơ hội dân số,
đặc biệt là giai đoạn dân số vàng diễn ra trùng với thời kỳ kinh tế ổn định và
cất cánh, đồng thời hệ thống giáo dục đã thực hiện tốt chức năng chuẩn bị tri
thức và nghề nghiệp cho lao động, nguồn lực lao động được qua đào tạo, có tri
thức, kỹ năng nghề nghiệp sẽ trở thành động lực mạnh của nền kinh tế (tăng
việc làm, thu nhập, tiết kiệm…). Ngược lại, nếu hệ thống kinh tế và giáo dục
yếu kém, không đáp ứng được nhu cầu của sự bùng nổ nguồn nhân lực này, sẽ
dẫn đến tình trạng thất nghiệp trong xã hội tràn lan nhất là giới trẻ, vừa thiếu
việc làm, lại vừa thiếu nhân lực lao động kỹ thuật cao, dẫn đến tệ nạn và mất
ổn định xã hội. Cơ hội dân số đòi hỏi nhà nước phải có những chính sách, lựa
chọn đúng để nắm bắt được nó.
11
III. KẾT LUẬN
Việc tìm hiểu đề tài “Ảnh hưởng của dân số đến sự phát triển xã hội Việt
Nam” đã giúp em hiểu thêm tầm quan trọng của sự gia tăng dân số và các
chính sách dân số của Nhà nước trong việc hương tới một xã hội phồn thịnh,
tiến bộ. Một dất nước giàu mạnh là một tập thể những con người có sức khỏe,
tinh thần và tri thức cao để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đối với nước ta, giai
đoạn trước mắt là một cơ hội vàng về dân số mà mọi quốc gia đều chờ đợi,
nhưng cũng là một thách thức đặt ra. Vì vậy, những quyết định của Đảng, Nhà
nước là hết sức quan trọng, nhưng bên cạnh đó cũng không thể thiếu ý thức
của từng người dân trong xã hội trong việc thực hiện các chính sách về Dân số
và Kế hoạch hóa gia đình để hướng tới những mục tiêu mà đất nước muốn