ảnh hưởng của nồng độ benzyladenine (ba) đến sự phát triển và năng suất cây mè đen ô môn (sesamum indicum l) - Pdf 30



TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

BÙI NGUYỄN MINH HƯƠNG
ẢNH HƯỞNG CỦA NỒNG ĐỘ BENZYLADENINE (BA) ĐẾN
SỰ PHÁT TRIỂN VÀ NĂNG SUẤT CÂY MÈ ĐEN Ô MÔN
(Sesamum indicum L)
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Cần Thơ, 2014
i

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN KHOA HỌC CÂY TRỒNG Luận văn tốt nghiệp Kỹ sư ngành Nông Học, với đề tài:
ẢNH HƯỞNG CỦA NỒNG ĐỘ BENZYLADENINE ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN
VÀ NĂNG SUẤT CÂY MÈ ĐEN Ô MÔN

Do sinh viên Bùi Nguyễn Minh Hương thực hiện.
Kính trình Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp.
DUYỆT KHOA
Trưởng Khoa Nông Nghiệp & Sinh Học Ứng Dụng
iii TIỂU SỬ CÁ NHÂN
I Lý lịch sơ lược
Họ và tên: Bùi Nguyễn Minh Hương Giới tính: Nữ
Ngày, tháng, năm sinh: 11/09/1990 Dân tộc: Kinh
Nơi sinh: phường Trường Lạc, quận Ô Môn, TP Cần Thơ
Con ông: Bùi Văn Lư Năm sinh 1965
Và bà: Nguyễn Thị Mỹ Loan Năm sinh 1968
Chỗ ở hiện nay: KV Trường Hòa, phường Trường Lạc, quận Ô Môn, TP Cần
Thơ
II Quá trình học tập
Năm 1996-2001: học sinh trường tiểu học Trường Lạc 1.
Năm 2001- 2005: học sinh trường THCS Trường Lạc.
Năm 2005- 2008: học sinh trường THPT Lưu Hữu Phước.
Năm 2009-2012: sinh viên trường Cao đẳng Kint tế- Kỹ thuật Cần Thơ.
Năm 2012 đến nay: sinh viên trường Đại Học Cần Thơ.
iv LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân. Các số liệu, kết quả
trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ luận
văn nào trước đây. Tác giả luận văn


vi MỤC LỤC
XÉT DUYỆT LUẬN VĂN i
TÓM TẮT TIỂU SỬ CÁ NHÂN iii
LỜI CAM ĐOAN iv
LỜI CẢM ƠN v
MỤC LỤC vi
DANH SÁCH BẢNG ix
DANH SÁCH HÌNH x
DANH MỤC VIẾT TẮT xi
TÓM LƯỢC xii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2
1.1 KHÁI QUÁT VỀ CÂY MÈ 2
1.1.1 Nguồn gốc 2
1.1.2 Giá trị sử dụng 2
1.1.3 Giá trị dinh dưỡng 2
1.1.4 Đặc tính thực vật 3
1.1.4.1 Rễ 3
1.1.4.2 Thân 3
1.1.4.3 Lá 4
1.1.4.4 Hoa 4
1.1.4.5 Trái 5
1.1.4.6 Hạt 5
1.1.5 Sự sinh trưởng và phát triển của cây mè 6
1.2 YÊU CẦU VỀ SINH LÝ, SINH THÁI CÂY MÈ 6
1.2.1 Khí hậu 6

3.2.1 Chiều cao cây 17
3.2.2 Số lá 18
3.2.3 Kích thước lá 18
3.2.4 Số nhánh 19
3.2.5 Trọng lượng cây 20
3.2.6 Tổng số bông trên cây 21
3.2.7 Số trái 22
3.2.8 Kích thước trái 22
3.2.9 Trọng lượng 1 trái giữa cây 23
3.2.10 Trọng lượng trái khô 24
3.2.11 Vỏ khô 24
3.2.12 Trọng lượng hạt khô trên cây 25
3.2.13 Trọng lượng 1000 hạt 26
CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 27
4.1 KẾT LUẬN 27
4.2 ĐỀ NGHỊ 27
TÀI LIỆU THAM KHẢO 28

viii

DANH SÁCH BẢNG

Bảng Tên

Trang

2.1 Chất điều hòa sinh trưởng, nồng độ và thời điểm xử lý của các


3.8 Ảnh hưởng của BA lên trọng lượng vỏ khô lúc thu hoạch ở các
nồng độ khác nhau
25

3.9 Ảnh hưởng của BA lên trọng lượng hạt khô trên cây sau thời gian
xử lý ở các nồng độ khác nhau
25

3.10 Ảnh hưởng của BA lên trọng lượng 1000 hạt lúc thu hoạch ở các
nồng độ khác nhau 26
ix

DANH SÁCH HÌNH



DANH SÁCH CHỮ VIẾT TẮT

NT Nghiệm thức
BA Benzyladenine xi BÙI NGUYỄN MINH HƯƠNG, 2014. “Ảnh hưởng của nồng độ Benzyladenine
đến sự phát triển và năng suất của cây mè đen Ô Môn”. Luận văn tốt nghiệp ngành
Nông Học, Khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng, Trường Đại Học Cần Thơ.
Cán bộ hướng dẫn: TS. Lê Vĩnh Thúc.
______________________________________________________________________
TÓM LƯỢC
Benzyladenine là cytokinin có tác dụng làm tăng số chồi, nhánh và hạn chế sự phát
triển chiều cao. Đề tài: “Ảnh hưởng của nồng độ Benzyladenine (BA) đến sự
phát triển và năng suất của mè đen Ô Môn” được thực hiện tại nhà lưới Bộ
Môn Khoa Học Cây Trồng để bước đầu tìm ra nồng độ BA để ức chế sự sinh
trưởng của cây mè và tăng số nhánh. Thí nghiệm được bố trí theo khối hoàn toàn
ngẫu nhiên gồm 5 nghiệm thức (Đối chứng, 50, 100, 150, 200 ppm) với 5 lần lặp
lại. Kết quả thí nghiệm cho thấy phun BA có xu hướng làm giảm chiều cao cây và
làm tăng số nhánh. Khi có xử lý BA ở nồng độ 50 ppm làm giảm trọng lượng trái
khô trên cây và trọng lượng vỏ. Phun BA ở nồng độ 200 ppm không làm ảnh
hưởng đến số lá, kích thước lá, số nhánh, số bông và trọng lượng hạt trên cây. 1

2

CHƯƠNG 1: LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
1.1 KHÁI QUÁT VỀ CÂY MÈ
1.1.1 Nguồn gốc
Cây mè có tên khoa học là (Sesamum indicum L), thuộc họ Pedaliaceae; là
cây hằng niên và là một trong những cây trồng cổ nhất thế giới. Cây mè có nguồn
gốc từ Châu Phi (Vaughan và Geissler, 2009). Nhiều ý kiến cho rằng Eetiopi là
nguyên sản của giống cây trồng hiện nay. Tuy nhiên cũng nhiều ý kiến cho rằng
vùng Afghan- Persian mới là nguyên sản của giống mè trồng. Mè là loại cây lấy
dầu được trồng lâu đời và được mệnh danh là vua của các loại dầu (Shashidhara
và ctv., 2011). Sau đó được đưa vào vùng tiểu Á (Babylon) và được di vào phía
tây- vào Châu Âu và phía nam vào Châu Á dần dần được phân bố đến Ấn Độ và
một nước Nam Trung Quốc. Ấn Độ được xem như trung tâm phân bố của cây mè
(Bedigian, 2004). Ở Nam Mỹ, mè được du nhập từ Châu Phi sau khi người Âu
Châu khám phá ở Châu Mỹ từ năm 1492 (do Chritophecoloms người Bồ Đào Nha
và Tây Ban Nha) đem mè đi bán.
1.1.2 Giá trị sử dụng
* Hạt mè
Được sử dụng rất phổ biến để chế biến nhiều dạng thức ăn (kẹo mè, chè
mè ). Trong dân gian, còn dùng mè để nấu cháo (nếp với mè) cho người mẹ cho
con bú rất tốt (Phạm Đức Toàn, 2009).
* Dầu mè
Tiêu thụ nhiều nhất, dầu mè rất tốt, khác với các loại dầu khác là không bị
oxy hóa nên nên không chuyển thành mùi khó chịu. Vì trong mè có chứa
chất sesamol, ngăn cản quá trình oxy-hóa. Trong kỹ nghệ, dầu mè sử dụng để bôi
trơn máy móc cao cấp: máy bay, máy dùng trong khoa học kỹ thuật, dầu dùng để
pha sơn, pha vecni rất tốt vì có màu láng bóng. Trong y học, dùng để làm thuốc

đầy trí não, bổ gân cốt, sáng tai mắt, sát trùng (Phạm Văn Thiều, 2003).
1.1.4 Đặc tính thực vật
Là cây trồng cổ xưa và phát triển ở vùng khí hậu nhiệt đới cũng như ôn đới
và có lợi thế nông nghiệp quan trọng (Ashri, 1998). Về đặc điểm thực vật học của
cây mè (Sesamum indicum L.):
1.1.4.1 Rễ
Mè thuộc loại rễ cọc, sự phát triển của rễ trụ và rễ bên đều phụ thuộc vào
đặc điểm của đất, ẩm độ, khí hậu khô hay nóng, thời gian sinh trưởng của cây,
giống, cây phân cành hay không phân cành. Thường thì rễ mè phân bố chủ yếu ở
lớp đất từ 0-25cm. Rễ cái có khả năng ăn sâu giúp cho cây có khả năng chịu hạn
tốt, ngược lại khả năng chịu ngập lại rất kém, cây mè có thể chết nếu bị ngập úng
trong thời gian ngắn. Trồng mè trên đất cát thì rễ phát triển mạnh hơn trên đất thịt
nặng và khả năng chịu hạn của cây mè một phần cũng do hệ thống rễ phát triển
mạnh. Ngược lại, khả năng chịu ngập của cây mè lại rất kém, thậm chí trong thời
gian ngắn là cây đã bị héo sau một trận mưa lớn hoặc mưa ngay sau khi tưới dẫn
đến ứ đọng nước trong ruộng nếu không rút nước sạch trong vòng 1- 2 ngày thì sẽ
ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của cây mè (Tạ Quốc Tuấn và Trần Văn
Lợt, 2006).
1.1.4.2 Thân
Thân mè có hình dạng thẳng đứng , lát cắt ngang thân có hình vuông với
các rãnh chạy dọc thân, đôi khi cũng xuất hiện những dạng hình thân dẹt. Thân có
thể nhẵn, có thể có lông hoặc rất nhiều lông và thân thường phổ biến nhất là màu
xanh đậm, nhưng có thể dao động từ màu xanh lá cây đến gần như màu tím
(Weiss, 2000).
Chiều cao thân có thể biến từ 60 đến 120cm, nhưng có trường hợp cao tới
300cm (Weiss, 2000). Số lượng của các mắt trên thân chính thay đổi từ 4 đên 65
mắt. Số lượng phân nhánh nhiều hay ít phụ thuộc vào đặc điểm của giống, và bị
ảnh hưởng trục tiếp bởi điều kiện môi trường, số nhánh có thể thay đổi từ phạm vi
0-20 (Weiss, 2000).
Mối liên quan giữa độ dài lóng với độ dài trái và vị trí phân cành đầu tiên có

thể có màu đỏ hoặc các điểm màu đen, đôi khi có màu tía hoặc đốm vàng (Weiss,
2000).
Hoa mè có 5 nhị đực dài từ 0,5-0,6cm trong đó có 4 cái hoạt động (2 cái dài
và 2 cái ngắn), còn 1 cái bất dục, chúng dính trên ống tràng thành 2 cặp. Bầu nhụy
có lông mềm và nằm trên đáy hoa, có vòi nhẵn, có ừ 2-4 ngăn và được chia thành
nhiều ngách giả mang rất nhiều noãn (Phạm Văn Thiều, 2003).
Mè là loại cây tự thụ phấn, nhưng thụ phấn nhờ côn trùng cũng rất phổ biến
và thụ phấn nhờ gió không nhiều. Có khoảng 10% hiện tượng thụ phấn chéo, cá
biệt có giống thì hiện tượng này đạt tới 50% (Tạ Quốc Tuấn và Trần Văn Lợt,
2006).
Loài ong Megachite umbrapennis, loài rầy Dersata và Aylonea chính là
những tác nhân thụ phấn, 90% số hoa nở vào thời gian 5-7 giờ sáng và nó sẽ héo
và rụng vào buổi chiều từ 16-18 giờ (Phạm Văn Thiều, 2003). Quá trình thụ phấn
của hoa mè theo trình tự sau: bao phấn mở dần theo chiều dọc và phóng thích các
hạt phấn sau khi hoa nở, khoảng thời gian này thay đổi thùy thuộc vào giống. Đầu
nhụy là nơi tiếp nhận phấn hoa trước hoặc sau khi một ngày trước khi hoa nở. Ở
điều kiện tự nhiên hạt phấn hoa có thể tồn tại khoảng 24 giờ (Tạ Quốc Tuấn và
Trần Văn Lợt, 2006).
Nhiệt độ thấp ở thời điểm ra hoa có thể đưa đến hiện tượng hạt phấn bị thoái
hóa hoặc chín trước khi hoa rụng. Ngược lại, vào những thời điểm nhiệt độ cao
40
0
C hoặc cao hơn ở thời kì ra hoa thì ảnh hưởng rất lớn tới khả năng thụ tinh, do
đó làm giảm số quả trên cây. Khi trồng mè trong nhà kính thì nhiệt độ trung bình
tương đối khoảng 24-27
0
C rất thích hợp cho sự phân hóa hoa sớm, nhưng nếu nhiệt
độ ban đêm duy trì ở 33
0
C hoặc 15

hoặc màu nâu tối, trên bề mạt của hạt thường có rãnh hoặc nhẵn. Trọng lượng
1000 hạt có thể đạt từ 2-4 gam, chiều rộng khoảng 1,5-2,0 mm, dày 1 mm. Trong
thành phần hạt mè, cứ 100 gam hạt mè có chứa 43,5-58,8 gam lipid, rất giàu acid
béo không bão hòa như linoleic và linolenic cần thiết cho nhu cầu cơ thể. Ngoài ra
hạt mè còn chứa nhiều vitamin A, B1, B2, PP và một số nguyên tố khoáng như:
canxi, phốt pho, sắt, kẽm, đồng, molipden…
Nếu được thu hoạch thủ công lại được bảo quản trong kho lạnh đủ tiêu
chuẩn thì tỷ lệ nảy mầm hàng năm chỉ giảm mất khoảng 10%, còn nếu thu hoạch
bằng máy thì chỉ sau 6 ngày tỷ lệ nảy mầm đã có thể giảm 97% xuống chỉ còn 65%
(Phạm Văn Thiều, 2003). 1.1.5 Sự sinh trưởng và phát triển của cây mè
Thời gian sinh trưởng của mè biến thiên trong khoản 75-120 ngày (Trần Thị
Kim Ba và Lê Vĩnh Thúc, 2011). Thời gian sinh trưởng sinh dưỡng kéo dài 40-60
ngày, tùy thuộc vào giống và điều kiện ngoại cảnh. Điều kiện ngoại cảnh ảnh
hưởng rất lớn đến thời gian sinh trưởng dinh dưỡng là nhiệt độ và độ dài ngày.
Trong thời kỳ sinh trưởng dinh dưỡng, quá trình sinh lý quan trọng nhất của
mè là sự sinh trưởng của các bộ phận dinh dưỡng và sự phân hóa mầm hoa. Thời
kỳ sinh trưởng phát triển đặc trưng là sự ra hoa, kết quả, hình thành hạt và chín.Mè
ra hoa trong khoảng thời gian 15 - 20 ngày
Tốc độ tăng trưởng của quả rất nhanh, quả phát triển tối đa trong khoảng 9
ngày. Sau khi nở hoa mặc dù quả còn tiếp tục phát triển trong 24 ngày, trong thời
kỳ chín trọng lượng khô của quả đạt tối đa vào khoảng ngày thứ 27 sau khi hoa nở.
Quả chín hoàn toàn vào khoảng 35 - 40 ngày (Nguyễn Thị Kim Nguyệt và ctv.,
1999)
7

quá trình sinh trưởng, phát triển thì sự nảy mầm của hạt và sự sinh trưởng của cây
con đều bị chậm lại và nhiệt độ ở 10
0
C thì sự nảy mầm và sinh trưởng đều bị ức
chế. Nhiệt độ cao trên 40
0
C vào thời gian ra hoa sẽ cản trở sự thụ phấn, thụ tinh,
tăng tỷ lệ hoa rụng và do đó làm giảm số hoa (Phạm Văn Thiều, 2003).
Nhiệt độ khoảng 27-35
0
C trong suốt quá trình sinh trưởng là điều kiện rất
thuận lợi cho sinh trưởng, phát triển và khả năng cho năng suất của cây mè ở các
tỉnh trồng mè phía Nam (Tạ Quốc Tuấn và Trần Văn Lợt, 2006).
1.2.3 Ánh sáng
Mè thuộc loại cây ngắn ngày. Nếu thời gian chiếu sáng dưới 10 giờ/ngày sẽ
rút ngắn thời gian sinh trưởng sinh dưỡng của cây mè, và mè sẽ ra hoa sớm hơn
15-25 ngày trong điều kiện tự nhiên (12 giờ chiếu sáng/ngày). Phản ứng ánh sáng
cũng tùy thuộc vào giống, cũng có những giống trở nên thích ứng với nơi trồng khi
thời gian chiếu sáng thay đổi. Thời gian chiếu sáng ảnh hưởng rất nhiều tới năng
suất và chất lượng của hạt mè cũng như hàm lượng dầu trong mè bị thay đổi.
Cường độ ánh sáng trong thời gian kết trái đến khi chín là 2800 lux thì thích hợp
cho quá trình hình thành dầu, hàm lượng dầu giảm 8% nếu cường độ ánh sáng
giảm xuống 7000 lux.
Các giống mè địa phương của nước ta do cơ cấu mùa vụ, lại có nhiệt độ cao
nên hầu hết là sử dụng các giống ngắn ngày. Khi sinh trưởng trong mùa hè nắng
nóng lại có số giở chiếu sáng trên 10 giờ/ngày nên thời gian sinh trưởng của các
giống thường kéo dài 85-90 ngày, có khi đến trên 100 ngày (Phạm Văn Thiều,
2003).
1.2.4 Nước
Là một yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng tới năng suất mè. Tuy là cây chịu

, 25kg K
2
O. Ở những vùng thâm canh mè Châu
Phú (An Giang) người ta thường sử dụng công thức 90-60-30. Ở nước ta khi làm
thí nghiệm bón phân cho mè trên các chân đất nghèo kali như ở Nghệ An và Bắc
Giang thì mức bón 5 tấn phân chuồng+ 60kg N+60kg P
2
O
5
+ 60kg K
2
O trên ha là
cho năng suất và hiệu quả phân bón cao nhất theo tỷ lệ N:P:K là 1:1:1 (Phạm Văn
Thiều, 2003).
1.3 GIỐNG
Có khoảng 30 loài khác nhau, nhưng loại được trồng phổ biến là mè trắng
(Sisamum indicum L.), và mè đen (Sisamum orientabe L.), (Phạm Đức Toàn,
2009). Tùy theo mục đích sau thu hoạch để chọn giống trồng.
9

1.4 SÂU BỆNH HẠI QUAN TRỌNG TRÊN CÂY MÈ
Theo Trần Thị Kim Ba và ctv., (2008) thì sâu bệnh hại trên cây mè như sau:
1.4.1 Sâu hại
* Rầy xanh (Amrasca devestans) Rầy chích hút làm ảnh hưởng chất lượng
hạt, rầy xuất hiện từ khi cây có hoa, đẻ trứng vào mô lá, rầy non chích dịch làm
cây suy yếu, không phát triển rụng nụ và trái non, trái già thì hạt bị lép nhiều, khi
mật số cao sẽ làm cháy lá.
* Sâu sừng (Acherontia spp.) sâu non thích ăn lá, đặc biệt là lá non, làm
ảnh hưởng đến sự phát triển của cây.
* Sâu vẽ bùa (Ophiomyza phaseolii) Trứng được đẻ trên lá non, ấu trùng

bệnh gây hại cả 2 mặt lá. Cây bị nhiễm nặng sinh trưởng bị đình trệ do khả năng
quang hợp kém.
10

1.5 THU HOẠCH
Cây mè ra hoa tạo trái trong trong suốt thời gian sinh sản của cây. Do đó
xác định đúng thời gian thu hoạch sẽ làm hạn chế sự rơi hạt do trái quá chín tự
khai ra. Thu hoạch khi thấy lá dưới gốc vàng và trái vàng xuất hiện nhiều đốm đen.
Khi thu dùng dao cắt sát gốc, bó thành từng bó riêng, đem đi ủ cho rụng bớt lá,
phơi nắng (Nguyễn Thị Kim Nguyệt và ctv., 1999).
1.6 BẢO QUẢN
Sau khi thu hoạch, phơi nắng, bảo quản hạt giống ở độ ẩm 12% (Nguyễn
Thị Kim Nguyệt và ctv., 1999)
1.7 CHẤT ĐIỀU HÒA SINH TRƯỞNG
Theo Lê Văn Hòa và Nguyễn Bảo Toàn (2005) thì chất điều hòa sinh
trưởng là những chất có hoạt tính sinh học rất lớn, được tạo ra một lượng rất nhỏ
đê điều hòa các quá trình sinh trưởng và phát triển của thực vật. Dựa trên hoạt tính
của các chất này trong tự nhiên, người ta chia làm 2 nhóm chất: kích thích và ức
chế sinh trưởng.
Chất điều hòa sinh trưởng, phát triển thực vật là những chất có bản chất hóa
học rất khác nhau nhưng đều có tác dụng điều tiết các quá trình sinh trưởng phát
triển của cây từ lúc tế bào trứng thụ tinh phát triển thành phôi cho đến khi cây ra
hoa kết quả, hình thành cơ quan sinh sản, dự trữ và kết thúc chu kì sống của mình
(Vũ Văn Vụ và ctv., 1998).
Theo Vũ Văn Vụ và ctv., (1998) cũng cho biết thêm, về đại cương thì các
chất điều chỉnh sự sinh trưởng, phát triển của thực vật được chia thành 2 nhóm có
tác dụng đối kháng về sinh lý: các chất kích thích sinh trưởng và các các chất ức
chế sinh trưởng. Các chất điều chỉnh sinh trưởng mà ở nồng độ sinh lý có ảnh
hưởng kích thích đến quá trình sinh trưởng của cây được gọi là chất kích thích sinh
trưởng. Còn các chất điều chỉnh sinh trưởng nhìn chung có ảnh hưởng ức chế lên

Theo Nguyễn Minh Chơn (2010) cho biết, chất điều hòa sinh trưởng được
ứng dụng để giảm lão hóa: Nhiều loại rau quả, trái cây, nấm được giữ tươi để đưa
ra thị trường. Do đó việc duy trì chất lượng trong suốt quâ trình tồn trữ sau thu
hoạch, vận chuyển để giảm hư hại là rất quan trọng. Cytokinin, chất cản sinh
trưởng, auxin, gibberellin và những chất ức chế hoạt động hoặc sinh tổng hợp
ethylene có khả năng giảm lão hóa.
1.8 NHỮNG NGUYÊN TẮC SỬ DỤNG CHẤT ĐIỀU HÒA SINH TRƯỞNG
Theo Vũ Văn Vụ và ctv., (1998) cho biết, khi sử dụng các chất điều hòa
sinh trưởng trong trồng trọt ta cần chú ý những nguyên tắc sau:
Nguyên tắc thứ nhất: là nồng độ. Hiệu quả của chất điều hòa sinh trưởng
thực vật phụ thuộc vào nồng độ tác dụng. Thông thường, nếu nồng độ quá thấp thì
hiệu quả sinh lý kém hay không có gì; nồng độ sử dụng ở mức thấp sẽ gây hiệu
quả kích thích sinh trưởng; nếu nồng độ sử dụng cao sẽ gây ảnh hưởng ức chế và
nếu nồng độ sử dụng qua cao sẽ gây ảnh hưởng phá hủy, dẫn đến hủy diệt. Vì vây,
tùy mục đích đạt ra mà ta chọn nồng độ khác nhau.
Nguyên tắc thứ hai: là nguyên tắc phối hợp. Chất điều hòa sinh trưởng
không phải là chất dinh dưỡng, mà chúng chỉ có thể hoạt hóa quá trình trao đổi
chất. Vì vậy, muốn có hiệu quả kinh tế (tăng năng suất và phẩm chất) thì nhất thiết
phải phối hợp chất điều hòa sinh trưởng với việc thỏa mãn nhu
12

cầu về nước và dinh dưỡng cho cây.
Nguyên tắc thứ ba: là nguyên tắc đối kháng sinh lý giữa các chất xử lý ngoại
sinh và các chất nội sinh. Sự đối kháng sinh lý này sẽ triệt tiêu tác dụng của nhau.
1.9 CYTOKININ
Theo Nguyễn Minh Chơn (2010), cytokinin là những hợp chất adenine được
thay thế, nó kích thích sự phân chia tế bào và những chức năng điều hòa sinh trưởng
khác giống như kinetin (6-furfurylaminopurine).
Theo Harberlandt (1913) thấy rằng chất khuếch tán của mô libe có khả năng
kích thích tế bào tăng sinh trưởng trong mô củ khoai tây. Gần 30 năm sau Van

cytokinin còn kích thích pha dãn dài lẫn pha chuyên hóa. Trong đó, BA
(benzyladenine) và kinetin được sử dụng rộng rãi hơn cả. Khi có tác dụng của auxin ở
mức khác nhau, đối với các tế bòa tách rời (nuôi cấy mô) sự cân đối giữa auxin và

Trích đoạn Bố trí thí nghiệm Các chỉ tiêu theo dõi Xử lý số liệu ẢNH HƯỞNG CỦA BENZYLADENINE ĐẾN SỰ SINH TRƯỞNG VÀ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status