BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
LÊ PHI LONG
ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ TRỒNG VÀ
CÁC MỨC BÓN ĐẠM KHÁC NHAU ĐẾN SINH
TRƯỞNG PHÁT TRIỂN VÀ NĂNG SUẤT
CÂY CỎ NGỌT (Stevia rebaudiana Bertoni) GIỐNG M1
TẠI XÃ NGHI KIM, TP.VINH, NGHỆ AN
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
NGHỆ AN – 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
LÊ PHI LONG
ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ TRỒNG VÀ
CÁC MỨC BÓN ĐẠM KHÁC NHAU ĐẾN
SINH TRƯỞNG PHÁT TRIỂN VÀ NĂNG SUẤT CÂY
CỎ NGỌT (Stevia rebaudiana Bertoni) GIỐNG M1
TẠI XÃ NGHI KIM, TP.VINH, NGHỆ AN
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
Chuyên ngành: KHOA HỌC CÂY TRỒNG
Mã số : 60 62 01 10
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Kim Đường
NGHỆ AN - 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng:
Số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và
chưa từng được sử dụng, được bảo vệ một học vị nào khác.
Mọi sự giúp đỡ trong việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và
các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc.
Năng suất cá thể
NSTT
Năng suất thực thu
NSLT
Năng suất lý thuyết
LSD
0,05
Sai khác nhỏ nhất có ý nghĩa ở mức 0,05
FAO
Tổ chức Nông Lương Liên hiệp quốc
FDA
Cục quản lý dược và thực phẩm Mỹ
VIR
Viện nghiên cứu cây trồng toàn Liên bang Nga
VSA
Hiệp hội giống cây trồng Việt Nam
NN & PTNT
Nông nghiệp và phát triển nông thôn
Cty CP
Công ty cổ phần
UBND
Ủy ban nhân dân
WHO
Tổ chức y tế Thế giới
iv
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
v
DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hòa Bình, Vĩnh Phú, Yên Bái, Bắc Giang, . . . Mặt khác, kỹ thuật nhân giống,
1
gieo trồng và chăm sóc cỏ ngọt đơn giản, vốn đầu tư không nhiều, việc thu hoạch
sản phẩm dễ dàng, sản phẩm là cành lá khô nên có thể làm nguyên liệu phục vụ
trong y học, công nghiệp thực phẩm hoặc trực tiếp làm thành phẩm như các loại
chè giải khát, chữa bệnh, . .v.v. Vì vậy, nó đã được các doanh nghiệp và chủ
trang trại quan tâm và trong vòng vài năm gần đây cây Cỏ ngọt bắt đầu phát triển
mạnh và được trồng rộng rãi.
Tác dụng của cỏ ngọt là bổ tim, lợi tiểu, làm giảm huyết áp và đặc biệt nhất là
đối với những người bị bệnh tiểu đường. Do không tạo calorie nên Cỏ ngọt rất thích
hợp để giúp giảm cân. Ngoài ra, nó cũng giúp vào việc làm lành các vết thương
ngoài da nên được dùng rộng rãi trong y học như sử dụng cho người bị đái tháo
đường, chống xơ cứng động mạch, lưu thông khí huyết, chống béo phì ở phụ nữ cao
huyết áp cũng như trong mỹ phẩm [13]
Với những tác dụng lớn như vậy, sản phẩm cỏ ngọt không chỉ tiêu thụ mạnh
trong thị trường nội địa mà còn được thị trường thế giới đặc biệt quan tâm.
Tại Nghệ An, với tổng diện tích tự nhiên 1.637.068 ha (bằng 1/20 diện tích
lãnh thổ Việt Nam). (dẫn theo Trần văn Quyền, 2008). Trong đó, diện tích đất
trồng hoa màu tương đối lớn (khoảng 280.000 ha), đã cho thấy tiềm năng phát
triển rộng rãi quy mô trồng. Cỏ ngọt được công ty CP đầu tư phát triển Stevia Á
Châu đưa vào khảo nghiệm từ tháng 11/2009 tại xóm 4-Nghi Đồng, Nghi Lộc-
Nghệ An. Qua hơn hai năm rưỡi nghiên cứu và khảo nghiệm, với tổng diện tích
trồng là 8,2 ha, cây Cỏ ngọt đã cho thấy nó rất phù hợp thổ nhưỡng của Nghệ An.
Với nhiều ưu điểm như là cây ngắn ngày, chu kỳ thu hoạch ngắn (1,5÷2
tháng/lứa), sản phẩm là cành lá nên chịu thâm canh, làm đất một lần cho thu
hoạch hai năm, kỹ thuật canh tác đơn giản, sản phẩm được bao tiêu ngay sau khi
thu hoạch nên cỏ ngọt đang từng bước khẳng định được vị thế của mình trong
việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng của tỉnh nhà. Hiện nay nhiều xã thuộc huyện
Quỳnh Lưu, Diễn Châu, Hưng Nguyên, Nam Đàn, Thanh Chương, Đô Lương,
Yên Thành đã chuyển sang trồng cây Cỏ ngọt thay hoa màu và cho thu nhập
Xác định cơ sở khoa học của mật độ trồng, việc sử dụng phân bón góp phần
hoàn thiện quy trình kỹ thuật sản xuất cỏ ngọt cho năng suất cao, chất lượng tốt.
3
Cung cấp các tài liệu khoa học phục vụ công tác nghiên cứu và giảng dạy về
cây cỏ ngọt.
3.2. Ý nghĩa thực tiễn
+ Tìm ra mật độ trồng, mức bón đạm và sự kết hợp có hiệu quả nhất giữa
mật độ trồng và mức bón đạm cho cây cỏ ngọt đem lại năng suất và hiệu quả
kinh tế khi mở rộng vùng trồng cây.
+ Góp phần vào việc xây dựng quy trình sản xuất cây cỏ ngọt hoàn chỉnh
mang lại thu nhập cao cho người dân.
4
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Giới thiệu chung về cây cỏ ngọt
1.1.1. Nguồn gốc, phân bố của cây cỏ ngọt
Cỏ ngọt (Stevia Rebaudiana Bertoni) còn được gọi là cây cỏ đường, cỏ
mật, trạch lan hay cúc ngọt, có nguồn gốc từ thung lũng Rio Monday nằm về
phía Đông Bắc xứ Panama, Nam Mỹ (theo thông tin KHCN 4/1995). Tên khoa
học của cỏ ngọt lúc đầu là Eupatorium Rebaudianum vì O. Rebaudi là người đầu
tiên đã nói đến nó. Năm 1899, một nhà thực vật học người Paraguay,
M.C.Bertoni xác định nó là cây thuộc loại Stevia, họ Cúc. Năm 1905 ông miêu tả
rành mạch và chính thức đặt tên nó là Stevia Rebaudiana Bertoni. Năm 1915,
R.Robert tìm ra trong cây cỏ ngọt một chất là Eupatorin. Sau đó Bertoni đề nghị
sửa tên Eupatorin thành Estevina hay Stevin. Liên hợp hóa học quốc tế họp ở
Copenhagen năm 1924 chỉ định tên Steviosid cho chất này. Thổ dân Guarani ở
Paraguay còn gọi cỏ này là ka-ê-hê có nghĩa là cỏ ngọt (Brandle, J.E and Rosa,
N, 1992) [16].
1.1.2. Phân loại thực vật
Cây cỏ ngọt thuộc họ: Asteraceae (Compositae)
Bằng phương pháp sắc ký bản mỏng và một số phương pháp sắc ký khác người
ta đã tìm thấy các chất ngọt có trong lá cây Cỏ ngọt. Kết quả thu được 9 chất
khác nhau từ lá Cỏ ngọt, nhưng chủ yếu gồm bốn chất chính: stevioside
(5÷10%), rebaudioside A (2÷4%), rebaudioside C (1÷2%), và dulcoside A
(0,5÷1%). Hai loại phụ là rebaudioside D và E [2].
6
Bảng 1.1. Thành phần chính trong lá cây cỏ ngọt
TT Tên chất ngọt
Độ ngọt so với đường mía
(Saccarose =1)
1 Stevioside 1 100÷125
2 Rubuoside 100÷120
3 Stevioside 2 150÷300
4 Rebaudioside A 250÷450
5 Rebaudioside B 300÷350
6 Rebaudioside C 120÷500
7 Rebaudioside D 250÷450
8 Rebaudioside E 150÷300
9 Dulcoside A 50÷120
(Nguồn: Kết quả phân tích của tập đoàn PureCircle, năm 1983)
1.1.5. Giá trị của cây cỏ ngọt
Cây cỏ ngọt không chỉ có nhiều hữu ích trong ngành dược, mà còn là cây
trồng có giá trị kinh tế rất cao. Trên thị trường Pháp, giá cỏ ngọt rất cao khoảng
10÷15 EURO cho 50 gam bột tinh chất. Tuy nhiên, có dự đoán cho rằng chỉ
trong vòng 5 năm tới, stevia-cỏ ngọt sẽ có thể chiếm được từ 20÷25% thị phần
của đường thực phẩm [5]
Cỏ ngọt ở Việt Nam chỉ hái lá khô để bán, làm thuốc bắc, nấu chè, hay sơ
chế, nên giá trị thật của nó chưa cao. Trong khi, theo tính toán, 10 kg lá khô = 1
kg đường, bán ra với giá 130÷150 USD/kg. Như vậy, lợi nhuận từ lá cỏ ngọt chế
biến ra đường là rất cao. Cỏ ngọt cho thu hoạch 5÷6 lứa/năm, sau 4 năm mới
điều kiện thời tiết của vùng Quỳnh Lưu. Sau 3 tháng trồng cỏ ngọt bắt đầu cho
thu hoạch, trong thời gian 2 năm cho thu hoạch khoảng từ 5÷7 đợt. Sản phẩm thu
hoạch về được công ty Á Châu trực tiếp thu mua với giá bán khô 12,5 triệu
đồng/tấn, bán tươi 6,5 triệu đồng/tấn. Nếu được đầu tư chăm sóc tốt, 1 ha cỏ ngọt
có thể thu về từ 130÷150 triệu đồng [6].
Cây cỏ ngọt mới phát triển ở Nghệ An khoảng 2 năm, được trồng đầu tiên ở
xã Nghi Đồng (huyện Nghi Lộc). Nhận thấy đây là loại cây có thể phát triển
được ở địa phương, nhiều huyện đã chủ động liên hệ với Công ty Stevia Á Châu
8
để trồng thí điểm, hiệu quả của cây cỏ ngọt đã được khẳng định, từ chỗ chỉ có vài
hộ tham gia trồng sau đã được nhân rộng rất nhiều hộ trong các huyện. Dù trồng
trong điều kiện thời tiết không thuận lợi nhưng bình quân mỗi lần thu hoạch
khoảng 6 tạ/sào, thậm chí có hộ đạt 9÷10 tạ/sào, giá trị thu nhập đạt khoảng
3,5÷4,7 triệu đồng/sào/lần thu hoạch. Nếu chăm sóc đúng kỹ thuật và thời tiết
thuận lợi thì 2 tháng cho thu hoạch một lần, 1 năm có thể thu hoạch 4÷5 lần giá
trị kinh tế gấp 3÷4 lần so với trồng lạc, lúa [11]
Làm cỏ ngọt không khó nhưng lại đòi hỏi công nghệ cao, trong khi nông
dân của mình là nông dân theo công nghệ thấp, nên doanh nghiệp phải biến họ
thành công nhân, đào tạo bài bản về quy trình thực hiện thì ta mới có thể làm
được cỏ ngọt giá trị cao hơn nữa.
1.1.6. Sơ chế các sản phẩm từ cỏ ngọt
Cỏ ngọt có thể làm nguyên liệu và các thành phẩm sau:
- Lá khô (làm trà đơn hoặc phối hợp với atisô, . . .); làm xi rô, bột, hoặc
chiết xuất steviosid để tẩm vào trà Nhân sâm - Đương quy-Nhân trần, . . .
- Tinh thể hay bột steviosid (để cho vào cà phê, nước giải khát, chè ngọt,
bánh mứt kẹo, . . .).
- Với trà Cỏ ngọt bán trên thị trường là những gói cành lá cỏ ngọt khô, có
thể dùng để sắc uống với liều 3÷9 g/ngày. Có thể sắc lấy nước đặc hơn để cho vô
chè, cháo, cà phê, . . . thay đường.
- Xay nhuyễn lá cỏ khô thành bột, dùng thay thế cho đường kính.
Theo Hiệp hội Giống cây trồng Việt Nam (VSA) thuộc Bộ Nông nghiệp và
Phát triển nông thôn (NN & PTNT), đầu ra cho sản phẩm cây cỏ ngọt là rất khả
quan và có thể không lâu trong thời gian tới, chế phẩm từ cỏ ngọt Việt Nam sẽ có
mặt tại thị trường Mỹ.
Giáo sư Trần Đình Long - Chủ tịch VSA khẳng định, hiện nay thị trường của
sản phẩm đường sản xuất từ cây cỏ ngọt tương đối khả quan, đặc biệt là hai thị
trường lớn là Mỹ và châu Âu (EU). Nhiều doanh nghiệp của Mỹ và EU đã đề xuất
mua toàn bộ các chế phẩm cỏ ngọt của Việt Nam nếu chúng ta sản xuất được.
Ngày 15/3, Bộ NN & PTNT đã có văn bản đề nghị VSA phối hợp với
các cơ quan chức năng của Bộ, xây dựng Đề án nghiên cứu, sản xuất, chế biến
và tiêu thụ cỏ ngọt theo hướng công nghệ cao tại Việt Nam. Theo Bộ NN &
PTNT, cỏ ngọt là loại cây trồng không tranh chấp với đất trồng lúa, có nhiều
công dụng quý. Quy trình nhân giống và kỹ thuật canh tác đơn giản, đầu tư
không cao, năng suất ổn định, dễ tiêu thụ và hiệu quả kinh tế cao. Hiện, cây cỏ
ngọt đã được trồng tại Cao Bằng, Hà Giang, Hà Nội, Hòa Bình, Hưng Yên,
Thái Bình, Nghệ An, Lâm Đồng, . . Việc nghiên cứu, khảo nghiệm, sản xuất
thử cho thấy: Cỏ ngọt phù hợp với thổ nhưỡng và khí hậu của nhiều vùng sinh
thái tại Việt Nam [3].
Ngày 4/1/2011, ông George Blankenbaker, đại diện Tập đoàn PurCircle đã
có buổi làm việc với UBND tỉnh Nghệ An. Ông này cho hay: Dự án chuyển đổi
cơ cấu mùa vụ, trồng cây cỏ ngọt Stevia làm nguyên liệu chiết xuất đường Reb-A
tại tỉnh Nghệ An quy mô dự kiến 5.000 ha nhằm hướng đến mục tiêu xây dựng
nhà máy chiết xuất đường Reb-A thương mại đầu tiên tại Việt Nam của Tập đoàn
PureCircle. Cty CP Á Châu là đối tác chiến lược duy nhất của Tập đoàn tại miền
Trung Việt Nam.
Trước mắt khi vùng nguyên liệu chưa ổn định 500 ha để xây dựng nhà
máy (năm 2013), Tập đoàn cam kết bao tiêu toàn bộ sản phẩm lá khô cỏ ngọt
11
mà người dân ký hợp đồng sản xuất với Cty CP Á Châu, . . . Chính vì vậy để
xúc tiến nhanh dự án này, ngày 8/3/2011, Sở NN và PTNT Nghệ An lại có
+ Dinh dưỡng khoáng:
Cỏ ngọt là cây cho thu hoạch nhiều lứa và phần sử dụng chủ yếu là lá nên
cây yêu cầu về dinh dưỡng khoáng lớn. Cho nên việc bón phân là biện pháp tích
cực làm tăng năng suất cỏ ngọt. Đạm, lân, kali là 3 nguyên tố cơ bản xây dựng
nên chất hữu cơ và năng suất cỏ ngọt, đặc biệt là phân đạm [9].
+ Yêu cầu về nước và độ ẩm
- Nước: Cỏ ngọt là cây sợ úng nhưng lại ưa ẩm. Cung cấp đủ nước, đảm
bảo độ ẩm cây sẽ sinh trưởng tốt, khỏe, tuổi thọ kéo dài, nhiều cành và cho sản
lượng thu hoạch cao, ngoài ra còn tăng số lần thu hoạch trong năm. Nếu thiếu
nước cây sinh trưởng kém, còi cọc, lá nhỏ, khả năng ra cành yếu dẫn đến năng suất
thu hoạch giảm [9].
- Độ ẩm: Tuỳ từng giai đoạn sinh trưởng và phát triển của cây cỏ ngọt mà
yêu cầu về độ ẩm của cây cũng khác nhau. Thời kỳ nẩy mầm ẩm độ 60÷85%,
giai đoạn giâm cành yêu cầu độ ẩm từ 70÷80% thì cành giâm có tỷ lệ sống cao
và cây con có chất lượng tốt. Cây trưởng thành độ ẩm thích hợp nhất cho cây
phát triển từ 70÷75%. Thời kỳ thu hoạch yêu cầu độ ẩm đất 60÷70%.
+ Ánh sáng
Cỏ ngọt là cây ưa sáng và cường độ ánh sáng mạnh, do đó cỏ ngọt
sinh trưởng tốt và cho năng suất cao ở thời kỳ từ tháng 3÷10 dương lịch. Từ
tháng 10 cây ra hoa nhanh. Nếu thâm canh tốt cây vẫn cho thu hoạch trong
mùa đông [9].
1.2. Tình hình sản xuất và nghiên cứu cỏ ngọt trên thế giới và Việt Nam
1.2.1. Tình hình sản xuất và nghiên cứu cỏ ngọt trên thế giới
Ngày 4 tháng 7 năm 2008 Tổ chức lương thực và nông nghiệp Liên Hiệp
Quốc FAO phê chuẩn và Cục quản lý dược và thực phẩm Mỹ FDA cho phép vào
ngày 17 tháng 12 năm 2008 về việc sử dụng cây cỏ ngọt để chế xuất làm chất
ngọt. Đường chiết xuất từ cây cỏ ngọt đang trở thành mặt hàng thiết yếu và an
13
toàn, cụ thể các hãng thực phẩm lớn trên thế giới như Coca, Pepsi, . . . đang sử
dụng đường cỏ ngọt thay đường mía [25].
đoàn này đã sản xuất cỏ ngọt tại Trung Quốc, Kenya, Paraguay và thông qua
công ty Growers Fresh Ptd Ltd, đang lập kế hoạch mở rộng sang Việt Nam.
PureCircle sản xuất ra 40.000 tấn đường chiết xuất từ cỏ ngọt trong những năm
qua, và dự kiến sẽ tăng sản lượng lên gấp 4 lần con số trên trong một vài năm tới.
14
Triển vọng này cũng đồng nghĩa với việc các quốc gia tiềm năng rồi đây sẽ dành
một diện tích canh tác khổng lồ để trồng cây Stevia bởi phần chất ngọt
Rebaudioside A có giá trị thương mại chỉ chiếm khoảng 8% trong mỗi chiếc lá
của nó [30].
Nhật Bản là quốc gia sử dụng nhiều nhất trên thế giới, mỗi năm kỹ nghệ Nhật
tiêu thụ từ 700 tấn đến 1.000 tấn lá cỏ ngọt. Hằng năm ở Nhật Bản người ta đã sử
dụng tới 45÷53 tấn Steviosid trong công nghiệp mứt kẹo, nước hoa quả, rượu màu.
Còn ở Paraguay, nơi đã sinh ra cây trồng này, người ta dùng pha với trà làm nước
giải khát. Hiện nay theo các tài liệu đã công bố, 3 nước dùng cỏ ngọt trong công
nghiệp thực phẩm nhiều nhất là Nhật Bản, Brasil và Paraguay [12].
Hiện nay trên thế giới, theo kết quả nghiên cứu về tính an toàn của các
chất phụ gia thực phẩm, người ta đã kiến nghị cấm dùng một số chất ngọt
có hại cho người như cyclamat và saccharin đang có lẫn trong các loại thực
phẩm, rượu và nước ngọt. Ở các nước phát triển và thành thị các nước đang
phát triển phải hạn chế sử dụng các chất ngọt có năng lượng cao như đường
mía, đường bắp, mật và bột ngũ cốc, . . . người ta đã đề nghị sử dụng chất
ngọt từ cỏ ngọt với mục đích thay thế cho các thức ăn giàu Calori, đáp ứng
nhu cầu cho người bị bệnh đái tháo đường, cao huyết áp, béo phì, . . . Từ
năm 1991 ở các nước này dự kiến giảm 30% đường có năng lượng cao bằng
các loại chất ngọt thay thế đường có năng lượng thấp, người ta sử dụng
steviosid từ cỏ ngọt để làm phụ gia trong công nghiệp thực phẩm. Ngoài ra
người ta còn dùng nó để chế biến các loại kem đánh răng, kem làm mềm da,
sữa làm mượt tóc, . . .[1].
Các nước trên thế giới đã nghiên cứu trồng và chọn tạo giống cỏ ngọt từ rất
lâu. Đặc biệt là Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan và Nga đã có nhiều
Theo Shock (1982), điều kiện khí hậu lý tưởng cho cây cỏ ngọt phát triển là
khí hậu cận nhiệt đới với nhiệt độ trung bình hàng năm là khoảng 24°C, lượng
mưa 1400mm (Shock, C.C, 1982) [21].
Theo Madan và cs (2009) sản lượng lá cỏ ngọt tăng khi tăng mật độ trồng
từ 83.000 cây/ha lên 111.000 cây/ha đối với năm đầu tiên [15]
Theo Naghdi badi và cs (2004) các nhân tố nông học như mật độ và ngày
trồng có ảnh hưởng rất lớn đến năng suất và chất lượng của stevia; họ đã
nghiên cứu với các mật độ trồng 15 cm x 50 cm, 30 cm x 50 cm, 45 cm x 50
16
cm ở 3 giai đoạn thu hoạch kết quả họ thu được là ở mật độ trồng 15 cm x 50
cm và giai đoạn thu hoạch khi cây bắt đầu nở hoa cho sản lượng dầu và năng
suất đạt cao nhất [19].
Theo các nhà khoa học Ấn độ mức dinh dưỡng để đạt hiệu quả tối ưu về
kinh tế nhất cho việc trồng stevia là mức bón NPK với tỉ lệ 300:150:100
kg/ha/năm với 5 lần bón cho 5 lần thu hoạch trong một năm [22]
Theo kết quả nghiên cứu của khoa nông học, trường đại học nông nghiệp
Punjab, Ấn độ, họ đã nghiên cứu ảnh hưởng của 4 mức phân chuồng (0, 15, 30,
45 tấn/ha) và 4 mức bón đạm (0, 20, 40, 60 kg/ha), kết quả thu được là cây stevia
phát triển tốt nhất ở mức bón 45 tấn phân chuồng/ha và sản lượng lá khô đạt cao
nhất ở mức đạm 60 kg/ha (1080 kg/ha) [23]
1.2.2. Tình hình sản xuất và nghiên cứu cỏ ngọt ở Việt Nam
Stevia rebaudiana Bertoni đã được du nhập vào Việt Nam từ đầu những
năm 1990 bởi Trung tâm giống cây trồng Việt Nga do Giáo sư Viện sỹ Trần
Đình Long giới thiệu. Qua gần 20 năm, cũng giống tình trạng chung của cây Cỏ
ngọt trên thế giới, cây cỏ ngọt Việt Nam chủ yếu được trồng phân tán cục bộ
phục vụ mục đích tiêu thụ đông y và làm trà thảo mộc nội địa. Đầu ra chủ yếu là
các nhà máy sản xuất chế biến trà và các tổ hợp đông y truyền thống. Từ một vài
năm trở lại đây, do nhu cầu dần tăng cao, bán cho thương lái được giá, nông dân
các vùng đã mở rộng diện tích canh tác một cách tự phát. Tổng cộng diện tích
cây Cỏ ngọt toàn quốc hiện nay vào khoảng trên dưới 40 ha, phân bố rải rác tại