Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ trồng và liều lượng kali bón đến sinh trưởng phát triển và năng suất của hai giống lạc l19 và l26 trồng trong vụ xuân hè năm 2014 tại thành phố hà tĩnh - Pdf 29

1 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN THÀNH CÔNG

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ
TRỒNG
VÀ LIỀU LƯỢNG KALI BÓN ĐẾN SINH TRƯỞNG
PHÁT TRIỂN VÀ NĂNG SUẤT CỦA HAI GIỐNG
LẠC L19 VÀ L26 TRỒNG TRONG VỤ XUÂN - HÈ
NĂM 2014 TẠI THÀNH PHỐ HÀ TĨNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
Cũng xin gửi lời cám ơn chân thành tới Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo sau
đại học, Khoa Nông lâm ngư - Trường Đại học Vinh, Sở Nông nghiệp và Phát
triển nông thôn Hà Tĩnh, Phòng Nông nghiệp Thành phố Hà Tĩnh, UBND
phường Đại Nài đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình nghiên cứu.
Cuối cùng tôi xin gửi lời cám ơn đến gia đình, bạn bè, những người đã luôn
động viên và khuyến khích tôi trong quá trình thực hiện đề tài này.
Hà Tĩnh, ngày 18 tháng 9 năm 2014
Tác giả luận văn
Nguyễn Thành Công
4 MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
MỞ ĐẦU 1
1.1. Đặt vấn đề 1
1.2. Mục tiêu của nghiên cứu 2
1.3. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 2
Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1. Tình hình sản xuất lạc trên thế giới và ở Việt Nam 3
1.2. Một số kết quả nghiên cứu về cây lạc trên thế giới và Việt Nam 14
Chương 2. VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
29

CLAN
Mạng lưới đậu đỗ và cây cốc châu Á

Mật độ
FAO
Tổ chức lương thực thế giới
USDA, FAS
Ban Nông nghiệp quốc tế thuộc Bộ Nông nghiệp Mỹ
ICRISAT
Viện quốc tế nghiên cứu cây trồng vùng nhiệt đới bán khô hạn
PB
Phân bón
LAI
Chỉ số diện tích lá
LSD
0,05

Sai khác nhỏ nhất có ý nghĩa ở mức 0,05
N
Đạm
G
Giống
NN
Nông nghiệp
DH
Duyên hải
ĐB
Đồng bằng
ĐVT
Đơn vị tính

Diện tích, năng suất, sản lượng lạc một số nước trên thế giới
5
1.3
Sản xuất lạc ở Việt Nam trong những năm gần đây
8
1.4
Diện tích các vùng trồng lạc ở Việt Nam
8
1.5
Sản lượng các vùng trồng lạc ở Việt Nam
9
1.6
Diện tích, năng suất, sản lượng lạc của Hà Tĩnh
11
1.7
Diện tích, năng suất, sản lượng lạc của thành phố Hà Tĩnh
13
3.1
Ảnh hưởng của mật độ trồng đến thời gian các giai đoạn sinh
trưởng của hai giống lạc L19 và L26
34
3.2
Ảnh hưởng của mật độ trồng đến động thái tăng trưởng chiều cao
thân chính của hai giống lạc L19 và L26
36
3.3
Ảnh hưởng của mật độ trồng đến chỉ số diện tích lá của hai giống
lạc L19 và L26
38
3.4

3.11
Ảnh hưởng của liều lượng kali bón đến động thái tăng trưởng chiều
cao thân chính của hai giống lạc L19 và L26
53
3.12
Ảnh hưởng của liều lượng kali bón đến chỉ số diện tích lá của hai
giống lạc L19 và L26
55
3.13
Ảnh hưởng của liều lượng kali bón đến số lượng nốt sần hữu hiệu
của hai giống lạc L19 và L26
57
3.14
Ảnh hưởng của liều lượng kali bón đến số cành cấp 1, cấp 2 và
chiều dài cành cấp 1 của hai giống lạc L19 và L26
58
3.15
Ảnh hưởng của liều lượng kali bón đến mức độ nhiễm sâu bệnh của
hai giống lạc L19 và L26
60
3.16
Ảnh hưởng của liều lượng kali bón đến các yếu tố cấu thành năng
suất của hai giống lạc L19 và L26
61
3.17
Ảnh hưởng của liều lượng kali bón đến năng suất của hai giống lạc
L19 và L26
64
3.18
Ảnh hưởng liều lượng kali bón đến lợi nhuận của hai giống lạc L19

không những cao về hàm lượng mà có đầy đủ và cân đối các amin cơ bản
Isolơxin, lơxin, methionin, phenilalanin và axit amin không thay thế lysin,
triptophan. Chính vì vậy mà lạc được coi là nguồn thực phẩm cung cấp protein
hoàn chỉnh cho con người và cho gia súc. Lipit của lạc chứa một tỷ lệ cao các
axit béo không no (khoảng 60÷70%), có hệ số đồng hóa cao, mùi vị thơm như
axit linoleic, axit oleic, axit lonolenoic. Ngoài ra trong hạt lạc còn có nhiều loại
vitamin như vitamin PP, B, E, F, đặc biệt là vitamin B1, B2 và B3.
Việt Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới có điều kiện thuận lợi cho quá
trình sinh trưởng, phát triển của những cây có dầu cao như: đậu tương, lạc, vừng,
điều, . . . Lạc không những là nguyên liệu cho các ngành công nghiệp mà còn là
nguồn hàng xuất khẩu có giá trị. Đặc biệt ở các tỉnh phía Bắc, lạc là cây trồng
đứng thứ hai về kim ngạch xuất khẩu sau cây chè trong số các cây trồng cạn, có
khả năng tăng vụ và trồng được ở nhiều điều kiện khác nhau từ miền núi đến
đồng bằng. Vì là cây họ đậu nên lạc là cây cải tạo đất tốt, thân lá lạc giàu đạm là
nguồn phân xanh lớn để bón cho cây trồng khác. Kết quả nghiên cứu cho thấy
trong thân lạc có tới 4,45% N, 0,77 % P
2
O
5
, 2,25% K
2
O, đặc biệt cây lạc có khả
năng che phủ đất hạn chế xói mòn, cải tạo đất cho vùng đất dốc khô cằn.
Trong những năm qua, trồng lạc đã góp phần mang lại thu nhập cho hàng triệu
hộ nông dân, đồng thời xuất khẩu lạc đã đem lại một nguồn ngoại tệ quan trọng.
10 Sản xuất lạc ở Việt Nam và ở Hà Tĩnh nói riêng trong những năm qua có
những biến động, không ổn định về cả quy mô cũng như năng suất và sản lượng.

Giữa hai thập niên 70 và 80 của thế kỷ XX diện tích lạc thế giới chỉ tăng
khoảng 88,6 nghìn ha, nhưng do năng suất lạc tăng nên sản lượng tăng lên
đáng kể và đạt 18,8 triệu tấn.
Theo thống kê của FAO, từ năm 2000 đến nay diện tích, năng suất và sản
lượng lạc của thế giới có sự biến động. Diện tích lạc có xu hướng giảm nhẹ, năm
2000 diện tích trồng lạc là 23,26 triệu ha, sau đó tăng lên và đạt cao nhất vào năm
2005 (23,96 triệu ha), nhưng đến năm 2010 diện tích trồng lạc giảm xuống còn
21,44 triệu ha. Ngược lại với diện tích, năng suất lạc ngày càng tăng nhờ được áp
dụng những tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất. Năm 2000 năng suất lạc đạt 14,16 tạ/ha,
tăng so với năng suất năm 1980 (11 tạ/ha) là 30,9%, năm 1990 (11,5 tạ/ha) là
25,2%. Đến năm 2013, năng suất lạc thế giới đạt 17,78 tạ/ha cao nhất trong vòng
14 năm. Cùng với sự gia tăng về năng suất, sản lượng lạc thế giới cũng tăng lên,
đạt cao nhất là 45,23 triệu tấn (năm 2013).
12 Sự phân bố diện tích sản xuất lạc ở các khu vực trên thế giới không đều,
tập trung ở vùng nhiệt đới và á nhiệt đới, trong khoảng 40
0
Bắc đến 40
0
Nam (Vũ
Công Hậu và cs., 1995) [19].
Bảng 1.1: Tình hình sản xuất lạc của thế giới trong những năm đầu thế kỷ 21
Năm
Diện tích
(triệu ha)
Năng suất
(tạ/ha)
Sản lượng

21,62
15,36
33,19
2008
24,05
15,98
38,44
2009
23,74
15,35
36,44
2010
21,44
16,70
35,88
2011
24,74
16,40
40,57
2012
24,59
16,46
40,48
2013
25,45
17,78
45,23
Nguồn: FAOSTAT, tháng 5 năm 2014
Diện tích, năng suất, sản lượng lạc giữa các khu vực có sự biến động đáng
kể. Nhiều khu vực có diện tích trồng lạc không nhiều nhưng năng suất lại cao

2008
2009
2010
2008
2009
2010
Trung Quốc
4,27
4,40
4,53
33,60
33,57
34,60
14,34
14,76
15,64
Ấn Độ
6,16
5,47
6,00
11,64
10,07
59,80
7,17
5,51
5,85
Nigieria
0,68
0,59
1,25

8,74
9,75
12,90
0,73
1,03
1,29
Sudan
0,95
0,95
1,00
7,51
9,96
8,50
0,72
0,94
0,85
Nguồn: FAOSTAT, tháng 5 năm 2012
Trung Quốc là nước đứng thứ 2 về diện tích trồng lạc, song lại là nước
dẫn đầu về sản lượng lạc của thế giới (USDA 2000÷2006). Theo thống kê của
FAO, năm 2010 [74] diện tích trồng lạc của nước này là 4,53 triệu ha, chiếm hơn
21,44% tổng diện tích lạc toàn thế giới, năng suất đạt 34,60 tạ/ha, bằng 2,07 lần
năng suất lạc của thế giới và sản lượng đạt 15,64 triệu tấn chiếm 43,58% sản
lượng lạc toàn thế giới. Có được những thành tựu này là do Trung Quốc đã đặc
biệt quan tâm đến công tác nghiêm cứu và chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật
trong nhiều năm qua.
Mỹ cũng là nước có diện tích, năng suất lạc khá ổn định và sản lượng cao.
Những năm 90 của thế kỷ XX, diện tích lạc hàng năm của Mỹ là 0,57 triệu ha, năng
suất là 27,9 tạ/ha (Ceasar.L.Revoredo et al., 2002) [38]. Giai đoạn từ 2000÷2004,
diện tích trồng lạc trung bình là 0,578 triệu ha/năm. Năm suất trung bình hàng
năm là 31,7 tạ/ha, cao hơn những năm trước là 13,6% (USDA, 2000÷2006) [68].

đổi. Tiêu dùng các sản phẩm chế biến từ lạc như rang, muối và đóng gói tăng.
Trong khi để hạn chế nhập khẩu dầu ăn, lượng lạc đã được dùng làm dầu ăn tăng
15 lên. Sản lượng lạc niên vụ 2009÷2010 đạt 3,5 triệu tấn củ, trong đó lạc nhân là 2
triệu tấn (Nguyễn Hà Sơn, 2010) [75].
Tổng xuất khẩu lạc trên thế giới năm 2010/2011 đạt 2,35 triệu tấn, tăng
nhẹ so với 2009/2010 là 2,20 triệu tấn. Tổng sản lượng lạc đem ép dầu trên thế
giới đạt 15,54 triệu tấn trong năm 2010/2011, cao hơn 14,36 triệu tấn so với năm
2009/2010. Tổng dự trữ lạc trên thế giới cuối niên vụ 2010/2011 là 1,19 triệu tấn,
giảm nhẹ so với 1,24 triệu tấn của cuối niên vụ 2009/2010 [76].
Xét về mặt kinh tế, cây lạc đã góp một phần không nhỏ vào việc cải thiện
và nâng cao chất lượng cuộc sống của người nông dân. Chính vì vậy, việc nghiên
cứu và phát triển cây lạc trong hệ thống luân canh cây trồng là rất cần thiết, nhằm
từng bước thúc đẩy đa dạng hòa sản phẩm, sử dụng hợp lý hơn những điều kiện
tự nhiên, kinh tế - xã hội, góp phần thúc đẩy nền nông nghiệp phát triển theo
hướng bền vững.
1.1.2 Tình hình sản xuất lạc ở Việt Nam
Ở Việt Nam, cây lạc được trồng từ rất lâu đời. Lạc là cây trồng đem lại
hiệu quả kinh tế có giá trị đa dạng và phong phú, vì vậy cây lạc đang được trồng
trên tất cả các vùng sinh thái của nước ta. Cây lạc chiếm khoảng 40% diện tích
cây công nghiệp ngắn ngày. Ở Việt Nam cây lạc được trồng ở 59/64 tỉnh thành.
Trong cơ cấu cây công nghiệp hàng năm (đay, cói, mía, lạc, đậu tương, thuốc lá)
thì diện tích trồng lạc chiếm 41,18% tổng diện tích (2010) và 41,05% (2011).
Những năm gần đây, do việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo hướng
sản xuất hàng hóa, cây lạc ở Việt Nam có chiều hướng tăng cả về diện tích,
năng suất và sản lượng.
Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp Việt Nam [72], trong 10 năm trở lại
đây (2000÷2012), sản xuất lạc của nước ta cũng có nhiều biến động. Từ năm

16,23
400,40
2003
243,80
16,66
406,20
2004
263,70
17,79
469,00
2005
269,60
18,10
489,30
2006
246,70
18,70
562,50
2007
254,50
20,00
510,00
2008
255,30
20,80
530,20
2009
249,20
21,20
525,10

nước. Đây là vùng có diện tích cũng như sản lượng đứng thứ 2 cả nước.
Bảng 1.4. Diện tích các vùng trồng lạc ở Việt Nam (1000 ha)
Vùng↓ Năm→
2004
2005
2006
2007
2008
2009
2010
ĐBSH
36,50
37,60
33,00
34,70
34,50
31,30
20,20
TD và MNPB
39,30
42,80
41,60
44,20
50,50
50,40
50,20
BTB và DHMT
111,30
116,00
107,10

sản xuất lạc, bởi vùng này có diện tích và sản lượng lớn nhất cả nước. Lạc được
trồng tập trung ở Nghệ An, Hà Tĩnh, Thanh Hóa, Quảng Nam với tổng diện tích
102,3 nghìn ha chiếm 43,42% và sản lượng 202,0 nghìn tấn, chiếm 40,07% sản
lượng cả nước, trong đó Nghệ An có diện tích cao nhất (23,8 nghìn ha).
- Vùng Tây Nguyên: Lạc được trồng chủ yếu ở Đắc Lắc, Đắc Nông với tổng
diện tích toàn vùng là 16,7 nghìn ha, chiếm 7,10%, là vùng có sản lượng thấp nhất
nước (29,3 nghìn tấn, đạt 5,79%).
- Vùng Đông Nam Bộ: Lạc được trồng chủ yếu ở Tây Ninh, Bình Dương với
tổng diện tích 20,5 nghìn ha, chiếm 11,68%, sản lượng 51,6 nghìn tấn, chiếm 15,96%.
Đây là vùng có diện tích đứng thứ 4 và sản lượng đứng thứ 3 trong cả nước.
- Vùng Đồng bằng sông Cửu Long: Lạc được trồng chủ yếu ở Long An,
Trà Vinh với tổng diện tích 11,3 nghìn ha, chiếm 5,02%, sản lượng 39,5 nghìn
tấn, chiếm 7,88% sản lượng cả nước. Đây là vùng có diện tích trồng lạc thấp nhất
cả nước nhưng lại là vùng có năng suất cao nhất cả nước (35,6 tạ/ha năm 2010).
Như vậy, trình độ thâm canh và sản xuất lạc của nước ta không đồng đều,
giữa các vùng có sự khác biệt lớn, chủ yếu là do điều kiện khí hậu thời tiết giữa
18 các vùng. Nhiều nơi năng suất đạt khá cao như vùng Đồng bằng sông Cửu Long,
Đông Nam Bộ, Đồng bằng sông Hồng; bên cạnh đó còn có những vùng có năng
suất thấp như Trung du và miền núi phía Bắc, Tây Nguyên.
Bảng 1.5. Sản lượng các vùng trồng lạc ở Việt Nam (1.000 tấn)
Vùng↓ Năm→
2004
2005
2006
2007
2008
2009

30,90
30,40
29,30
Đông Nam Bộ
91,50
85,50
75,00
82,00
84,20
83,80
51,60
ĐBSCL
34,20
40,40
35,80
42,90
43,40
41,40
39,50
Nguồn: Tổng cục thống kê Việt Nam năm 2011
Về mặt xuất khẩu, cây lạc đã trở thành một trong 10 loại cây trồng chính
có giá trị xuất khẩu cao. Trong các cây trồng hàng năm, xuất khẩu lạc đứng thứ 2
(sau cây lúa), xuất khẩu lạc vủa Việt Nam đứng thứ 5 trong 25 nước trồng lạc
châu Á. Theo FAO, 5 năm gần đây Việt Nam sản xuất sản 400÷500 tấn, xuất
khẩu từ 50÷105 tấn thu về 30÷50 triệu USD.
Mặc dầu năng suất và sản lượng lạc của nước ta có tăng nhưng so với các
nước đứng đầu thế giới thì vẫn còn ở mức thấp. Trong thời gian tới lạc vẫn là cây
trồng giữ vị trí quan trong trong cơ cấu cây trồng của nước ta, do nó mang lại
hiệu quả kinh tế cao cũng như có nhiều lợi thế cạnh tranh đặc biệt trên đất nghèo
dinh dưỡng, đất cằn, những vùng tưới tiêu gặp khó khăn.

21,65
44.600
2009
19.900
21,56
42.900
2010
19.400
21,13
41.000
2011
18.000
21,39
38.500
2012
17.100
20,94
35.800
2013
17.299
23,56
40.760
Nguồn: Tổng cục thống kê Việt Nam năm 2014
Về diện tích gieo trồng lạc: Hà Tĩnh là một trong những tỉnh trọng điểm
lạc của nước ta, diện tích gieo trồng lạc của tỉnh đứng ở vị trí thứ 2 miền Bắc và
thứ 2 cả nước sau Nghệ An (số liệu năm 2013). Diện tích lạc đang có xu hướng
giảm dần qua từng năm: Năm 2007 diện tích lạc của Hà Tĩnh đạt 20.500 ha,
nhưng năm 2012 chỉ còn 17.100 ha, giảm 3.400 ha. Diện tích trồng lạc bị giảm là
do người dân đã đưa các cây trồng mới trồng thay vào trên diện tích đất màu
trong vụ Xuân như cây dưa hấu, bí xanh, dưa chuột. Mặc dù chi phí ban đầu cao

là thời vụ gieo trồng trùng với thời kỳ mưa bão nhiều ở Hà Tĩnh, các đợt ra
hoa đợt 2 và 3 có thể gặp nhiệt độ thấp của các đợt gió mùa Đông Bắc sớm
ảnh hưởng tới việc thụ phấn, thời kỳ thu hoạch có tổng số giờ nắng/ngày
thấp, nhiệt độ thấp.
Giống lạc được trồng nhiều ở Hà Tĩnh là các giống L14, V79, Sen Lai,
TB25, QĐ12, . . . đây là các giống tốt có tiềm năng năng suất cao. Song do
công tác chọn và bảo quản giống không tốt nên chất lượng giống không đảm
bảo, cách thức chọn và để giống chủ yếu là tại nông hộ, do chính người nông
dân tiến hành đo đó năng suất lạc còn hạn chế.
1.1.3.2. Tình hình sản xuất lạc tại Tp. Hà Tĩnh
Theo Cục thống kê Hà Tĩnh, diện tích trồng lạc của Thành phố Hà Tĩnh
2007÷2013 có xu hướng giảm dần. Năm 2011, diện tích lạc của thành phố đạt
645 ha, giảm 148 ha so với năm 2007 là năm có diện tích lạc cao nhất.
Về năng suất lạc cũng có sự chuyển biến tích cực, năm 2007 năng suất chỉ
đạt 21,63 tạ/ha, sau đó năng suất tăng lên đáng kể và đạt cao nhất 25,15 tạ/ha vào
21 năm 2010. Năm 2011 năng suất lạc của thành phố giảm so với năm 2010 và đạt
20,12 tạ/ha. Do ảnh hưởng của điều kiện thời tiết nên ở vụ Xuân, vào đầu vụ gặp
phải điều kiện rét, cuối vụ lúc thu hoạch (cuối tháng 5 đầu tháng 6) gặp thời tiết
nắng nóng, đất khô cứng gây khó khăn cho việc thu hoạch làm năng suất bị giảm.
Bảng 1.7. Diện tích, năng suất, sản lượng lạc của Thành phố Hà Tĩnh
Năm
Diện tích (ha)
Năng suất (tạ/ha)
Sản lượng (tấn)
2007
645
21,63

Ở Thành phố Hà Tĩnh lạc được gieo trồng ở cả ba vụ sản xuất trong năm
(vụ Xuân, vụ Hè Thu và vụ Thu Đông), trong đó, vụ Xuân là vụ lạc chính. Các
giống lạc trồng phổ biến ở địa bàn thành phố là các giống L14, V79, TB25, . . .
và hiện nay nông dân trong thành phố còn gieo trồng một số giống lạc mới như
L19, L23, L26, . . . nhưng diện tích còn ít.
Nhìn chung, sản xuất lạc của Thành phố Hà Tĩnh còn nhiều hạn chế, năng
suất lạc chưa cao. Tuy nhiên, nếu được áp dụng đồng bộ các biện pháp kỹ thuật
như bố trí mật độ trồng hợp lý, bón phân với liều lượng thích hợp, sử dụng những
giống mới có tiềm năng năng suất cao thì sản xuất lạc của địa phương sẽ được cải
thiện, năng suất lạc sẽ được nâng cao.
22 1.2. Một số kết quả nghiên cứu về cây lạc trên thế giới và Việt Nam
1.2.1. Một số kết quả nghiên cứu về cây lạc trên thế giới
1.2.1.1. Kết quả nghiên cứu về mật độ và khoảng cách trồng lạc
Các biện pháp kỹ thuật góp phần nâng cao năng suất lạc là một trong
những vấn đề quan trọng trong quá trình sản xuất. Vấn đề này được các nhà khoa
học trên thế giới hết sức quan tâm nghiên cứu.
Mật độ trồng là một trong số những yếu tố cấu thành năng suất lạc, nhiều
nghiên cứu đã chứng minh rằng: Tác động vào mật độ trồng là một trong những
yếu tố kỹ thuật quan trọng nhất để tăng năng suất lạc. Tùy thuộc vào các điều
kiện canh tác, điều kiện mùa vụ và các giống lạc khác nhau thì mật độ trồng lạc
là khác nhau.
A’Brook (1996) [36] cho rằng, mật độ trồng lạc quá cao, trồng dày sẽ làm
tỷ lệ bệnh hại lá và môi giới truyền bệnh tăng, năng suất không tăng so với trồng
ở mật độ trung bình.
Theo Kumar và Ventakachary (1971) tại Ấn Độ, (trích dẫn bởi Nguyễn
Thị Hiền, 2008) trồng lạc trong điều kiện có nước tưới thì khoảng cách (30,0 x
7,5 cm) là tốt nhất. Ở Mỹ (Sturkie và Buchanan, 1973) cho rằng lạc có năng suất

trồng dày không làm tăng năng suất quả đối với các loại hình Virginia thân bụi
và thân bò, nhưng lại làm tăng năng suất loại hình Spanish thân bụi và thân đứng.
Các nước có trình độ cơ giới hóa cao, để phù hợp với điều kiện thi công cơ giới
người ta trồng lạc với khoảng cách hàng rộng (60÷75 cm). Vì vậy, để đảm bảo
năng suất lạc phải sử dụng bộ giống có thân bụi hoặc nửa bò, thời gian sinh
trưởng tương đối dài và tăng mật độ bằng cách thu hẹp khoảng cách giữa các cây
(Reddy P.S 1982) [61].
1.2.1.2. Kết quả nghiên cứu về phân bón cho cây lạc.
Các nghiên cứu về phân bón cho lạc bao gồm cả liều lượng, kỹ thuật bón
và loại phân bón ở các điều kiện đất đai trồng khác nhau cũng đã được tiến hành.
Điều này góp phần đáng kể trong việc nâng cao năng suất, sản lượng lạc của các
nước trên thế giới.
- Những nghiên cứu về liều lượng đạm bón:
Các nhà khoa học đều khẳng định, cây lạc cần một lượng N lớn để sinh
trưởng, phát triển và tạo năng suất, lượng N này chủ yếu được lấy từ quá trình cố định
24 đạm sinh học ở nốt sần. Theo William (1979) [69], trong điều kiện tối ưu, cây lạc có
thể cố định được 200÷260 kg N/ha, do vậy có thể bỏ hẳn lượng N bón cho lạc.
Theo nghiên cứu của Reddy và CS (1988) [62], lượng phân bón là 20 kg N/ha
trên đất Limon cát có thể đạt năng suất 3,3 tấn quả/ha trong điều kiện các yếu tố khác
tối ưu và chỉ khi nào muốn đạt được năng suất cao hơn mới cần bón thêm đạm.
Kết quả của hơn 200 cuộc thử nghiệm trên các loại đất khác nhau ở Ấn Độ
đã chỉ ra rằng, khi sử dụng 20 kg N/ha lạc không làm tăng năng suất quả (Mann
H.S 1965) [51], (Tripathi H.P and Moolani M.K, 1971) [67]. Tuy nhiên, khi tăng
lượng đạm lên 40 kg N/ha trong điều kiện ẩm độ đất tối ưu thì đem lại kết quả
(Choudary W.S.K 1977) [39], (Jayyadvan R and Sreendharan C) [50].
- Những nghiên cứu bón lân cho lạc:
Lân là yếu tố dinh dưỡng cần thiết đối với cây lạc, đem lại năng suất cao

O
5
/ha đã cho hiệu quả cao nhất về
năng suất và tất cả các thuộc tính của nó [42].
25 Vai trò của phân lân đến năng suất và chất lượng lạc được ghi nhận ở
nhiều quốc gia. Ở Ấn Độ tổng hợp từ 200 thí nghiệm trên nhiều loại đất đã kết
luận rằng: bón 14,5 kg P
2
O
5
/ha cho lạc nhờ nước trời năng suất tăng 201 kg/ha,
trên đất Limon đỏ nghèo N, P bón 15 kg P
2
O
5
/ha năng suất tăng từ 14,7%. Đối
với loại đất Feralit màu nâu ở Madagasca, lân là yếu tố cần thiết hàng đầu. Nhờ
việc bón lân ở liều lượng 75 kg P
2
O
5
/ha năng suất lạc có thể tăng 100%, theo
IG.Degens, 1978 cho rằng chỉ cần bón 400÷500 mg P/ha đã kích thích được sự
hoạt động của vi khuẩn Rhizobium Vigna sống cộng sinh làm tăng khối lượng
nốt sần hữu hiệu ở cây lạc.
Tại tất cả các vùng của Ấn Độ khi bón kết hợp 30 kg/ha N và 20 kg/ha
P làm tăng năng suất lạc lên gấp hai lần so với bón riêng 30 kg N/ha (Kanwar

Trích đoạn Ảnh hưởng của mật độ trồng đến sinh trưởng, phát triển và năng suất
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status