TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THUỶ SẢN
HOÀNG TRỌNG THIÊN
ẢNH HƯỞNG CỦA TẢO ĐƯỢC LẮNG BẰNG CÁC LOẠI HÓA
CHẤT KHÁC NHAU ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ TỶ LỆ SỐNG
CỦA SÒ HUYẾT Anadara granosa
LUẬN VĂN ĐẠI HỌC
NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
PGs.Ts. NGÔ THỊ THU THẢO
ẢNH HƯỞNG CỦA TẢO ĐƯỢC LẮNG BẰNG CÁC LOẠI HÓA
CHẤT KHÁC NHAU ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ TỶ LỆ SỐNG
CỦA SÒ HUYẾT Anadara granosa
Hoàng Trọng Thiên
Khoa Thủy sản, Đại học Cần Thơ
ABSTRACT
This study was carried out to evaluate the chemicals which were suitably applied to
flocculate Chaetoceros algae for feeding blood cockle Anadara granosa. The
experiment included 4 treatments and triplicates per each. Centrifugal Chaetoceros
was used as control and flocculated by three chemicals such as NaOH, PAC and
Chitosan. After 60 days of culture, the highest specific growth rate of total body weight
(2.33±3.4%/day), and the highest condition index (20.77±1.1%) presented in
Chaetoceros flocculated by chitosan. Lowest specific growth rate of total body weight
was observed in Chaetoceros flocculated by NaOH and PAC (1.25±2.09%/day and
1.26±2.27%/day, respectively). Survival rate of blood cockle was also not significant
difference among treatments (p>0.05).
Key words: Blood cockle, Flocculation, Treatment, Growth rate, Chitosan
chủ động cung cấp thức ăn vào những giai đoạn thiết yếu trong sản xuất giống thủy sản
là vấn đề rất cần quan tâm. Từ những năm 1970 đã nghiên cứu tảo lắng bằng Al
2
(SO4)
3
dùng để nuôi cá chép (Sanbank và Hepher, 1978). Knuckey et al (2006) cho Hàu
(Crassostria gigas) ăn tảo Chaetoceros muelleri lắng bằng NaOH kết hợp với
Magnafloc LT25 liều lượng 0,5 mg/L đạt tốc độ tăng trưởng gần 600% sau 25 ngày
nuôi. Tảo Thalassiosira pseudonana lắng bằng pH và ly tâm cho Hàu ăn đạt tốc độ
tăng trưởng tương ứng 202% và 183% cao hơn so với tốc độ tăng trưởng 93% của Hàu
sử dụng tảo được lắng bằng Fe
3+
(Knuckey et al, 2006). Tảo Chaetoceros lắng bằng
hóa chất Al
2
(SO
4
)
3
làm thức ăn cho nghêu giống đạt tỷ lệ sống 15,56% (Lý Bích Thủy,
2012). Sau 90 ngày thí nghiệm nghêu giống đạt tỉ lệ sống 15,56% ở nghiệm thức cho
ăn tảo Chaetoceros lắng bằng Al
2
(SO
4
)
3
(Lý Bích Thủy và Ngô Thị Thu Thảo, 2013).
Tỉ lệ sống của nghêu cho ăn tảo lắng hoặc tảo lắng có bổ sung chế phẩm sinh học và
các tế bào tảo phân bố đều trong bể. Bể nuôi sò được siphon cặn đáy mỗi 10 ngày, thay
nước mới và làm vệ sinh sạch sẽ trong quá trình thí nghiệm.
Chỉ tiêu nhiệt độ trong bể nuôi sò được đo 2 lần trong ngày vào buổi sáng 7h và
buổi chiều 14h bằng nhiệt kế thủy ngân. Các chỉ tiêu còn lại gồm: pH, độ kiềm, NO
2
-
,
TAN được kiểm tra 10 ngày 1 lần bằng bộ test SERA (sản xuất tại Đức).
Mật độ tảo được thu 3 ngày 1 lần để đánh giá tốc độ lọc của sò huyết. Ngày đầu,
sau khi cho ăn khoảng 30 phút mẫu nước trong từng bể được thu để xác định mật độ
tảo ban đầu và ngày kế tiếp, trước khi cho ăn mẫu nước cũng được thu để xác định mật
độ tảo sau 24h. Mẫu nước được cố định bằng formol 5% và mật độ tảo được đếm dưới
kính hiển vi với buồng đếm Improved Neubauer để xác định tốc độ lọc tảo của sò theo
công thức:
ACR (tb/g/ngày) = (T
0
- T
24
)/khối lượng sò trong bể nuôi
Trong đó:
T
0
: mật độ tảo sau khi cho ăn 30 phút
T
24
: mật độ tảo sau 24h cho ăn
Tốc độ lọc (Filtration rate-FR) được xác định bởi công thức theo Walne (1972):
FR (mL/h) = V(logM
0
- logM
Tỷ lệ sống (%) = (số sò còn sống/số sò thả ban đầu) ×100
Tốc độ tăng trưởng khối lượng tương đối (SGR
w
) SGR
w
(%/ngày) = [(Ln(W2) – Ln(W1))/ t] × 100
Tốc độ tăng trưởng chiều dài tương đối (SGR
L
)
SGR
L
(%/ngày) = [(Ln(L2) – Ln(L1))/t] × 100
Lúc bắt đầu thí nghiệm thu 20 con sò và kết thúc thí nghiệm thu 10 con/bể ở tất cả
các nghiệm thức để xác định chỉ số độ béo của sò theo công thức :
ß (%) =
5
3
10
L
DW
Trong đó: DW là khối lượng thịt sau khi sấy ở 65
o
C sau 24h (g)
L là chiều dài của sò (mm).
Phương pháp xử lý số liệu
Số liệu được xử lý bằng phần mềm Exel để tính các giá trị trung bình, độ lệch chuẩn
23
24
25
26
27
28
29
30
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12
Sáng
Chiều
Đợt thu
Nhiệt độ (oC) (Chu Chí Thiết và Kumar, 2008). Sự biến động pH là do thay nước trong quá trình thí
nghiệm. Bảng 1: Bảng theo dõi pH trong quá trình thí nghiệm
Ngày thí nghiệm
Ly tâm
NaOH
PAC
Chitosan
0
8
a
± 0
8
± 0,058
8.37
a
± 0,058
30
8.2
a
± 0,173
8.53
b
± 0,058
9
c
± 0
8.47
b
± 0,058
40
8.17
a
± 0,153
8.5
b
± 0
8.9
c
± 0
8.37
b
± 0,115
/L lớn nhất là 143,2 mgCaCO
3
/L ở tất cả các nghiệm thức. Độ kiềm ở các
nghiệm thức biến động đồng đều nhau. Độ kiềm nằm trong khoảng thích hợp cho động
vật thủy sản phát triển 75 – 150 mgcaCO
3
/L (Boyd, 1998).
Hình 2: Biến động độ kiềm (mgCaCO
3
/L) trong quá trình thí nghiệm
Hàm lượng NO
2
-
tăng cao sau 10 ngày đầu thí nghiệm do sò tiêu hóa và bài tiết tảo
lắng, tuy nhiên sau đó hàm lượng NO
2
-
ổn định lại sau mỗi lần thay nước và làm vệ
sinh. Hàm lượng NO
2
-
thấp ở nghiệm thức cho ăn tảo lắng bằng NaOH chứng tỏ sò ở
nghiệm thức này không hấp thụ tốt tảo lắng ngược lại sò được cho ăn tảo lắng bằng
Chitosan luôn cho giá trị hàm lượng NO
2
-
cao (Hình 3). Cuối thí nghiệm hàm lượng
NO
2
trong quá trình thí nghiệm
Hàm lượng TAN ở các nghiệm thức biến động tương đối đồng đều trong quá trình
thí nghiệm đạt cao nhất là 0,5mg/L. Boyd (1990) cho rằng hàm lượng TAN thích hợp
cho động vật thủy sản phát triển là từ 0,2 – 2mg/L.
Hình 4: Biến động TAN (mg/L) trong quá trình thí nghiệm
Trung bình các yếu tố thủy lý hóa trong các nghiêm thức không khác biệt tuy nhiên
chỉ có yếu tố pH có sự khác biệt nhưng không ảnh hưởng đến kết quả của thí nghiệm.
pH ở nghiệm thức cho ăn tảo lắng bằng NaOH là lớn nhất và nhỏ nhất là ở nghiệm thức
cho ăn tảo ly tâm. Độ kiềm tương tự nhau ở tất cả các nghiệm thức. Hàm lượng NO
2
-
thấp nhất ở nghiệm thức Chitosan 0,28 ± 0,05 mg/L nhưng không khác biệt thống kê
với các nghiệm thức còn lại. Nồng độ TAN cao nhất là 0,4 ± 0,08 mg/L ở nghiệm thức
cho ăn tảo lắng bằng NaOH và cũng không có khác biệt thống kê với các nghiệm thức
khác (p>0,05).
Bảng 2: Giá trị trung bình của các yếu tố thủy lý hóa trong quá trình thí nghiệm
Chỉ tiêu
Ly tâm
NaOH
PAC
Chitosan
pH
8,13
a
± 0,03
8,7
d
± 0,0
PAC
Chitosan
Ngày thí nghiệm
TAN (mg/L) Độ kiềm
(mgCaCO
3
/L)
115,92
ab
± 3,91
119,33
b
± 1,48
117,63
ab
± 4,43
112,51
a
± 0,0
NO
2
-
(mg/L)
0,39
a
± 0,04
0,33
tb/g/ngày, các nghiệm thức còn lại tương tự nhau và giai đoạn này cũng
là giai đoạn tốc độ lọc tảo đạt lớn nhất trong quá trình thí nghiệm. Do đơn vị tính tốc
độ lọc tảo là tb/g/ngày nên khi về cuối thí nghiệm khối lượng sò tăng dẫn đến tốc độ
lọc tảo giảm. Tốc độ lọc tảo của nghêu đạt 0,82±0,03×10
4
tb/g/ngày ở mức nhiệt độ
28
o
C và độ mặn 20‰ (Ngô Thị Thu Thảo và Lâm Thị Quang Mẫn, 2012).
Bảng 3: Tốc độ lọc tảo ACR (10
3
tb/g/ngày) của sò trong quá trình thí nghiệm
Ngày
Ly tâm
NaOH
PAC
Chitosan
0 – 12
2.731
a
±113
2.742
a
±24
2.713
a
±68
3.243
b
±99
1.347
b
±18
1.349
b
±201
934
a
±69
48 - 60
969
ab
±82
1.213
b
±63
1.176
b
±142
799
a
±40
Trung bình
1471
a
±689
1592
a
±611
± 0,01 g, nhỏ nhất là ở nghiệm thức tảo lắng bằng NaOH (0,148 ± 0,005 g) tương tự
với nghiệm thức PAC (0,149 ± 0,015 g). Nghêu cho ăn tảo ly tâm đạt khối lượng 0,16
g và khi cho ăn tảo ly tâm bổ sung chế phẩm sinh học và glucose nghêu đạt khối lượng
0,15 g (Ngô Thị Thu Thảo và Lý Bích Thủy, 2013). Hình 7: Khối lượng sò (g) trong quá trình thí nghiệm
Khối lượng sò huyết ở nghiệm thức cho ăn tảo lắng bằng Chitosan tăng nhanh vượt
trội so với các nghiệm thức còn lại cho thấy hiệu quả tốt từ việc lắng tảo cho sò huyết
0
0.2
0.4
0.6
0.8
1
1.2
0 - 12 12 - 24 24 - 36 36 - 48 48 - 60
Ly tâm
NaOH
PAC
Chitosan
Tốc độ lọc tảo FR (mL/h)
Ngày thí nghiệm
0.00
0.05
0.10
0.15
0.20
0.25
0.30
Chitosan
15
5,21
a
± 1,01
4,38
a
± 0,18
4,66
a
± 0,65
7,39
b
± 0,49
30
3,02
b
± 0,52
2,32
a
± 0,08
2,4
ab
± 0,28
3,99
c
± 0,28
45
2,11
b
Hình 9: Chiều dài sò huyết (mm) trong quá trình thí nghiệm
Tốc độ tăng trưởng chiều dài tương đối khác biệt rất có ý nghĩa thống kê (p<0,05).
Nghiệm thức Chitosan cho kết quả tốt nhất 0,57±0,02%/ngày và nhỏ nhất là ở nghiệm
0
2
4
6
8
10
12
0 15 30 45 60
Ly tâm
NaOH
PAC
Chitosan
Ngày thí nghiệm
Chiều dài sò (mm) thức PAC (0,24±0,04%/ngày). Đối với nghêu tăng trưởng chiều dài tương đối cao nhất
khi cho ăn tảo ly tâm (0,38%/ngày) và thấp nhất khi cho ăn tảo lắng (0,25%/ngày)
(Ngô Thị Thu Thảo và Lý Bích Thủy, 2013).
Bảng 5: Tốc độ tăng trưởng chiều dài tương đối SGR
W
(%/ngày) của sò huyết
Ngày
Ly tâm
NaOH
b
± 0,04
0,35
a
± 0,01
0,31
a
± 0,06
0,72
c
± 0,04
60
0,41
b
± 0,04
0,27
a
± 0
0,24
a
± 0,04
0,57
c
± 0,02
Các giá trị có chữ cái giống nhau thì không khác biệt thống kê (p>0,05)
3.4 Chỉ số độ béo
Chỉ số độ béo ban đầu của các nghiệm thức không khác biệt (p>0,05) với chiều dài
(7,12±0,04 mm); khối lượng (0,07±0,01 g) và độ béo (16,56±1,46%). Chỉ số độ béo
sau 60 ngày thí nghiệm của sò huyết khi cho ăn tảo lắng bằng Chitosan là cao nhất
(20,77 ± 1,1%) và giảm dần theo các nghiệm thức ly tâm (17,49 ± 1,53%), NaOH (15,1
b
14,62±1,34
b
Chitosan
0,311±0,030
d
10,51±0,45
d
20,77±1,10
c
Các chữ cái giống nhau trong cùng một cột chứng tỏ không khác biệt thống kê (p>0,05)
4 KẾT LUẬN
Sò huyết giống được cho ăn tảo lắng bằng Chitosan có tốc độ tăng trưởng khối
lượng tương đối (2,33±3,4 %/ngày) và chỉ số độ béo (20,77±1,1%) đạt kết quả tốt nhất
so với cho ăn bằng tảo ly tâm hoặc tảo lắng bằng NaOH và PAC.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Boyd, C.E., 1990. Water Quality in Ponds for Aquaculture. Birbingham Publishing
Company, Birmingham, Alabama. 482 pages.
Boyd C.E. 1998. Water Quality for Pond Aquaculture. Research and Development
Series No.43. International Center for Aquaculture and Aquatic Environments,
Alabama Agricultural Experiment Station, Auburn University, Alabama. Chu Chí Thiết và Martin S.K., 2008. Tài liệu về kỹ thuật sản xuất giống Ngao Bến Tre
(Meretrix lyrata Sowerby, 1851). Phân viện nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản Bắc
Trung Bộ (ARSINC), Viện Nghiên cứu và Phát triển Nam Australia (SARDI). 36
trang.
Dương Thị Hoàng Oanh, Nguyễn Thị Kim Liên và Huỳnh Trường Giang, 2013. Ảnh