TÌM HIỂU THÊM VỀ MỐI QUAN HỆ
GIỮA TRUYỀN THUYẾT VÀ CỔ TÍCH
VÕ PHÚC CHÂU
1
TÓM TẮT BÀI VIẾT
Theo lý thuyết folklore, truyền thuyết và cổ tích là hai thể loại khác biệt nhau rõ
rệt. Tuy vậy, trong lý thuyết lẫn thực tế, việc xác định một truyện cổ dân gian nào đó
là truyền thuyết hay cổ tích thật không đơn giản.
Xét từ cấp độ tiểu loại, sự nhầm lẫn hay đồng nhất giữa truyền thuyết và cổ tích
thực chất tập trung vào mối quan hệ giữa hai tiểu loại: cổ tích thần kỳ và truyền thuyết
lịch sử.
Xét về quan hệ, truyền thuyết và cổ tích có quan hệ tiếp nối và song hành.
Ngoài một vài điểm giống nhau, hai thể loại này gần như khác nhau rõ rệt về
nhiều mặt. Trong số những điểm khác nhau ấy, theo chúng tôi, tiêu chí phân biệt quan
trọng nhất chính là đặc điểm về số phận nhân vật và sự kiện lịch sử.
***
1. Dẫn nhập
1.1. Trong một số công trình sưu tầm, nghiên cứu văn học dân gian ở nước ta,
đôi khi khái niệm truyện cổ, truyện dân gian, truyện cổ dân gian đã bị đồng nhất với
khái niệm truyện cổ tích. Người ta định nghĩa truyện cổ tích là truyện cổ, truyện dân
gian, truyện cổ dân gian
1
. Cách hiểu này không sai. Nhưng nó sẽ trở nên phức tạp nếu
ai đó hiểu theo chiều ngược lại, tức cho rằng mọi câu chuyện đời xưa, mọi truyện cổ
dân gian đều là cổ tích. Nếu vậy, truyền thuyết cũng là chuyện đời xưa, là truyện cổ
dân gian, suy ra truyền thuyết cũng là cổ tích (?).
Một vấn đề khác, trong quá trình vận động nội tại theo trục thời gian, một bộ
phận truyền thuyết dần lu mờ yếu tố lịch sử, bị chuyển hóa chức năng và thể loại, đã
1
NCS, Trường THPT Chuyên Tiền Giang.
1
5
. Chu Xuân Diên cũng đồng quan điểm như
vậy: “Nguyễn Đổng Chi tuy có phân biệt truyền thuyết với truyện cổ tích về mặt lý
thuyết, song “khi sưu tập”, ông vẫn “xếp chung truyền thuyết với cổ tích và coi như là
những truyện cổ tích”
6
. Hay theo khảo sát của Nguyễn Xuân Đức, trường hợp truyện
Sơn Tinh Thủy Tinh cũng nhiều bất ổn: sách Văn 10 (Nguyễn Đình Chú chủ biên) xếp
nó vào thần thoại, sách Truyện đọc 2 (Trương Chính – Trịnh Mạnh biên soạn) cho là
cổ tích, còn sách Ngữ văn 6 (Nguyễn Khắc Phi tổng chủ biên) thì gọi là truyền thuyết
7
.
Một trường hợp khác, truyện Bánh chưng bánh giầy là truyền thuyết hay cổ tích?
8
.
2
Thêm nữa, trường hợp truyện Chử Đồng Tử, do sự chuyển hóa về mặt thể loại mà đã
có một Chử Đồng Tử truyền thuyết lịch sử, ca ngợi người anh hùng chinh phục đầm
lầy, nhưng cũng có một Chử Đồng Tử cổ tích thần kỳ, với kiểu nhân vật chàng trai
nghèo bất hạnh cưới công chúa. Có điều, đâu là văn bản truyền thuyết Chử Đồng Tử?
2. Quan hệ giữa truyền thuyết và cổ tích
Để làm rõ những hiện tượng phức tạp trên, chúng tôi thấy cần thiết phải xem xét
trở lại mối quan hệ giữa truyền thuyết và cổ tích, đồng thời tiến hành đối sánh hai thể
loại. Thao tác đối sánh bắt đầu từ khái niệm cho đến từng khía cạnh thuộc phạm trù thi
pháp, chức năng thể loại…
2.1. Về khái niệm:
Trước hết, truyện cổ tích là gì?
Theo Nhikiphôrôp, nhà nghiên cứu folklore Nga, trong bài viết nhan đề “Truyện
cổ tích, sự lưu hành truyện cổ tích và những người kể chuyện cổ tích” (in trong cuốn
Truyện cổ tích dân gian Nga của Kapitxa M-L1930), ông đưa ra định nghĩa ngắn gọn
từ “sự tích” (Hán Việt): 1) Đầu đuôi gốc tích của một việc; 2) Sự việc có thật; 3) Dấu
tích của việc (theo Hán Việt từ điển của Nguyễn Văn Khôn). Nghĩa của từ “tích” trong
các thành ngữ “truyện xưa tích cũ”, “có tích mới dịch nên tuồng”, rõ ràng có liên quan
với khái niệm “sự tích”. Như vậy, trong các nghĩa của từ “tích” (Hán Việt) có bao hàm
hai yếu tố: 1) sự việc, câu chuyện (→ sự tích); 2) dấu vết (→ di tích). Hai yếu tố này có
lẽ đã khiến cho từ “cổ tích” (Hán Việt) mang hai nghĩa nói về hai hiện tượng khác
nhau: 1) di tích xưa; 2) truyện đời xưa (theo Hán Việt từ điển). Nghĩa thứ nhất tương
đương với từ “cổ tích” trong tiếng Hán: “Cổ tích = cổ nhân chi trần tích = dấu vết người
xưa” (theo Từ điển từ nguyên). Còn nghĩa thứ hai thì chỉ có trong từ “cổ tích” Hán Việt.
Khái niệm “truyện cổ tích” của ta được tiếng Hán biểu thị bằng từ “cố sự” (truyện cổ)
hoặc “dân gian cố sự” (truyện cổ dân gian). Từ “cố sự” trong tiếng Hán còn được dùng
để chỉ các loại truyện cổ khác nữa (cả thành văn lẫn dân gian).
Sau khi diễn giải, Chu Xuân Diên nhấn mạnh, khái niệm “truyện cổ tích” bao
hàm ba yếu tố nghĩa: “truyện cổ tích là truyện kể; truyện kể này có quan hệ với thời
quá khứ xa xưa cả về nội dung lẫn nguồn gốc phát sinh; dấu tích của truyện kể này vẫn
còn lại cho đến nay”
12
.
Từ những phát biểu trên, chúng tôi hình dung, truyện cổ tích là những sáng tác
tự sự dân gian, có cốt truyện hoàn chỉnh; chủ yếu dựa trên nhiều yếu tố tưởng tượng,
kỳ ảo, hoang đường; truyện kể về những sự tích đời xưa nhưng dấu tích truyện kể còn
lưu cho đến nay.
Còn truyền thuyết là gì? Có nhiều cách phát biểu về khái niệm truyền thuyết,
nhưng nếu phỏng theo những đặc điểm vừa nêu của cổ tích, chúng tôi diễn đạt lại nội
hàm của khái niệm truyền thuyết như sau: truyền thuyết là những sáng tác tự sự dân
gian; có sự hiện diện của yếu tố tưởng tượng, kỳ ảo, hoang đường; truyện kể về nhân
4
vật và sự kiện lịch sử đã xảy ra trong quá khứ; truyện gắn liền với nhiều chứng tích
văn hóa còn lưu cho đến nay.
Và như vậy, chỉ xét qua khái niệm, truyền thuyết và cổ tích khá gần gũi nhau về
và “hư cấu”. Trong khi đó, cổ tích ra đời muộn hơn. Cổ tích tiếp sau truyền thuyết, là
nơi còn trầm tích tàn dư của truyền thuyết. Một số truyện cổ tích được hình thành từ
chính sự vận động và chuyển hóa thể loại của văn bản truyền thuyết. Cổ tích chỉ ra đời
trong lòng một xã hội đã phân chia giai cấp và nảy sinh mâu thuẫn giai cấp về quyền
lợi, địa vị. Cổ tích gắn liền số phận những người bất hạnh trong cuộc đời thường. Nó
là phương cách mà nhân dân gởi gắm ước mơ, khát vọng về một cuộc đời tốt đẹp,
công bằng, hạnh phúc. Nó là sự hòa quyện giữa “vẻ đẹp hồn nhiên, ngây thơ” và “chất
thần kỳ, huyền ảo”; là sự kết hợp giữa “hiện thực” và “hư cấu”.
Theo tiến trình lịch sử, cho dù sử học đã hình thành, dòng sử chính thống đã đảm
nhiệm vai trò lưu giữ lịch sử dân tộc nhưng thể loại truyền thuyết vẫn bền bỉ vận động,
giữ nguyên bản chất thể loại và phát triển thêm số lượng tác phẩm. Sức sống dài lâu
của truyền thuyết được bảo đảm bởi yếu tố “niềm tin” và “nội dung lịch sử”. Còn cổ
tích, theo tiến trình lịch sử, lại dần mất đi điều kiện sinh tồn trong lòng văn học dân
gian. Cổ tích, do không được tiếp nhận trên cơ sở “niềm tin” và nhất là không còn
được nuôi dưỡng bằng một “hiện thực mơ hồ, huyền ảo” nên không còn tiếp tục phát
triển, sinh sôi như truyền thuyết. Nhưng nguồn năng lượng vô hạn của cổ tích không
mất đi. Nó được chuyển hóa vào văn học viết. Nó hiện diện qua những “chuyện cổ tích
giữa đời thường”.
Như vậy, quan hệ giữa truyền thuyết và cổ tích là quan hệ tiếp nối và song hành.
Cổ tích tiếp nối truyền thuyết, đón nhận sự chuyển hóa thể loại và tàn dư của truyền
thuyết. Cổ tích song hành cùng truyền thuyết, cùng vận động và phát triển. Có điều,
khi cổ tích hết vai trò tạo ra một “thế giới kỳ ảo chỉ có trong mơ ước” thì truyền thuyết
vẫn còn nhận lãnh sứ mệnh là bộ sử dân gian.
3. Những điểm giống và khác nhau giữa cổ tích và truyền thuyết
3.1. Điểm giống nhau:
Nếu chỉ căn cứ vào khái niệm và mối quan hệ giữa hai thể loại, rõ ràng, hiện
tượng nhầm lẫn (hay đồng nhất) giữa truyền thuyết lịch sử và cổ tích thần kỳ có nhiều
khả năng xảy ra. Tất cả xuất phát từ một số nguyên nhân khách quan dưới đây:
- Cùng là tác phẩm tự sự dân gian (có nhân vật, cốt truyện, tình tiết, lời kể…).
6
niên đại phi lý đó là ước lệ cho một khoảng thời gian rất xa xưa. Thực ra, đây cũng là hiện
tượng có tính phổ quát trong truyện kể dân gian thế giới, mà giới nghiên cứu folklore quốc tế
thường gọi đó là sự thác ngộ thời gian (anachronisme) trong huyền thoại. Và đương nhiên,
7
nhìn nhận từ góc độ folklore, thì đây cũng chính là một đặc trưng thể loại của truyền thuyết
dân gian”
14
.
Thời gian xác định khiến truyền thuyết luôn gắn với một triều đại cụ thể, thậm
chí gắn với từng phút giây lịch sử. Trong truyền thuyết, chiến công và số phận của
nhân vật lịch sử, nội dung sự kiện lịch sử chỉ có ý nghĩa, chỉ đáng tin khi được gắn kết
với những thời điểm lịch sử cụ thể, xác định. Ví dụ, Thánh Gióng gắn liền thời Hùng
Vương giữ nước, Hai Bà Trưng phất cờ - thời chống xâm lược Hán, Bà Triệu cưỡi voi
ra trận - thời chống giặc Ngô, Lê Lợi tập hợp hào kiệt - thời chống quân Minh,
Trương Định lãnh chức Bình Tây nguyên soái - buổi đầu chống Pháp Và hiển nhiên,
niềm tin của người nghe (người đọc) truyền thuyết sẽ bị phá vỡ khi nhân vật và sự kiện
lịch sử bị ghép sai với thời điểm lịch sử. Có thể nói, cụ thể, chính xác là yêu cầu đặt ra
đối với thời gian truyền thuyết. Khác cổ tích, trong truyền thuyết, thời gian càng cụ
thể, xác định, tính đáng tin của câu chuyện càng tăng dần.
Về cách thể hiện thời gian, truyện cổ tích không quan tâm đến thời gian thực,
thời gian vật lý. Nó không có thời gian tâm lý. Trong cổ tích, thời gian giữ vai trò tạo
không khí, dẫn dắt, liên kết các tình tiết chứ không nhằm khắc họa tính cách, số phận
nhân vật. Nó được xem là một yếu tố nghệ thuật quan trọng trong tác phẩm.
Trái lại, truyền thuyết gắn chặt với thời gian thực, thời gian vật lý, đôi khi có cả
sự hiện diện của thời gian tâm lý (trong một số truyền thuyết đời sau). Theo từng mốc
thời gian, nhân vật lịch sử sẽ lớn lên, gặp biến cố, lập chiến công và đến hồi kết cuộc
(hy sinh hoặc hóa thân). Thời gian trong truyền thuyết không có chức năng tạo nên
tính hấp dẫn, lôi cuốn cho câu chuyện như ở cổ tích. Điều quan trọng mà thời gian
trong truyền thuyết có thể mang đến cho người nghe (người đọc) chính là tính đáng tin
của câu chuyện kể.
chốn non thiêng vì gắn liền tên tuổi Sơn Tinh - vị anh hùng trị thuỷ, cũng là một trong
Tứ bất tử trên thần điện Việt Nam. Sông Bạch Đằng trở thành địa danh lịch sử khi gắn
với tên tuổi Ngô Quyền buổi đánh quân Nam Hán; gắn với thời đại Đông A, khi Trần
Hưng Đạo cùng vua tôi nhà Trần đuổi giặc Nguyên – Mông. Tương tự như vậy, truyền
thuyết đã lần lượt tạo nên những cặp sóng đôi: không gian lịch sử – nhân vật lịch sử.
Có thể kể, đất Mê Linh – Hai Bà Trưng, núi Lam Sơn - Lê Lợi, Đám lá tối trời (Gò
Công) - Trương Định, Gò Tháp (Đồng Tháp) - Thiên Hộ Dương, Thất Sơn huyền bí
(An Giang) - Quản Cơ Trần Văn Thành
9
Cần nói thêm, không gian trong cổ tích, do không mang tính cụ thể, xác định nên
không chịu sự gán ghép, đặt để, kết dính với bất cứ một địa phương nào. Nói cách
khác, truyện cổ tích là thể loại không mang tính địa phương, không thuộc sở hữu riêng
của bất cứ bộ phận văn học dân gian địa phương nào. Tuy nhiên, nó lại là thể loại
mang tầm quốc tế. Nói theo Chu Xuân Diên, “Tính chất quốc tế rõ ràng là một hiện
tượng độc đáo nổi bật của truyện cổ tích. Truyện cổ tích có khả năng di chuyển từ dân
tộc này sang dân tộc khác, vượt qua mọi ranh giới về ngôn ngữ, về lãnh thổ của các
quốc gia”
15
. Trái lại, không gian trong truyền thuyết do mang tính cụ thể, xác định nên
luôn gắn liền với những địa phương, vùng miền cụ thể. Truyền thuyết chủ yếu được
gìn giữ, lưu truyền do chính những người dân địa phương - nơi đã sinh ra hoặc từng in
dấu tích người anh hùng. Cho nên, có thể nói, truyền thuyết là thể loại văn học dân
gian mang tính địa phương rất đậm nét.
3.2.3. Nhân vật:
Nhân vật chính trong cổ tích, đặc biệt ở cổ tích thần kỳ, là con người của đời
thường, trong một xã hội phân chia giai cấp với đầy bất công, ngang trái. Đó là những
nhân vật bất hạnh: đứa con mồ côi, đứa con riêng, người con út, người đi ở, nhân vật
xấu xí Diễn biến số phận của nhân vật trong cổ tích là một chuỗi dài bị thử thách,
vượt qua thử thách, để rồi kết thúc có hậu, nhân vật được đền bù, được hưởng hạnh
phúc dài lâu trong đời thường.
3.2.4. Tình tiết
Là tự sự dân gian nên truyền thuyết và cổ tích đều có cốt truyện. Cốt truyện được
hình thành từ hệ thống các tình tiết.
Ở cổ tích, tình tiết chính trong những truyện có cùng kiểu nhân vật thường giống
nhau. Ví dụ, ở chuỗi tình tiết nhân vật đi cứu công chúa (tìm người yêu, tìm thuốc quý,
tìm kho báu ), trên đường đi, hễ gặp giống vật nào mắc nạn thì chàng trai (cô gái,
người em) sẵn lòng dừng lại cứu giúp. Sau này, khi gặp thử thách, nhân vật sẽ lập tức
được chính các giống vật ấy lần lượt giúp đỡ lại. Hay ở chuỗi tình tiết thử thách, thử
thách sau bao giờ cũng cam go hơn thử thách trước, nhưng lúc nào nhân vật chính
cũng vượt qua, để rồi được nhận phần thưởng cao quý hơn lần trước. Sự giống nhau
này có thể xem là dạng “đại đồng tiểu dị”.
Còn truyền thuyết không như vậy. Mỗi truyền thuyết đều có những tình tiết riêng
biệt của mình, kể cả trong những truyện có cùng kiểu nhân vật. Tuy truyền thuyết cũng
sử dụng môtíp nhưng những môtíp này không theo công thức định sẵn như ở cổ tích.
11
Ví dụ, nhân vật lịch sử, trên bước đường khởi nghĩa, không phải hễ mình giúp được ai
(giống vật gì) thì ắt sau này sẽ được người ấy (giống vật ấy) giúp đỡ lại. Phần nhiều,
họ thành công là do bất ngờ có lực lượng phù trợ (trời, thần nhân, quần chúng mộ
nghĩa). Và nhân vật lịch sử bao giờ cũng gặp thử thách. Nhưng không phải thử thách
nào họ cũng vượt qua được. Thậm chí, họ còn bất ngờ gặp rủi ro, để rồi chiến bại.
Có thể nói, nếu tình tiết trong cổ tích thường ở dạng “đại đồng tiểu dị” thì tình
tiết trong truyền thuyết lại mang tính cụ thể, không trùng lặp.
3.2.5. Kết cấu văn bản
Kết cấu một văn bản cổ tích nhìn chung ổn định và theo công thức: giới thiệu lai
lịch, cảnh ngộ nhân vật → nhân vật gặp thử thách → vượt thử thách → kết thúc hạnh
phúc
16
. Đặc biệt, trong cổ tích, kết thúc tác phẩm thường bao giờ cũng có “hậu”. Nhân
vật bao giờ cũng được đền bù xứng đáng cho những bất hạnh, những thử thách nghiệt
ngã mà mình phải gánh chịu, phải vượt qua. Phần thưởng cuối cùng cho nhân vật bao
chép như sử biên niên. Truyền thuyết chỉ thông qua sự kiện lịch sử để làm sáng tỏ
phần nào những khuất lấp mà chính sử không nói đến; để rút ra bài học lịch sử theo
cách nhìn, cách phán xét của nhân dân.
3.2.7. Chức năng tác phẩm
Do tính nguyên hợp, mỗi thể loại văn học dân gian đều hàm chứa trong nó nhiều
chức năng. Tuy nhiên, mỗi thể loại vẫn giữ một (hoặc vài) chức năng chủ yếu.
Về nội dung, truyện cổ tích luôn ca ngợi phẩm chất người lao động nghèo, hướng
con người về với hạnh phúc trong đời thường. Truyện cũng phản ánh cuộc đấu tranh
giai cấp cùng những xung đột gay gắt về quyền lợi trong gia đình lẫn ngoài xã hội.
Nhưng hình như cổ tích không nhằm giục người ta vùng lên đấu tranh đòi lại công
bằng. Bởi cổ tích luôn có hậu. Cổ tích luôn luôn trao tặng con người một niềm tin bền
vững: ở hiền sẽ gặp lành, gieo gió thì gặt bão.
Có thể nói, tuy hàm chứa chức năng nhận thức, giáo dục nhưng cổ tích vẫn là
thể loại nghiêng về chức năng thẩm mỹ. Bởi lẽ, một câu chuyện cổ tích hấp dẫn, ly kỳ
bao giờ cũng gợi lên những xúc cảm đẹp, niềm lạc quan cho cả người kể lẫn người
nghe. Ai nấy, một khi đắm chìm vào thế giới cổ tích, đều như được an ủi, động viên,
được cơ hội ước mơ và hy vọng.
Còn với truyền thuyết, chức năng chính không phải là thẩm mỹ; mục đích cao
nhất của nó không phải là giải trí, cho dù nhiều tác phẩm có nội dung ly kỳ, hấp dẫn.
Bởi không ai đi tìm cảm giác thư giãn, niềm vui thích từ những câu chuyện chiến đấu,
hy sinh đầy đau thương, bi tráng của cha ông. Mọi người đến với truyền thuyết phần
nhiều từ nhu cầu tâm linh. Từ chỗ nội dung luôn đề cập đến vận mệnh cộng đồng, luôn
13
gắn số phận mỗi con người với số phận toàn dân tộc, truyền thuyết giúp đời sau hiểu
đúng lịch sử dân tộc mình theo quan điểm của nhân dân. Truyền thuyết nhắc nhở mọi
người đừng lãng quên tất cả những gì gợi nhớ các bậc anh hùng, nghĩa sĩ đã xả thân vì
dân tộc. Truyền thuyết dạy mỗi người biết tự hào về quá khứ và sống có trách nhiệm
hơn với hiện tại.
Nói chung, trong khi cổ tích nghiêng về chức năng thẩm mỹ thì truyền thuyết
thiên về chức năng nhận thức và giáo dục.
phản ánh
Cùng có sự hiện diện của yếu tố kỳ ảo, hoang đường.
Nội dung
lịch sử
Mọi truyền thuyết đều gắn với nhân vật lịch sử và sự kiện lịch
sử. Một số truyện cổ tích thần kỳ cũng có nhân vật lịch sử và sự
kiện lịch sử.
Chứng tích văn
hóa
Truyền thuyết thường gắn liền chứng tích văn hóa (địa danh, núi
sông, gò bãi, lăng mộ, lễ hội…). Một số truyện cổ tích thần kỳ
cũng gắn liền với chứng tích văn hóa.
ĐIỂM
KHÁC
NHAU
Thời gian Mơ hồ, ước lệ Cụ thể, xác định
Không gian
- Không gian đời thường + thế
giới siêu nhiên, kỳ ảo
- Không gắn với thời gian lịch
sử xác định
- Không gắn liền với nhân vật,
sự kiện lịch sử xác định.
- Không mang dấu ấn địa
phương
- Không gian lịch sử, không
gian thiêng
- Gắn với thời gian lịch sử xác
định
- Luôn gắn liền với nhân vật,
- Không là nội dung chính của
tác phẩm
- Không nhằm phản ánh, đánh
giá, rút ra bài học lịch sử
- Là nội dung chính của tác
phẩm
- Nhằm phản ánh, đánh giá, rút
ra bài học lịch sử
15
TIÊU CHÍ SO SÁNH CỔ TÍCH THẦN KỲ
TRUYỀN THUYẾT
LỊCH SỬ
Chức năng tác
phẩm
Thiên về chức năng thẩm mỹ,
với mục đích giải trí (gợi lên
xúc cảm đẹp, niềm lạc quan
cho mọi người)
Thiên về chức năng nhận thức
và giáo dục (đánh giá lịch sử;
biết ơn, tôn thờ, ngưỡng mộ
người có công đức)
Thái độ
tiếp nhận
- Có thể tin hoặc không tin
vào điều được kể
- Không có nhu cầu gắn tác
phẩm với chứng tích văn hóa
- Luôn có niềm tin vào điều
được kể
trong truyền thuyết lại có vai trò củng cố niềm tin, đức tin cho người tiếp nhận. Vậy
thì chúng ta có nên dùng tiêu chí “niềm tin” để phân biệt văn bản cổ tích và truyền
thuyết không? Theo chúng tôi, đây là điều khó thực hiện. Bởi lẽ, trong thực tế, không
ít câu chuyện cổ tích đã được tiếp nhận bằng một niềm tin! Vẫn ví dụ từ trường hợp
các truyện Chử Đồng Tử, Bánh chưng bánh giầy, Sự tích dưa hấu Người ta tin vào
nội dung những câu chuyện ấy, tin vào nhân vật, vào sự kiện lịch sử, đơn giản là vì
tiền thân của chúng chính là truyền thuyết. Chúng là minh chứng cho hiện tượng
truyền thuyết đã được cổ tích hóa.
Mỹ Tho, tháng 6 năm 2008
VPC
(Bài đăng trong Tạp chí Khoa học – Công nghệ - trường Đại học Tiền Giang,
NXB Đại học Quốc gia TP.HCM, số tháng 5/2009)
TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH
***
1. Chu Xuân Diên (2001), Văn hóa dân gian – mấy vấn đề phương pháp luận
và nghiên cứu thể loại, Hà Nội: Giáo Dục.
2. Nguyễn Định (2006), Sự khác nhau giữa hai khái niệm Truyện cổ dân gian
và Truyện cổ tích, Tạp chí Văn hoá Dân gian, Số 4(106), dẫn theo
www.vae.org.vn
3. Nguyễn Xuân Đức (2002), Vấn đề phân loại truyện dân gian, Thông báo Văn
hóa dân gian, NXB ĐHQG, Hà Nội, tr.356.
4. Nguyễn Xuân Đức (2003), Truyện “Bánh chưng bánh giầy” là truyền thuyết
hay cổ tích, Thông báo Văn hóa dân gian 2002, NXB ĐHQG, Hà Nội, tr.565.
5. V. Guxep (1999), Mỹ học Folklore, NXB Đà Nẵng.
17
6. Hồ Quốc Hùng (2003), Truyền thuyết Việt Nam & vấn đề thể loại, NXB Trẻ
– Hội Nghiên cứu & Giảng dạy Văn học TP.HCM.
7. V. IA. Propp (1976), Phônclo và thực tại, NXB Khoa Học, Moskva (Bản dịch
tiếng Việt của Chu Xuân Diên – tài liệu đánh máy).
8. Lê Chí Quế (chủ biên) (1999), Văn học dân gian Việt Nam, NXB ĐHQG Hà
Văn học dân gian Việt Nam, Sđd, tr.107.
11
Văn học dân gian Việt Nam, Sđd, tr.229.
12
Văn học dân gian Việt Nam, Sđd, tr.230.
13
Theo chúng tôi, những truyện cổ tích không mang đặc điểm này đều là những ngoại lệ. Chúng là những truyền
thuyết đã được cổ tích hóa (VPC).
14
Theo Kiều Thu Hoạch (2006), Văn học dân gian người Việt – góc nhìn thể loại, Hà Nội: KHXH, tr.17.
15
Văn hóa dân gian – mấy vấn đề phương pháp luận và nghiên cứu thể loại, Sđd, tr224.
16
Trường hợp truyện Trạng Quỳnh là hiện tượng đặc biệt, nằm ngoài phạm vi đối sánh của chúng tôi (VPC).
17
Môn Văn và Tiếng Việt tập III, Sđd, tr.115.
18
Văn hóa dân gian – mấy vấn đề phương pháp luận và nghiên cứu thể loại, Sđd, tr.238.