TIỂU LUẬN MÔN KINH TẾ VĨ MÔ LẠM PHÁT- TĂNG TRƯỞNG KINH TẾCỦA VIỆT NAM - Pdf 25

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP.HỒ CHÍ MINH
KHOA NGÂN HÀNG QUỐC TẾ
TIỂU LUẬN MÔN KINH TẾ VĨ MÔ
LẠM PHÁT- TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
CỦA VIỆT NAM
(CUỐI 2007-2008)
NHÓM 6
Thái Hoàng Duy
Vũ Bích Hằng
Nguyễn Thanh Bình
Nguyễn Thị Thùy Trang
Lê Thị Lan Phương
Vũ Bảo Trung
Ngô Quang Tuấn
Lê Trọng Tấn
Nghiêm Vũ Hoàng
TP.HỒ CHÍ MINH, 12/2008
LỜI MỞ ĐẦU
Trên thế giới,hầu như tất cả các quốc gia đều theo đuổi bốn mục tiêu
chung - tăng trưởng cao, lạm phát thấp, thất nghiệp ít, cán cân thanh toán có số
dư. Trong các mục tiêu này, tăng trưởng cao và lạm phát thấp là hai mục tiêu
có tầm quan trọng hàng đầu, quan hệ chặt chẽ với nhau “khống chế” lẫn nhau.
Như chúng ta đã biết trong khoảng thời gian cuối năm 2007 đầu năm
2008 lạm phát ở nước ta đã tăng đến mức báo động, buộc các nhà hoạch định
chính sách phải quyết định lựa chọn tăng trưởng kinh tế hay lạm phát- một bài
toán kinh tế cơ bản nhưng hết sức nan giải.
Để hiểu rõ thêm về điều này nhóm 6 quyết định chọn đề tài lạm phát –
tăng trưởng kinh tế cũng như mối quan hệ giữa chúng ở Việt Nam những tháng
cuối năm 2007 và 6 tháng đầu năm 2008
Vì điều kiện thời gian cũng như mức độ hiểu biết của nhóm còn hạn
chế,bài tiểu luận khó tránh khỏi những sai sót.Mong thầy và các bạn thông

Giá trị sản xuất công nghiệp năm 2007 ước tính tăng 17,1% so với năm
2006.Giá trị hàng hóa xuất khẩu năm 2007 ước đạt gần 48,4 tỷ USD, tăng 21,5% so
với năm 2006, trong đó tất cả các mặt hàng chủ yếu đều tăng.
Giá trị xuất, nhập khẩu dịch vụ cả năm 2007 ước đạt 12,4 tỷ USD, tăng
21,6% so với năm trước, trong đó giá trị xuất khẩu dịch vụ đạt 6 tỷ USD, tăng 18,2%
và giá trị nhập khẩu dịch vụ, gồm cả phí vận tải và bảo hiểm hàng nhập khẩu đạt 6,4
tỷ USD, tăng 24,9%.
Năm 2007 hoạt động bưu chính, viễn thông tiếp tục phát triển mạnh. Số thuê
bao điện thoại phát triển mới trong năm 2007 ước đạt 18,5 triệu thuê bao (gần bằng
số thuê bao phát triển trong 3 năm 2004, 2005, 2006) nâng tổng số thuê bao trên cả
nước tính đến hết tháng 12/2007 đạt 46 triệu thuê bao. Số thuê bao internet (quy đổi)
phát triển mới năm 2007 ước đạt 1,18 triệu thuê bao. Đến nay đã có 18,2 triệu người
sử dụng internet, chiếm 21,4% dân số cả nước.
Lượng khách quốc tế đến nước ta trong năm 2007 ước tính đạt 4,23 triệu lượt
người, tăng 18% so với năm 2006.
kinh tế tăng trưởng cao nhất trong 11 năm1.2.2 Năm 2008
Tổng sản phẩm trong nước (GDP) 6 tháng đầu năm 2008 tăng 6,5% so với
cùng kỳ năm 2007. Trong đó, khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 7%; dịch vụ
tăng 7,6%; khu vực nông - lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,04%.
Tổng thu ngân sách nhà nước 6 tháng đầu năm nay đạt 60,6%, tổng chi ngân
sách nhà nước đạt 51,8% mức dự toán cho cả năm.
Sản xuất công nghiệp: Tính chung 6 tháng đầu năm 2008, giá trị sản xuất
công nghiệp theo giá so sánh 1994 ước tính tăng 16,5% so với cùng kỳ năm 2007,
trong đó, khu vực kinh tế nhà nước tăng 6,9%; khu vực ngoài nhà nước tăng 22,3%;
khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 17,4%. Trong tổng giá trị sản xuất công
nghiệp, ngành công nghiệp chế biến tăng 18,1% so với cùng kỳ năm trước; ngành
công nghiệp khai thác mỏ giảm 4,2% do sản lượng dầu thô giảm 7,9% và sản lượng

(nguồn Tình hình kinh tế vĩ mô 6 tháng năm 2008-BIDV)
(bảng số liệu so sánh với các nước trên thế giới)
đánh giá:
2.Lạm phát:
2.1Tình hình lạm phát Việt Nam năm 2007, 6 tháng đầu năm 2008
2.1.1 Năm 2007
Hiện tượng lạm phát phi mã gần đây ở VN có tất cả những dấu hiệu của lạm
phát ở các nước chậm tiến hay đang phát triển, đã được nhiều chuyên gia và các tổ
chức quốc tế đề cập đến và cảnh báo khá nhiều
Theo đó CPI tháng 2/2007 so với tháng 1/2007 chỉ là 2,17% và lạm phát 2
tháng đầu năm 2007 chỉ ở 1 con số là 6,5%.
Hiện tượng giá cả thị trường tăng nhanh trong 6 tháng đầu năm 2007 đã gây
nên nhiều lo ngại. Sau hai năm liên tục ở mức cao (9,5% năm 2004 và 8,4% năm
2005), lạm phát dường như đã có dấu hiệu suy giảm và chỉ còn 6,6% năm 2006. Tuy
nhiên, áp lực lạm phát lại bùng phát ngay từ đầu năm 2007. Trong 6 tháng đầu năm,
chỉ số giá tiêu dùng đã tăng 5,2%. Nếu so với 6 tháng năm 2006, chỉ số giá tiêu dùng
tăng 7,8%. Hầu hết các nhóm hàng đều có mức tăng giá cao so với cùng kỳ năm
ngoái, trong đó nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 8,34%, nhóm hàng ăn - dịch
vụ ăn uống tăng 6,8%.
Tốc độ tăng chỉ số giá tiêu dùng ở Việt Nam và các nước trong khu vực

Đây được coi là mối quan ngại lớn về kinh tế vĩ mô hiện nay bên cạnh các
dấu hiệu tích cực như tăng trưởng tổng sản phẩm nội địa (GDP), xuất khẩu, đầu tư
trực tiếp và đầu tư gián tiếp nước ngoài. Nếu so sánh với các nước trong khu vực, tỷ
lệ lạm phát của Việt Nam cao hơn khá nhiều.
** Trong 6 tháng cuối năm 2007, lạm phát tiếp tục gia tăng ở mức báo
động. lạm phát phi mã tưởng chừng không thể nào dừng lại được. Hầu hết 11 nhóm
hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng đều tăng.
 Trong 11 nhóm hàng hóa, dịch vụ, nhóm thực phẩm (chiếm tỷ
trọng lớn nhất trong "rổ" hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng) giá tăng cao nhất

31/12/2007 và 25% so cùng kỳ năm trước - Mức cao nhất trong 15 năm
quakểtừ1993!
Tuy nhiên, sau nhiều gói biện pháp hạn chế lạm phát của chính phủ và ngân
hàng nhà nước, tình hình lạm phát ở Việt Nam đã có phần “giảm nhiệt”. Lạm phát
tháng 6/2008 đã giảm mạnh: Tháng 6 chỉ số giá tiêu dùng tăng 2,14%, là mức thấp
nhất trong 6 tháng qua và không có cơn sốt giá nào xảy ra, 6 tháng đầu năm chỉ số
giá tăng 18,44%. Yếu tố làm chỉ số giá tăng thấp có nguyên nhân quan trọng là giá
hàng ăn và dịch vụ ăn uống tháng 6 chỉ tăng 3,29%, đây là nhóm hàng quyết định tới
khoảng 80% mức tăng chỉ số giá.
 Chỉ số giá tiêu dùng các tháng đầu năm 2008: tháng 1 là 2,38%;
Tháng2: 3,56%; Tháng3: 2,99%; Tháng4: 2,2% và tháng 5 là 3,91%
Tình hình lạm phát 6 tháng đầu năm 2008(đơn vị%)
2.2 Nguyên nhân:
2.2.1Các nguyên nhân chính từ bối cảnh kinh tế toàn cầu:
Thứ nhất: Giá dầu và giá nguyên nhiên vật liệu đầu vào của sản xuất liên
tục gia tăng: Trong 4 năm từ 2003-2006 kinh tế toàn cầu liên tục tăng trưởng cao,
đặc biệt là nhóm các nước “mới nổi” ở khu vực Châu á, nhất là Trung Quốc đã đẩy
nhu cầu năng lượng toàn cầu tăng cao đột biến, cùng với những bất ổn và xung đột
chính trị quân sự tại khu vực Trung Đông là các nguyên nhân trực tiếp đẩy giá dầu
lên cao chưa từng có trong lịch sử 110 USD/thùng trong tháng 3/2008, đồng thời giá
các nguyên vật liệu đầu vào khác như sắt thép, phân bón, xi măng cũng liên tục gia
tăng. Như vậy, giá dầu đã tăng 72%, sắt thép tăng 114%, phân bón tăng 59,6%, khí
hoá lỏng tăng 95% kể từ đầu năm 2007 đến tháng 3/2008 và đây cũng là mức tăng
cao nhất từ trước tới nay.
Thứ hai: Giá lương thực, thực phẩm liên tục gia tăng: xuất phát từ quá trình
biến đổi khí hậu toàn cầu, thiên tai dịch bệnh diễn ra liên tiếp, cùng với những năm
tăng trưởng kinh tế mạnh trên thế giới - là những năm quá trình công nghiệp hoá
được đẩy mạnh khiến diện tích đất sử dụng cho trồng trọt, chăn nuôi bị thu hẹp. Tất
cả những điều trên làm sản lượng lương thực - thực phẩm ngày càng giảm mạnh.
Ngoài ra, giá năng lượng tăng cao đã khiến nhiều nước sử dụng một sản lượng lớn

vật liệu đầu vào chính của sản xuất. Mặc dù Chính phủ đã cố gắng kiểm soát giá
xăng dầu, nhưng từ đầu năm 2007 đến hết Quý I/08 giá xăng dầu đã phải điều chỉnh
tăng 4 lần, tính chung giá xăng dầu đã tăng tới 38%, giá thép tăng 91%, giá điện tăng
7,6%; giá than tăng 30%; giá xi măng tăng 15%; giá phân bón tăng 58%. Điều này
đã tác động làm chi phí sản xuất tăng cao.
Thứ hai: Giá lương thực, thực phẩm tăng cao: biến đổi khí hậu toàn cầu trên
thế giới không những tác động đến nhiều quốc gia mà Việt Nam cũng bị ảnh hưởng
nặng nề. Chỉ trong tháng 10/2007, miền Trung phải hứng chịu 5 cơn bão liên tiếp,
trong khi đó dịch bệnh trong chăn nuôi, trồng trọt như cúm gia cầm, lợn tai xanh, lở
mồm long móng ở lợn, vàng lùn ở lúa cùng với rét đậm, rét hại khiến cho nguồn
cung lương thực - thực phẩm bị sụt giảm.
Thứ ba: Chính sách tài khoá và chính sách tiền tệ liên tục mở rộng từ 2001-
2006 nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế: Trong vòng 3 năm trở lại đây kinh tế Việt
Nam liên tục tăng trưởng ở mức rất cao trên 8%, và mục tiêu của giai đoạn này đối
với Chính phủ Việt Nam là ưu tiên tăng trưởng kinh tế. Với mục tiêu này đã khuyến
khích cho “chính sách tài chính, tiền tệ nới lỏng đã thực hiện trong nhiều năm liền
nhưng quản lý chưa chặt chẽ” nhằm mục tiêu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, và đây
cũng là nhân tố góp phần khiến lạm phát bình quân từ 2005 đến 2007 tăng trên
8,01%. Tín dụng ngân hàng cho nền kinh tế tăng mạnh trong một thời gian dài nhằm
phục vụ mục tiêu tăng trưởng kinh tế là một nguyên nhân quan trong làm gia tăng
tổng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế. Các ngân hàng cũ mở rộng tín dụng
bằng việc nới lỏng điều kiện cho vay, cạnh tranh nhau bằng giảm lãi suất cho vay,
tăng lãi suất huy động để tìm kiếm nguồn vốn cho vay,chuyển đổi mô hình, liên
doanh liên kết với các doanh nghiệp, tập đoàn để tăng vốn điều lệ, mở rộng mạng
lưới nhanh chóng vượt quá khả năng quản trị, cho thành lập thêm các ngân hàng mới
và tất cả các ngân hàng chủ yếu đua nhau tìm kiếm lợi nhuận từ nghiệp vụ cho vay
nên càng làm cho tín dụng của hệ thống ngân hàng tăng cao trong suốt năm 2007 và
3 tháng đầu năm 2008, đó là nguyên nhân rất quan trong gây sức ép rất lớn làm gia
tăng lạm phát trong thời gian qua.
So sánh tốc độ tăng trưởng cung tiền và tăng trưởng GDP của ba

Muốn lạm phát thấp, thì phải thắt chặt chi ngân sách, thắt chặt đầu tư, tiêu
dùng, tăng lãi suất cho vay, tăng dự trữ bắt buộc, giảm thuế suất thuế nhập khẩu…
nhưng như thế thì tăng trưởng kinh tế sẽ không cao
3.1Vậy thực chất của quan hệ giữa lạm phát với tăng trưởng là gì?
3.1.1 Tác động của tăng trưởng đến lạm phat:
Lãi suất Mức giá
MS1 MS2 P2
R1
P1 AD2
R2
AD AD1
Lượng tiền y1 y2 Y

-Khi ngân hàng TW tăng lượng cung tiền MS1 lên MS2,lãi suất giảm từ R1
xuống R2,khi lãi suất giảm,đầu tư tăng dẫn đến làm cho tổng cầu tăng kéo theo sản
lương tăng-> tăng trưởng kinh tế.Nhưng theo đó giá cả cũng tăng lên dẫn đến lạm
phát.
p
AS

P1

P2
AD2

AD1
Y
-Để đạt mục tiêu tăng trướng,chính phủ sử dụng biện pháp kích cầu,kích
thích nhu cầu tiêu dùng của người dân,làm cho đường cầu dịch chuyển từ AD1 đến
AD2,khi đó sản lượng tiêu dùng gia tăng,tăng tốc độ tăng trưởng đồng thời giá tăng

một số nhà kinh tế chỉ ra rằng tính bất trắc của lạm phát lại có tác động tích cực đến
tăng trưởng, nhờ vào động thái tăng tiết kiệm để phòng ngừa lạm phát. Họ cũng chỉ
ra thêm rằng trên thực tế, quan hệ nhân quả giữa hai biến số này là không nhất quán
ở từng trường hợp nghiên cứu quốc gia. Như vậy có thể nói rằng về lý luận, quan hệ
nhân quả giữa lạm phát với năng suất lao động và/hoặc tăng trưởng chưa hoàn toàn
sáng tỏ.
Thực tế, kết quả nghiên cứu thực chứng trong nhiều nghiên cứu cấp quốc
gia và nhóm quốc gia cũng chỉ ra một quan hệ phức tạp giữa 2 nhóm biến số này.
Các nghiên cứu thực chứng ban đầu chỉ tập trung vào nhóm G7, hoặc các nước trong
tổ chức OECD, và kết quả nghiên cứu không chỉ ra được một kết luận rõ ràng về
quan hệ này. Tùy theo dữ liệu sử dụng là chuỗi thời gian (cho trường hợp nghiên
cứu từng quốc gia cụ thể), hay dữ liệu cho nhóm quốc gia sẽ có các kết quả đối
ngược nhau.
Về sau này, một số tác giả bắt đầu nghiên cứu thêm nhóm các nước ở châu
Á. Kết quả nghiên cứu cũng không khác mấy so với kết quả từ các nghiên cứu trước
đó đối với nhóm OECD hay G7. Cụ thể, ở một số nước như Nhật, Thái Lan, Sri
Lanca, Philippines, và Indonesia, lạm phát và năng suất không hề có quan hệ gì với
nhau. Ở một số nước khác như Malaysia, lạm phát có tác động tiêu cực đến năng
suất. Ở những nước như Hàn Quốc, Ấn Độ, và Singapore, 2 biến số này tác động lẫn
nhau. Căn cứ vào kinh nghiệm của những quốc gia như nêu trên, có thể rút ra một số
bài học cho Việt Nam liên quan đến MTLP ở ta như hiện nay: Ảnh hưởng của lạm
phát là không rõ ràng lên tăng trưởng kinh tế.
Theo nghiên cứu của một số nhà kinh tế học thì lạm phát và tăng trưởng có
mối quan hệ phi tuyến tính:
-Lạm phát chỉ tác động tiêu cực lên tăng trưởng khi đạt ngưỡng nhất định
nào đó(threshold).
+Dấu hiệu bất ổn kinh tế vĩ mô.
+Tăng sự không chắc chắn của các hoạt động đầu tư.
+Lạm phát làm thay đổi giá cả tương đối,làm méo mó quá trình phân bổ
nguồn lực.

cao sẽ làm cho tình hình lạm phát ngày càng trầm trọng hơn.
Theo tiến sĩ Vũ Thành Tự Anh, để đạt được mục tiêu “lạm phát thấp hơn tốc
độ tăng trưởng” (mà trên thực tế không hề có cơ sở khoa học vững chắc) thì khi lạm
phát tăng, Chính phủ chỉ có thể có một trong hai lựa chọn: Một là kiềm chế lạm phát
bằng cách giảm tốc độ tăng cung tiền và tín dụng (đặc biệt là đối với các doanh
nghiệp nhà nước kém hiệu quả), đồng thời giảm bớt chi tiêu của Chính phủ (bằng
cách tăng hiệu quả chi tiêu, giảm lãng phí và thất thoát), hay thậm chí phải điều
chỉnh lãi suất. Hai là phải dồn sức đẩy mạnh tăng trưởng để “đuổi kịp” lạm phát.
Có vẻ như cho đến thời điểm này, phương án 1 chưa phải là lựa chọn của
Chính phủ; còn phương án 2 nếu được thực hiện sẽ chỉ tiếp tục đổ thêm dầu vào
ngọn lửa lạm phát. Dưới góc độ quản lý nhà nước, không nên để một mục tiêu thiếu
cơ sở khoa học như thế này trở thành một chiếc “vòng kim cô” trói buộc các nhà
điều hành vĩ mô.
Hiện nay chưa tìm thấy căn cứ khoa học cho luận điểm nêu trên, do đó,
chúng ta không nên tự ràng buộc mục tiêu lạm phát vào một giới hạn khá dễ dãi
(khoảng 8%), để rồi lại bị cuốn vào nỗi lo con rồng sẽ giật đứt dây xích như hiện
nay”
Những diễn biến thực tế của nền kinh tế Việt Nam hiện nay cho thấy mục tiêu
“lạm phát thấp hơn tăng trưởng” đang trên đà “phá sản”, việc tiếp tục theo đuổi
chính sách bất hợp lý và thiếu cơ sở khoa học vững chắc này sẽ làm cho tình trạng
lạm phát ngày càng trầm trọng hơn.
Hơn bao giờ hết phương án: hy sinh tốc độ tăng trưởng bằng cách giảm
cung tiền và tín dụng đặc biệt đối với các doanh nghiệp nhà nước để giảm lạm phát
cần được chính phủ lưu tâm đến.
Nếu không với tốc độ lạm phát tăng cao trong những tháng cuối năm sẽ tiếp
tục tăng cao và khi mà dân nghèo không thể mua “ổ bánh mì” thì sẽ ảnh hưởng
nghiêm trọng đến sự ổn định xã hội.
(. Chính vì mối quan hệ này, trong khi không thể cùng thực hiện cả hai mục
tiêu, muốn ưu tiên mục tiêu nào, các chuyên gia đã dùng các cụm từ “hy sinh mục
tiêu tăng trưởng cho mục tiêu kiềm chế lạm phát” hay “hy sinh mục tiêu kiềm chế

hút ngay tiền về. Quốc gia nào trong tình thế này cũng đều xử lý như vậy và chúng
ta đã làm theo phương pháp đó. Phát hành tín phiếu Ngân hàng Nhà nước, tăng dự
trữ bắt buộc đều là động tác để hút tiền về, giảm bớt áp lực giữa tiền và hàng. Hay
giải pháp nâng lãi suất để hạn chế tăng trưởng tín dụng, có nghĩa là cũng hạn chế
nguồn cung tiền. Mặc dù Chính phủ đã nhanh chóng đưa ra các biện pháp kiềm chế
lạm phát nhưng không phải nó có thể ngay lập tức mang lại hiệu quả mà cần có thời
gian, ít nhất từ nay đến cuối năm.
Cũng cần phải thấy rằng, nếu chỉ đơn phương một mình chính sách tiền tệ
thì không thể kiềm chế lạm phát nổi, mà phải có sự tham gia của chính sách tài
chính, đầu tư thậm chí cả chính sách thương mại nữa. Cùng kết hợp nhiều chính
sách vĩ mô hướng đến mục tiêu kiểm soát lạm phát thì mới có thể đạt hiệu quả mong
muốn.
- Nhìn chung các chính sách kiểm soát sự phát triển bao giờ cũng ảnh
hưởng đến các đối tượng của nền kinh tế. Các ngân hàng thương mại không thể cho
vay thoải mái như ngày xưa, tất nhiên sẽ nảy sinh tâm lý khó chịu khi bị nhà nước
kiểm soát, nhưng đó là những hành động cần thiết trong hoàn cảnh này. Nếu không
làm nghĩa là chúng ta tự hại mình, bao nhiêu công lao xây dựng đất nước, phát triển
kinh tế sẽ bị ngọn lửa lạm phát thiêu rụi.

Trong lúc này cũng không thể cầu toàn được, khó có đòi hỏi một lúc thực
hiện cả hai mục tiêu vừa tăng trưởng kinh tế cao, vừa kiềm chế được lạm phát. Nếu
từ giờ đến cuối năm, tình hình lạm phát không dịu đi thì tăng trưởng chắc chắn sẽ bị
ảnh hưởng.
- Cho đến Công văn 319 của Thủ tướng Chính phủ thì đã là giải pháp trọn
gói. Trước kia chỉ chính sách tiền tệ sợ rằng không đủ, bây giờ Chính phủ đã đi một
cách toàn diện rồi. Nhưng để có hiệu quả thì khâu thực hiện phải đi liền với chính
sách, nếu như tất cả các bộ, các ngành đều có ý chí kiềm chế lạm phát quyết liệt,
thậm chí ở địa phương cũng phải có tư duy kiềm chế lạm phát thì Công văn 319 mới
có hiệu quả. Ví dụ như Chính phủ quyết định rà soát lại các công trình đầu tư, địa
phương cũng phải thực hiện kiên quyết, những dự án nào không hiệu quả, kéo dài,

Phải nhìn nhận một kinh nghiệm hết sức quan trọng là: Ngay cả khi thắng
lợi cũng phải suy nghĩ cho tương lai, để có được dự báo đúng, từ đó mà đưa ra
những quyết định đúng đắn, phù hợp thực tiễn
MỤC LỤC:
Tài liệu tham khảo
Kinh tế vĩ mô 6 tháng năm 2008 Ngân Hàng Đầu Tư Phát Triển Việt
Nam(BIDV)
Tình hình kinh tế xã hội năm 2007-Tổng Cục Thống Kê

Tình hình kinh tế xã hội 6 tháng năm 2008-Tổng Cục Thống Kê
/>Lý giải một nguyên nhân lạm phát năm 2007
/>


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status