Kinh tế vĩ mô GV: Trần Thị Bích Hạnh
MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
MỞ ĐẦU 2
NỘI DUNG 3
1. Khái quát chung về lạm phát: 3
1.1. Định nghĩa 3
1.2. Phân loại: có 3 loại 3
2. Diễn biến lạm phát ở Việt Nam trong 10 năm trở lại đây: 3
2.1. Diễn biến chung 3
2.2. Nguyên nhân dẫn tới lạm phát 4
2.3. Diễn biến lạm phát theo từng giai đoạn 6
2.3.1. Giai đoạn 2002-2006 6
2.3.1.1. Lạm phát năm 2002 6
2.3.1.2 Lạm phát năm 2003: 6
2.3.1.3. Lạm phát năm 2004: 7
2.3.1.4. Lạm phát năm 2005: 7
2.3.1.5. Lạm phát năm 2006 8
2.3.2. Lạm phát ở Việt Nam giai đoạn 2007-2008 9
2.3.3. Lạm phát năm 2009 11
2.3.4. Lạm phát năm 2010 13
2.3.5. Lạm phát năm 2011 14
2.3.6. Lạm phát trong thời gian tới-2012 15
3. Nhận xét chung 16
KẾT BÀI 17
1
Kinh tế vĩ mô GV: Trần Thị Bích Hạnh
MỞ ĐẦU
Cơ chế thị trường rung lên hồi chuông cảnh báo về sự thay đổi nền kinh tế
Việt Nam trong những thập niên gần đây. Trong nền kinh tế thị trường hoạt động
đầy sôi động và cạnh tranh gay gắt để thu được lợi nhuận cao và đứng vững trên
giá trong phạm vi hai hoặc ba chữ số một năm thường được gọi là lạm phát phi mã,
nhưng vẫn thấp hơn siêu lạm phát. Việt Nam và hầu hết các nước chuyển đổi từ cơ
chế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường đều phải đối mặt với lạm
phát phi mã trong những năm đầu thực hiện cải cách.
- Siêu lạm phát: là lạm phát "mất kiểm soát", một tình trạng giá cả tăng nhanh
chóng khi tiền tệ mất giá trị.
2. Diễn biến lạm phát ở Việt Nam trong 10 năm trở lại đây:
2.1. Diễn biến chung
Trong giai đoạn 2006 đến nay, lạm phát của Việt Nam nhìn chung đều ở mức 2
con số (ngoại trừ năm 2009) với mức tăng trung bình là 11,5%/năm, cao gấp hơn 2
lần mức tăng 5,2%/năm của giai đoạn 2001-2005. Nhìn vào đồ thị dưới đây có thể
3
Kinh tế vĩ mô GV: Trần Thị Bích Hạnh
thấy, lạm phát trong vòng hơn 10 năm trở lại đây phân chia thành hai giai đoạn khá
rõ nét.
Hình 1.1 Chỉ số lạm phát trong 10 năm qua
Trong suốt thời gian qua, lạm phát là vấn đề dai dẳng và gây tổn thương nhiều
nhất tới kinh tế Việt Nam khi thường xuyên cao hơn, kéo dài lâu hơn và dao động
mạnh hơn so với các nước trong khu vực và trên thế giới.
2.2. Nguyên nhân dẫn tới lạm phát
Lạm phát cao trong thời gian qua là kết quả của nhiều nguyên nhân, bao gồm:
Lạm phát nhập khẩu: Do là nền kinh tế có độ mở lớn nên những cú sốc giá
quốc tế, đặc biệt là giá nhiên liệu và lương thực thực phẩm, đã góp phần làm tăng
chỉ số giá tiêu dùng (CPI) của Việt Nam. Tuy nhiên, ảnh hưởng của giá thế giới đến
giá cả trong nước là có mức độ và chưa phải là nhân tố quyết định làm CPI tăng
cao. Bằng chứng là nhiều quốc gia trong khu vực cũng chịu chung tác động của giá
cả quốc tế nhưng mức độ lạm phát thấp hơn nhiều so với Việt Nam .
Lạm phát chi phí đẩy: Lạm phát trong nước chịu sự tác động của chi phí đẩy
bao gồm cả việc điều chỉnh tỷ giá (theo tính toán của Ủy ban Giám sát Tài chính,
việc điều chỉnh tăng tỷ giá 9,3% vào tháng 2/2011 có thể khiến CPI năm 2011 tăng
5
Kinh tế vĩ mô GV: Trần Thị Bích Hạnh
2.3. Diễn biến lạm phát theo từng giai đoạn
2.3.1. Giai đoạn 2002-2006
Nước ta đã kiểm soát được lạm phát giai đoạn 2002-2006, lạm phát chỉ dừng lại
ở 1 con số, tốc độ tăng GDP và tốc độ tăng CPI được thể hiện qua biểu đồ sau:
Hình 3.1 Tốc độ tăng trưởng GDP và CPI giai đoạn 2002-2006
2.3.1.1. Lạm phát năm 2002
Mặc dù năm 2002 tình hình kinh tế thế giới có nhiều khó khăn, nhưng nước ta
vẫn đạt tỉ lệ tăng trưởng kinh tế là 7,04%, tỉ lệ tăng trưởng cao thứ hai trong khu
vực Châu á chỉ sau có Trung Quốc(8%), các chỉ tiêu kinh tế khác chúng ta hầu hết
đều đạt và vượt chỉ tiêu đề ra. Lạm phát trong năm 2002 là 4%, một tỉ lệ lạm phát
chấp nhận được mặc dù cao hơn so với mục tiêu 35 của chúng ta đã đề ra.
Tình hình giá cả đầu năm 2002 của chúng ta đã tăng lên tương đối nhanh, 6
tháng đầu năm giá cả đã tăng 2,9%, khi đó rất nhiều nhà kinh tế đã lo ngại rằng nếu
chúng ta không kiểm soát được lạm phát thì rất có thể tỉ lệ lạm phát của nước ta sẽ
lên tới 6%. Trước tình hình đó nhà nước đã có những chính sách nhằm ổn định giá
cả trên thị trưòngmột cách hợp lý, nhờ đó, đến cuối năm tỉ lệ lạm phát của chúng ta
chỉ là 4%.
2.3.1.2 Lạm phát năm 2003:
6
Kinh tế vĩ mô GV: Trần Thị Bích Hạnh
Với chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 12 tăng thêm 0,8%, chỉ số lạm phát (mức
tăng CPI) ở nước ta là 3,1%, đúng như chỉ tiêu Quốc hội đề ra. Trong năm này, có 4
tháng liên tục từ tháng 5 đến tháng 8, CPI giảm. Các tháng còn lại, mức tăng cũng
không đều, chẳng hạn tháng 2 tăng 2,2% thì tháng 9 chỉ tăng 0,1%.
Trong tháng 12, mặc dù có sự kiện SEA Games, chỉ số giá nhóm hàng thể thao,
giải trí chỉ tăng nhẹ dưới 1%, còn nhóm hàng lương thực, thực phẩm lại tăng tới
2%; giá vàng tăng 5%. Tính chung cả năm, nhóm hàng tăng giá cao nhất là vàng với
gần 30%; dược phẩm, y tế trên 20%.
mại với nước ngoài tiếp tục thiếu hụt lớn. Năm 2005 thiếu hụt là 4.6 tỷ USD (9%
GDP), so với năm 2004 là 5.5 tỷ USD (12% GDP). Xuất khẩu năm 2005 tăng 29%
(không kể dầu thô, xuất khẩu chỉ tăng 19.3%), và nhập khẩu tăng ở mức thấp hơn là
15%.
Thiếu hụt cao như vậy sẽ đưa đến khủng hoảng kinh tế nếu như không có nguồn
kiều hối khoảng 4 tỷ USD chuyển về. Nguồn này sẽ không tăng như mức tăng nhập
khẩu.
2.3.1.5. Lạm phát năm 2006
Chỉ số lạm phát (CPI=6,57%) trong năm này giảm mạnh so với năm trước, điều
này cho thấy nền kinh tế nước nhà đã có những bước chuyển to lớn từ năm 2006.
Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, CPI tháng 12 chỉ tăng 0,5% so với tháng
11, đưa mức tăng chung cả năm lên 6,6%. Trong tháng 12, ngoài nhóm hàng lương
thực, thực phẩm tăng cao, hầu hết các nhóm hàng còn lại đều tăng nhẹ dưới 1%;
riêng nhóm hàng bưu chính viễn thông đưng yên và nhóm hàng đồ uống thuốc là
giảm 0,1%.
Từ trung tuần tháng 12, giá vàng bắt đầu sụt giảm theo diễn biến của thị trường
thế giới.Tuy nhiên, tính chung tháng 12, giá vàng vẫn tăng 3,2% và cả năm giá vàng
đã tăng 27,2%.
8
Kinh tế vĩ mô GV: Trần Thị Bích Hạnh
Như vậy, mục tiêu kiềm chế mức tăng CPI của Ngân hàng nhà nước năm 2006
đã hoàn thành. Mức 6,57% cũng là mức khả quan nhất trong vòng ba năm qua (năm
2005 là 8,71%; năm 2004 là 9,67%).
2.3.2. Lạm phát ở Việt Nam giai đoạn 2007-2008
Sau 12 năm kiềm chế lạm phát (1995-2006), lạm phát thật sự bùng nổ tới
ngưỡng 2 con số vào năm 2007 (12,75%) và tăng vọt lên 19,87% vào năm 2008.
Hình 3.2. Chỉ số giá tiêu dùng giai đoạn 2007-2008
Năm 2007
Trong tháng cuối cùng của năm, CPI đã lập một lúc hai kỷ lục, chỉ số giá tăng
cao nhất trong tháng và tổng chỉ số giá cả năm cao nhất trong vòng 12 năm lại đây.
**Nguyên nhân của tăng lạm phát:
Ngày 22/5/2008, tăng giá xăng dầu từ 13.000đ lên 14.500đ (tương đương
11.5%).
10
Kinh tế vĩ mô GV: Trần Thị Bích Hạnh
- Cuối tháng 3 đầu tháng 4, tình trạng thiếu lương thực trầm trọng trên thế
giới làm cho giá gạo trong nước tăng nhanh có thời điểm từ 50% đến 100%.
- Kể từ tháng 5 giá gạo đã có xu hướng giảm nhưng mức tăng vẫn 15%-20%
so với trước khi sốt gạo. Trong hai quý đầu năm, giá các loại nguyên vật liệu tăng
mạnh trên thế giới khiến nước ta ảnh hưởng bởi NK lạm phát.
**Sau đợt làm phát tăng mạnh kể từ năm 2007, Chính phủ đã ban hành các
biện pháp cả gói về chống lạm phát của Việt Nam từ quý II năm 2008:
Thực hiện chính sách tiền tệ chặt chẽ.
- Ngân hàng phát hành trái phiếu kho bạc trong 2008: 20.300 tỉ VNĐ
- Thay đổi lãi suất huy động tiền gửi để thu hút tiền trong lưu thông
- Kiểm soát chặt chẽ, nâng cao hiệu quả chi tiêu công
- Tập trung sức phát triển sản xuất công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ bảo
đảm cân đối cung cầu về hàng hóa.
- Đẩy mạnh xuất khẩu, kiểm soát chặt chẽ nhập khẩu và giảm nhập siêu. Triệt
để thực hành tiết kiệm trong sản xuất và tiêu dùng.
- Tăng cường công tác quản lý thị trường chống đầu cơ buôn lậu và gian lận
thương mại, kiểm soát việc chấp hành pháp luật về giá.
- Tăng cường các biện pháp hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất của nhân dân,
mở rộng việc thực hiện các chính sách về an sinh xã hội.
- Đẩy mạnh công tác thông tin và tuyên truyền.
(Theo nghị quyết 10/2008/NQCT-17/04/08 Nghị quyết về các biện pháp kiềm chế
lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô bảo đảm an sinh xã hội và tăng trưởng bền vững).
2.3.3. Lạm phát năm 2009
Nếu cuối năm 2008, mục tiêu giữ lạm phát dưới 15% đã là lý tưởng cho năm
2009 sau một năm lạm phát (CPI) xấp xỉ tới 20% thì đến giữa năm chúng ta lại hoàn
Kinh tế vĩ mô GV: Trần Thị Bích Hạnh
2.3.4. Lạm phát năm 2010
Cuối tháng 12/2010, chỉ số CPI tăng 11,75% so với cuối tháng 12/2009, cao
hơn nhiều mục tiêu Quốc hội đề ra (7%).
Tốc độ tăng chỉ số CPI của năm 2010 thuộc diện cao so với các năm trước
đây. Tốc độ tăng CPI cuối kỳ của năm 2010 cao gấp hơn 1,25 lần so với năm 2006
và 2009
Biểu đồ: Tốc độ tăng giá tiêu dùng (CPI) theo tháng năm 2010
Chỉ số CPI tăng cao trong năm 2010 do một số yếu tố sau đây:
- Nhóm hàng giáo dục có tốc độ tăng cao nhất ở mức 19,38%, do tác động của tăng
học phí từ học kỳ I năm học 2010 - 2011;
- Nhóm lương thực, thực phẩm và ăn uống ngoài gia đình tăng ở mức 16,18% do
thiên tai, bệnh dịch liên tiếp xảy ra và giá lương thực, thực phẩm xuất khẩu tăng
cao;
- Giá một số hàng hóa thiết yếu, nguyên liệu đầu vào của sản xuất tăng như nước
sạch, than, điện (bình quân +6,9%), xăng dầu, tiền lương (+12,3-22,5%), xi măng,
sắt thép.
Lạm phát cao năm 2010 xuất phát từ nhiều nguyên nhân nhưng nguyên nhân
sâu xa đó là mô hình tăng trưởng kinh tế của Việt Nam không có hiệu quả cao, đặc
biệt mục tiêu tăng trưởng kinh tế luôn được đặt ở vị trí ưu tiên, khiến cho nền kinh
tế tăng trưởng “nóng”, vượt sản lượng tiềm tăng.
13
Kinh tế vĩ mô GV: Trần Thị Bích Hạnh
Năm 2010, chính sách tiền tệ được điều hành chủ động, thận trọng, linh hoạt
nhằm góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và kiềm chế lạm
phát. Tuy nhiên, những vấn đề kinh tế vĩ mô năm 2010 đẩy khu vực tiền tệ - ngân
hàng vào những khó khăn mới như lãi suất cao, VND chịu áp lực mất giá lớn, rủi ro
hoạt động ngân hàng gia tăng.
So với năm 2009, tốc độ tăng trưởng dư nợ tín dụng và huy động vốn năm
2010 đều thấp hơn. Lạm phát tăng cao trong bối cảnh phục hồi tăng trưởng kinh tế
tộc, nhất là ở các đô thị tập trung dân cư và có quy mô thị trường tiêu thụ lớn, như
các TP. Hà Nội và Hồ Chí Minh.
Đặc biệt, sự hội tụ tập trung trong thời gian ngắn các cú sốc tăng tỷ giá (tăng
9,3% từ ngày 11/2/2011), và tăng giá xăng dầu (tăng từ 17 - 24%) và từ 1/3/2011 là
giá điện tăng 15,2% càng làm bùng phát các xung lực tiêu cực làm tăng hệ quả lạm
phát của chúng.
CPI tăng đã làm giảm mức sống thực tế của người tiêu dùng, nhất là những
người có thu nhập thấp, những đối tượng chính sách xã hội và dễ bị tổn thương.
2.3.6. Lạm phát trong thời gian tới-2012
Tổng cục Thống kê cho biết, mặc dù tháng 1 là tháng trùng với Tết Nguyên
đáng Nhâm Thìn nhưng chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 1/2012 chỉ tăng 1% so với
tháng trước và tăng 17,27% so với cùng kỳ năm 2011.
Với mức tăng này, CPI tháng 1/2012 tăng thấp thứ hai so với các tháng đầu
năm từ năm 2004 đến nay (sau CPI tháng 1/2009 tăng 0,32%). Đây cũng là mức
tăng phản ánh thực tế thắt chặt chi tiêu của đại bộ phận người dân trong bối cảnh
kinh tế chung khó khăn.
CPI tháng 1 tăng ở 10/11 nhóm trong rổ hàng hóa chung với mức tăng từ
0,02-1,97%. Riêng nhóm bưu chính viễn thông tiếp tục giảm 0,01%. CPI tháng
1/2012 chỉ tăng nhẹ là nhờ nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống ngoài gia đình (nhóm
chiếm tỷ trọng cao nhất trong rổ hàng chung và có ảnh hưởng mạnh nhất tới CPI)
chỉ tăng 1,01%.
15
Kinh tế vĩ mô GV: Trần Thị Bích Hạnh
Kinh tế VN năm 2012 đứng trước những cơ hội, thách thức vừa cũ vừa mới
đan xen, không dễ dàng vượt qua nếu chúng ta không có tư duy đổi mới thật sự về
chính sách, chiến lược để có cách làm khác. Nếu chúng ta không kịp thời nắm bắt
cơ hội, thay đổi tư duy, chính sách, có chính sách, biện pháp kinh tế phù hợp thay
cho các biện pháp hành chính đơn thuần thì sẽ khó vượt qua những thách thức và
đạt được kết quả mong muốn. Cơ hội lớn nhất, bao trùm trong năm 2012 là: ổn định
kinh tế vĩ mô, thay đổi tư duy và chính sách.
nhà kinh tế học lo ngại rằng chúng ta sẽ quay về điểm xuất phát.
KẾT BÀI
Lạm phát có tác động rất lớn đến mỗi quốc gia cũng như tình hình phát triển
kinh tế xã hội của nước đó. Chính vì thế,chúng ta cần nắm vững nguyên nhân,tác
động của lạm phát,những ảnh hưởng của nó ở tầm vi mô và vĩ mô để có các biện
pháp linh hoạt,nhanh chóng,hạn chế các nguy cơ và tác động của nó. Giảm thiểu
các tác động tiêu cực của lạm phát là một vấn đề mang tính chất vĩ mô, đặc biệt đối
với một nền kinh tế mới bước vào ngưỡng cửa của hội nhập kinh tế như nước ta. Sự
hi sinh tăng trưởng năm 2008 để kiềm chế lạm phát như quyết sách của Chính phủ
Việt Nam đã đủ nói lên tầm quan trọng của vấn đề. Trong thời gian tới, nền kinh tế
của nước ta cũng đang có những thách thức, khó khăn cần phải vượt qua, và vấn đề
lạm phát vẫn còn tiếp tục diễn biến hết sức phức tạp,cần phải nghiên cứu và có
17
Kinh tế vĩ mô GV: Trần Thị Bích Hạnh
những biện pháp phù hợp để giữ vững tăng trưởng kinh tế,góp phần thực hiện mục
tiêu công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước.
18