Chuyển dịch cơ cấu kinh tế huyện Kim Bảng theo hướng CNH HĐH giai đoạn 20102015 - Pdf 25

PHẦN MỞ ĐẦU
Công nghiệp hóa - hiện đại hóa (CNH-HĐH) là một chủ trương hết sức
đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta, là con đường tất yếu để đưa nước ta thoát
khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu. Mục tiêu của CNH - HĐH là xây dựng
nước ta trở thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại,
có cơ cấu kinh tế hợp lý, QHSX tiến bộ phù hợp với trình độ phát triển của
LLSX, đời sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng, an ninh vững chắc…
Để thực hiện thành công sự nghiệp CNH - HĐH thì vấn đề chuyển dịch cơ
cấu kinh tế đóng vai trò vô cùng quan trọng. Nước ta là một nước nông
nghiệp lạc hậu đi lên CNXH, bỏ qua giai đoạn phát triển TBCN nên chuyển
dịch cơ cấu kinh tế phải xuất phát từ sự tồn tại khách quan của các thành phần
kinh tế trong thời kỳ quá độ tiến lên CNXH.
Kim Bảng là huyện bán sơn địa của tỉnh Hà Nam, thuộc vùng đồng
bằng Sông Hồng, kinh tế còn kém phát triển, thu nhập bình quân đầu người
chưa cao, kết cấu hạ tầng còn thiếu đồng bộ, cơ cấu kinh tế đã có bước
chuyển dịch tích cực nhưng chưa vững chắc; cơ cấu lao động, nhất là lao
động ở nông thôn chuyển dịch còn thấp, chất lượng nguồn nhân lực chưa cao,
tỷ lệ lao động qua đào tạo thấp. Vì vậy, việc vận dụng những quan điểm tư
tưởng của Đảng qua các kỳ Đại hội để xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý đòi hỏi
phải nghiên cứu một cách khoa học, đồng bộ có hệ thống giữa lý luận và thực
tiễn kinh tế xã hội của huyện.
Xuất phát từ thực tế đó, tôi chọn đề tài: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
huyện Kim Bảng theo hướng CNH - HĐH giai đoạn 2010-2015 làm chuyên
đề thực tập tốt nghiệp của mình.
CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ THEO
HƯỚNG CÔNG NGHIỆP HOÁ - HIỆN ĐẠI HOÁ
1. Cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
1.1. Cơ cấu kinh tế
1.1.1. Khái niệm cơ cấu kinh tế
Cơ cấu biểu hiện những yếu tố cấu thành và mối quan hệ cơ bản, tương

sản xuất và chất lượng tăng trưởng. Từ việc nghiên cứu này để tìm ra những
cách thức duy trì tỷ lệ hợp lý giữa các ngành và lĩnh vực cần ưu tiên tập trung
những nguồn lực có hạn của mỗi quốc gia, mỗi vùng lãnh thổ trong mỗi thời
kỳ để thúc đẩy sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế quốc dân một cách hiệu
quả, hay nói cách khác, là tạo ra cơ cấu kinh tế hợp lý và hiện đại.
- Cơ cấu theo vùng lãnh thổ: loại cơ cấu này là sự kết hợp giữa các
vùng, lãnh thổ trong toàn quốc hoặc trong toàn bộ đơn vị cơ sở trong mỗi
vùng, hoặc cơ cấu theo địa phương. Cơ cấu này thể hiện sự phân bố LLSX, sự
phân công lao động trên các vùng lãnh thổ khác nhau và mối quan hệ giữa các
vùng lãnh thổ này trong một nền kinh tế.
- Cơ cấu các thành phần kinh tế: phản ánh mối quan hệ, tỷ lệ chủ yếu
giữa các thành phần kinh tế như kinh tế Nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư
nhân, kinh tế tư bản Nhà nước, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.
- Cơ cấu kinh tế theo các lĩnh vực: cơ cấu của khu vực sản xuất, khu
vực tích luỹ, khu vực tiêu dùng.
Với các cách tiếp cận trên đã phản ánh một số vấn đề chủ yếu của cơ
cấu kinh tế đó là:
+ Thứ nhất: cơ cấu kinh tế là tổng thể các nhóm ngành, các yếu tố cấu
thành hệ thống kinh tế (mà cụ thể là: cơ cấu ngành kinh tế, cơ cấu lãnh thổ và
cơ cấu thanh phần kinh tế của) mỗi quốc gia.
+ Thứ hai: sự tác động qua lại, tương tác lẫn nhau giữa các ngành, các
yếu tố… Hướng vào các mục tiêu đã xác định.
+ Thứ ba: vấn đề về số lượng và tỷ trọng của các nhóm ngành và của
các yếu tố cấu thành hệ thống kinh tế trong tổng thể nền kinh tế đất nước.
1.1.2. Tính chất của cơ cấu kinh tế
Mọi sự vật hiện tượng cũng như nền kinh tế quốc dân đều vận động
theo những quy luật khách quan, theo những cấu trúc và biến đổi nhất định.
Cơ cấu kinh tế phản ánh cơ bản, cô đọng nội dung của chiến lược phát triển
cơ cấu kinh tế trong từng giai đoạn.
Một cơ cấu kinh tế hợp lý phản ánh được sự vận động của quy luật

tác động liên tục, tổng hợp trên nhiều phương diện cả ở cấp vĩ mô và vi mô.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế: Cơ cấu kinh tế luôn luôn thay đổi theo
từng thời kỳ phát triển bởi các yếu tố hợp thành cơ cấu kinh tế không cố định.
Đó là sự thay đổi về số lượng các ngành hoặc sự thay đổi về quan hệ tỷ lệ
giữa các ngành, các vùng, các thành phần do sự xuất hiện hoặc biến chất của
một số ngành và tốc độ tăng trưởng giữa các yếu tố cấu thành cơ cấu kinh tế
là không đồng đều.
Từ những khái niệm và nội dung của sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, ta
có thể khẳng định: mục tiêu của sự chuyển dịch kinh tế ở nước ta theo hướng
công nghiệp hoá, hiện đại hoá là nhằm khắc phục tính tự cung, tự cấp khép
kín, chuyển mạnh sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, gắn thị trường
trong nước và thị trường ngoài nước, đẩy mạnh xuất khẩu, tăng cường tích
luỹ nội bộ nền quốc dân để nhanh chóng đưa đất nước tiến lên văn minh và
hiện đại.
Về bản chất, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế là quá trình biến đổi cấu
trúc và các mối quan hệ tương tác trong hệ thống theo những định hướng và
mục tiêu nhất định, nghĩa là đưa hệ thống đó từ một trạng thái nhất định tới
trạng thái phát triển tối ưu để đạt hiệu quả mong muốn, thông qua sự điều
khiển có ý thức của con người, trên cơ sở vận dụng đúng đắn các quy luật
khách quan. Cơ cấu kinh tế quốc dân đa dạng, phong phú, bao gồm: Cơ cấu
sản xuất, cơ cấu ngành, cơ cấu kinh tế xã hội, cơ cấu kinh tế vùng, cơ cấu các
thành phần kinh tế, cơ cấu kinh tế đối ngoại.
Đối với chúng ta, đây là một vấn đề khó khăn và phức tạp cả về mặt lý
luận và thực tiễn. Vì vậy, để có được một cơ cấu kinh tế hợp lý, đem lại hiệu
quả cao, đồi hỏi chung ta phải có nhận thức và quan điểm đúng đắn về vấn đề
này. đồng thời trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chúng ta phải đảm
bảo được những yêu cầu mang tính nguyên tắc sau:
+ Chuyển dịch cơ cấu kinh tế phải phù hợp với mô hình kinh tế thị
trường, định hướng xã hội chủ nghĩa.
+ Chuyển dịch cơ cấu kinh tế phải đảm bảo phù hợp với mục tiêu phát

1 Văn kiện hội nghị giữa nhiệm kỳ BCH TW khoá VII trang 26
2 Văn kiện hội nghị lần thứ 7 BCH TW khoá VII trang 65
- Nhóm ngành dịch vụ bao gồm các ngành như thương mại, bưu điện,
du lịch.
- Nhóm ngành nông nghiệp bao gồm các ngành nông-lâm-ngư nghiệp.
Nếu như phân công lao động xã hội là cơ sở hình thành cơ cấu ngành
và cơ cấu lãnh thổ, thì chế độ sở hữu lại là cơ sở hình thành cơ cấu thành phần
kinh tế. Cơ cấu thành phần kinh tế cũng là một nhân tố tác động đến cơ cấu
ngành kinh tế và cơ cấu lãnh thổ. Sự tác động đó là một biểu hiện sinh động
của mối quan hệ giữa các loại cơ cấu trong cơ cấu kinh tế. Cơ cấu lãnh thổ và
cơ cấu ngành kinh tế thực chất là hai mặt của một mặt thông nhất và đều là
biểu hiện của sự phân công lao động xã hội. Cơ cấu lãnh thổ hình thành gắn
với cơ cấu ngành và thống nhất trong nền kinh tế. Việc chuyển dịch cơ cấu
lãnh thổ phải đảm bảo sự hình thành và phát triển có hiệu quả của các ngành
kinh tế, các thành phần kinh tế theo lãnh thổ cho phù hợp với đặc điểm tự
nhiên, kinh tế - xã hội, phong tục tập quán truyền thống của mỗi vùng, nhằm
khai thác triệt để thế mạnh của vùng đó.
1.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Cơ cấu kinh tế chịu sự tác động của nhiều yếu tố, có nhân tố thúc đẩy
có nhân tố kìm hãm. Sự tác động đan xen nhau đó làm cho nền kinh tế phát
triển với tốc độ và hiệu quả khác nhau. Có thể chia các nhân tố tác động cơ
cấu kinh tế theo ba nhóm sau:
- Nhóm các nhân tố địa lý, tự nhiên.
- Nhóm các nhân tố kinh tế - xã hội bên trong đất nước.
- Nhóm các nhân tố bên ngoài.
2. Tính tất yếu của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo
hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Công nghiệp hoá gắn với hiện đại hoá bao trùm toàn bộ quá trình phát
triển kinh tế. Nội dung chính của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá là
đưa sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn, thực hiện cách mạng khoa học kỹ thuật và

nâng cao tiềm năng kinh tế của đất nước cũng như ở từng địa phương.
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế các ngành xuất phát từ thực trạng kinh tế
các ngành, đặc điểm kỹ thuật các ngành, tiềm năng và xu hướng phát triển của
chúng theo mục tiêu chung của đất nước. Hướng chung của chuyển dịch cơ
cấu ngành là tăng tỷ trọng các ngành phi sản xuất kết hợp chặt chẽ nông - lâm
nghiệp và công nghiệp chế biến, cuối cùng là tập trung ưu tiên cho phát triển
các ngành công nghiệp mũi nhọn mang tính đột phá.
Tóm lại: sự chuyển dịch cơ cấu ngành, cơ cấu thành phần kinh tế, vùng
lãnh thổ có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Trong đó cơ cấu ngành có vai trò
quyết định vì nó phát triển theo quan hệ cung - cầu trên thị trường còn cơ cấu
thành phần kinh tế là lực lượng kinh tế quan trọng để thực hiện cơ cấu ngành.
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ HUYỆN KIM
BẢNG THỜI GIAN QUA
2.1. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội có ảnh hưởng đến cơ cấu
kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của huyện.
2.1.1. Điều kiện tự nhiên
- Điều kiện địa lý và tài nguyên thiên nhiên: Kim Bảng là một huyện
nông nghiệp, hơn nữa lại là một huyện bán sơn địa, nằm ở phía Tây Bắc của
tỉnh Hà Nam. Có vị trí địa lý vào khoảng 20 độ 3 vĩ độ Bắc, 105 độ 30 kinh
độ Đông, Kim Bảng nằm sát ngay cạnh trung tâm tỉnh lỵ - nơi có đường quốc
lộ số 1 (huyết mạch giao thông của cả nước) chạy qua và cách Thủ đô Hà Nội
không xa (khoảng 60 km). Bên cạnh đó, Kim Bảng còn tiếp giáp với các
huyện như: Phía Tây giáp huyện Mỹ Đức của Thủ đô Hà Nội (nơi có điểm
thắng cảnh Hương Tích nổi tiếng) và huyện Lạc Thủy của tỉnh Hòa Bình (nơi
có nhiều tiềm năng phát triển du lịch và tài nguyên, khoáng sản); Phía Bắc
giáp huyện Ứng Hòa (có nhiều tiềm năng phát triển với các ngành nghề thủ
công truyền thống và các du lịch nổi tiếng); Phía Nam giáp huyện Thanh
Liêm; Phía Đông giáp thành phố Phủ Lý và huyện Duy Tiên (đây cũng là
những nơi giàu tài nguyên khoáng sản và có bề dày về lịch sử văn hóa truyền

- Về khí hậu: cũng như các huyện khác của đồng bằng sông Hồng, Kim
Bảng có khí hậu mang đặc điểm của khí hậu đồng bằng sông Hồng: nhiệt đới
gió mùa, có mùa đông lạnh hơn nhiều so với điều kiện trung bình vĩ tuyến.
Nhiệt độ trung bình năm khoảng 23
0
C. Lượng mưa trung bình năm khoảng
1.800 mm đến 2.200 mm; thấp nhất là 1.300mm, cao nhất là 4.000mm.
- Điều kiện dân số: hiện nay, Kim Bảng có 2 thị trấn và 17 xã (trong đó
có 7 xã miền núi), huyện đóng tại thị trấn Quế. Dân số trên 135.000 người.
Mật độ dân số trung bình 696 người/km2, tỷ lệ phát triển dân số hàng năm
1,08%. Người trong độ tuổi lao động chủ yếu là trình độ phổ thông, lao động
chân tay, truyền nghề bằng kinh nghiệm trong từng gia đình, từng làng xóm,
từ đời này qua đời khác
1
.
Với vị trí địa lý, tự nhiên và nguồn tài nguyên khoáng sản dồi dào như
vậy, Kim Bảng rất có lợi thế để phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội…
và có điều kiện để chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá-
hiện đại hoá.
2.1. 2. Điều kiện kinh tế - xã hội.
Về kinh tế: Kim Bảng vốn là huyện một huyện bán sơn địa với địa hình
kiến tạo không bằng phẳng, độ cao chênh nhau ngay giữa chính từng cánh
đồng tạo thành nhiều khu ngập nước (vùng trũng - được gọi là vùng đồng
chiêm trũng). Trước đây, do công tác thủy lợi còn nhiều yếu kém nên mỗi
mùa mưa lớn, lũ sông Hồng rót vào sông Đáy, cộng với lũ rừng ngang đổ ra
làm đồng điền ngập lụt, khiến cho đồng ruộng ở nơi đây nằm sâu trong đất
bùn, dẫn đến những vùng đất này bị úng triền miên, màu đất thường đen hoặc
nâu nhạt, độ phì nhiêu kém, độ PH cao Chính vì vậy, vùng đất này được
mệnh danh là "sống ngâm da, chết ngâm xương".
Trong khi đó, từ thời xa xưa trở lại đây nguồn sống chính của người

dựng chùa Tam Chúc (Ba Sao) - chùa quý nhất Đông Nam Á, tạo thành quần
thể du lịch tâm linh tam giác (Chùa Bái Đính - chùa Ba Sao - Chùa Hương).
Các ngành nghề truyền thống về sản xuất tiểu thủ công nghiệp như:
Mây giang đan xuất khẩu, thêu ren, gốm son, bê tông thương phẩm đã được
khôi phục và phát triển.
Về an sinh xã hội: được quan tâm đầu tư đúng mức, từng bước phù
hợp với phát triển kinh tế. Huyện thường xuyên quan tâm và giải quyết việc
làm, xoá đói giảm nghèo, nâng cao thu nhập và đời sống nhân dân; mạng lưới
y tế từ huyện đến cơ sở tiếp tục được đầu tư nâng cấp, đội ngũ y bác sỹ được
chuẩn hoá đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân; giáo dục - đào tạo
phát triển cả về loại hình và qui mô, chất lượng giáo dục năm sau cao hơn
năm trước; việc ứng dụng tiến bộ khoa học vào sản xuất được thường xuyên
tổ chức thực hiện và đạt được nhiều kết quả tốt.
2.1.3. Về tình hình an ninh – quốc phòng: Tình hình an ninh chính
trị, an ninh nông thôn, an ninh tôn giáo luôn ổn định và được cấp uỷ từ huyện
đến cơ sở thường xuyên quan tâm. Cán bộ, nhân dân và lực lượng vũ trang
huyện Kim Bảng vinh dự được Nhà nước phong tặng danh hiệu cao quý: Anh
hùng lực lượng vũ trang nhân dân thời kỳ kháng chiến chống Pháp và chống
Mỹ, nhiều cơ quan ban ngành của huyện được tặng huân chương cao quý của
Đảng và Nhà nước. Huyện nhiều năm liên tục là đơn vị xuất sắc dẫn đầu
phong trào thi đua của khối huyện, thành phố trong tỉnh.
Tất cả những điều kiện nêu trên đã và đang có tác động mạnh mẽ đến
quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế huyện Kim Bảng theo hướng CNH -
HĐH giai đoạn 2010-2015
2.2. Thực trạng quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở huyện Kim
Bảng trong thời gian qua.
Dưới ánh sáng của Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần X, Nghị
quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Hà Nam lần thứ XVII, XVIII; Nghị quyết Đại hội
Đảng bộ huyện lần thứ XXIII, XXIV; Đảng bộ, quân và dân huyện Kim Bảng
đã phát huy truyền thống cách mạng của quê hương, chung sức đồng lòng

- Cơ cấu kinh tế năm 2010:
+ Công nghiệp, xây dựng: 42 % (mục tiêu 40,4%)
+ Nông - lâm - thuỷ sản: 29 % (mục tiêu 29,4%).
+ Dịch vụ: 29 % (mục tiêu 30,2%).
Qua bảng biểu diễn cơ cấu kinh tế của huyện năm (2008 - 2010), tỷ trọng
các ngành nông, lâm, Thuỷ sản có xu hướng giảm, công nghiệp, dịch vụ có xu
hướng tăng, song tốc độ vẫn còn chậm, cơ cấu kinh tế còn nặng về nông nghiệp
được khái quát qua năm 2010.
Năm 2010, huyện Kim Bảng đã đạt được kết quả như sau:
+ Nông, lâm, thủy sản tăng bình quân 4,1%/ năm (mục tiêu 4% trở lên).
+ CN - TTCN tăng bình quân 26,9%/ năm, (mục tiêu 24% trở lên).
+ Dịch vụ tăng bình quân 13%/ năm (mục tiêu tăng 8% trở lên).
- Tổng vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng bình quân đạt 74 tỷ đồng/năm,
tăng 196% (mục tiêu 25 tỷ đồng).
- Thu ngân sách vượt kế hoạch bình quân 24,4%/ năm (mục tiêu 5%).
+ Đời sống nhân dân được cải thiện và nâng cao. Thu nhập bình quân đầu
người đến năm 2010 vượt mục tiêu Đại hội.
+ Phần kinh tế huyện: 10,7 triệu đồng, vượt 50,7% (mục tiêu 7,1 triệu
đồng).
+ Tính cả địa bàn: 17,2 triệu đồng, vượt 31,3% (mục tiêu 13,1 triệu
đồng).
- Lương thực bình quân đầu người hàng năm 543 kg (mục tiêu 450 kg).
- Tập trung phát triển kinh tế gắn liền với giải quyết các vấn đề xã hội.
+ Tỷ lệ hộ nghèo đến năm 2010 giảm còn dưới 6% (mục tiêu dưới
10%).
+ Giải quyết việc làm cho 11.910 lao động (mục tiêu 10.000 lao động).
+ Tỷ lệ phát triển dân số tự nhiên đến năm 2010 đạt 0,93%, đạt mục tiêu
Đại hội (mục tiêu dưới 1%).
+ Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng giảm còn 18,5%, vượt mục
tiêu Đại hội (mục tiêu 19,5%).

vụ nông nghiệp được nâng lên, đảm nhiệm từ 6 - 8 khâu dịch vụ, tạo điều kiện
thúc đẩy sản xuất phát triển. Triển khai xây dựng thí điểm mô hình xây dựng
nông thôn mới tại xã Thi Sơn và thực hiện các tiêu chí xây dựng nông thôn
mới ở các xã, thị trấn.
Chỉ đạo quản lý, sử dụng có hiệu quả đất đai, tài nguyên khoáng sản;
cấp, đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đạt 98,17%KH
1
.
+ Về công nghiệp – Tiểu thủ công nghiệp (CN - TTCN)
Sản xuất CN – TTCN đạt tốc độ tăng trưởng cao ở cả 04 khu vực. Các
cụm CN – TTCN đã cơ bản hoàn chỉnh hạ tầng cơ sở để thu hút đầu tư. Các
làng nghề, làng có nghề từng bước ổn định sản xuất và nâng cao chất lượng
sản phẩm. Tiềm năng khai thác, chế biến đá, sản xuất vật liệu xây dựng được
phát huy, năm 2010 giá trị sản xuất vật liệu xây dựng và giá trị sản xuất tại
các cụm CN - TTCN chiếm 82,77% trong tổng giá trị sản xuất CN –TTCN;
ngành nghề TTCN nông thôn được phát triển. Bình quân 05 năm giá trị sản
xuất CN – TTCN (không tính công nghiệp TW) tăng 26,9% (vượt 2,69% so
chỉ tiêu Đại hội), đến hết năm 2010 đạt 766,820 tỷ đồng, tăng 11,66% so với
mục tiêu Đại hội.
Thu hút thêm 33 nhà đầu tư vào sản xuất kinh doanh tại 4 cụm CN –
TTCN, nhiều doanh nghiệp đầu tư lớn, giá trị sản xuất cao như: Công ty Fecon,
công ty May Hoà Bình, Tổ chức mở 188 lớp học nghề cho trên 6.000 lượt lao
động. Tổng số lao động sản xuất CN - TTCN toàn huyện đến năm 2010 đạt
30.000 người, trong đó: lao động chuyên 13.200 người góp phần chuyển dịch
cơ cấu lao động sang sản xuất phi nông nghiệp (năm 2010 đạt 49,7%). Chỉ đạo
xây dựng quỹ khuyến công các cấp góp phần đạt nhanh các tiêu chí làng nghề,
1 Nguồn: Huyện uỷ Kim Bảng 2010 “Báo cáo của BCH Đảng bộ huyện khoá 23 trình Đại hội huyện lần thứ 24
” Trang 2
làng có nghề, được tỉnh công nhận 03 làng nghề (Quyết Thành, Nhật Tân, Lạc
Nhuế), 31 làng có nghề và đang đề nghị duyệt làng nghề Phương Thượng; công

Hệ thống giao thông được đầu tư, nâng cấp và đưa vào sử dụng hiệu
quả: đường tỉnh 7,7km (ĐT 498B, ĐT 9031); đường huyện 17,4km (Nguyễn
Uý –Kim Bình, Đại Cương – Nhật Tân); đường liên xã 4,2km (Tân Sơn – Lê
Hồ) và đường giao thông nông thôn 65,97km (chưa kể đầu tư của Trung
ương, của tỉnh cho các đường quốc lộ, tỉnh lộ. Cải tạo, nâng cấp xong sân vận
động, bến xe khách, xây dựng trụ sở làm việc Mặt trận Tổ quốc và các đoàn
2 Nguồn:
Huyện uỷ Kim Bảng 2010 “Báo cáo của BCH Đảng bộ huyện khoá 23 trình Đại hội huyện lần thứ 24 ” Trang 3
thể, phòng Tài chính – Kế hoạch, hạ tầng kỹ thuật khu tái định cư Tam
Chúc, Các công trình phục vụ sự nghiệp văn hoá – xã hội được quan tâm
đầu tư: xây dựng mới 6 trạm y tế; cải tạo, nâng cấp Bệnh viện đa khoa huyện;
kiên cố hóa 406 phòng học, 9 nghĩa trang liệt sỹ, 05 nhà văn hoá xã, 99 nhà
văn hóa thôn, xóm, Từng bước bàn giao lưới điện nông thôn cho ngành điện
quản lý.
Thực hiện tốt công tác giải phóng mặt bằng, đã giao 618,27ha đất thực
hiện các dự án. Hoàn thành quy hoạch thị trấn Tượng Lĩnh, Nhật Tân; quy
hoạch phát triển thị trấn, thị tứ; các điểm xây dựng nông thôn mới; chỉnh
trang 81 điểm khu dân cư, 30 điểm khu dân cư mới với tổng diện tích 158,94
ha
3
.
+ Phát triển thương mại, dịch vụ, du lịch, tài chính, ngân hàng
Hệ thống thương mại, dịch vụ phát triển phù hợp với quy hoạch thị
trấn, thị tứ, các điểm xây dựng nông thôn mới. Cải tạo, nâng cấp 15 chợ hiện
có, xây dựng mới 02 chợ (Tân Sơn và Hoàng Tây); các chợ còn lại cơ bản
được chỉnh trang; xây dựng 17 cửa hàng kinh doanh xăng dầu. Quản lý thị
trường được chú trọng. Du lịch sinh thái, du lịch tâm linh bước đầu được
hình thành như khu du lịch Tam Chúc, Ngũ động sơn, Chùa Bà Đanh. Giá trị
sản xuất ngành dịch vụ tăng bình quân hàng năm là 13%, đến năm 2010 tổng
mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ đạt 836 tỷ đồng, giá trị hàng xuất

giáo đạt 98,8%, đến nhà trẻ đạt 43,3%, học sinh lớp 5 được công nhận hoàn
thành chương trình tiểu học 100%, học sinh lớp 9 được công nhận tốt nghiệp
THCS đạt 98,26%, học sinh tốt nghiệp THPT đạt 78,3%. Có 937 phòng học,
trong đó 90,3% được kiên cố hóa. Năm 2010 có 39/64 trường đạt chuẩn
Quốc gia, chiếm 60,9% (Mầm non 9/20; Tiểu học: 24/25 trường; THCS:
6/19 trường). Tỷ lệ giáo viên đạt trên chuẩn: Mầm non (26%), Tiểu học
(79,8%), THCS (19%) [7, tr. 4-5]. Tiếp tục củng cố các loại hình giáo dục
mầm non, duy trì và giữ vững số trường lớp các ngành học, bậc học, cấp
học. Giáo dục mầm non thực hiện tốt huy động tối đa số trẻ trong độ tuổi đi
học đến trường. Số học sinh tiểu học, THCS được duy trì. Giữ vững, nâng
cao chất lượng các tiêu chuẩn PCGD. Toàn huyện có 19/19 xã, thị trấn đạt
tiêu chuẩn PCGD.
Chất lượng giáo dục toàn diện được nâng cao qua việc thực hiện
chương trình giáo dục mầm non mới; chương trình giáo dục phổ thông tiếp
tục đánh giá sâu và điều chỉnh ở một số môn học; thực hiện tích hợp một số
nội dung trong giảng dạy; hướng dẫn dạy học dựa trên chuẩn kiến thức, kỹ
năng; chú trọng phụ đạo cho học sinh yếu kém, bồi dưỡng học sinh khá giỏi.
Chất lượng giáo dục ngày càng ổn định và nâng cao. Việc ứng dụng công
nghệ thông tin tiếp tục có những chuyển biến tốt.
- Khoa học – Công nghệ và Môi trường: Tiếp nhận chuyển giao các
tiến bộ khoa học kỹ thuật cho 16.770 lượt người, đã áp dụng nhiều mô hình
mới (lúa chất lượng, cây xuất khẩu, máy gặt đập liên hoàn ).
Chỉ đạo phát triển kinh tế - xã hội gắn với làm tốt công tác bảo vệ môi
trường. Các nhà đầu tư sản xuất kinh doanh, làng nghề, làng có nghề đã thực
hiện các biện pháp bảo vệ môi trường; phát động phong trào thu gom bao, bì
thuốc bảo vệ thực vật, rác thải. Quy hoạch 4,26 ha đất xây dựng điểm thu
gom rác thải; các đội vệ sinh chuyên ở 191/199 thôn, xóm đã duy trì nền
nếp. Cải tạo, xây dựng mới 28.000m rãnh thoát nước thải ở thôn, xóm.
+ Về sự nghiệp y tế - dân số, gia đình và trẻ em
Nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân, tập trung đầu tư cơ sở


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status