I/ lời mở đầu
Trong quá trình đổi mới nền kinh tế nớc ta, vấn đề giữ vững định hớng xã
hội chủ nghĩa đợc đặt ra nh một nguyên tắc, một vấn đề chiến lợc. Bởi
vì có quá độ lên chủ nghĩa xã hội đợc hay không, điều đó trớc hết phụ
thuộc vào công cuộc xây dựng nền kinh tế có giữ vững đợc định hớng
xã hôị chủ nghĩa hay không. Định hớng đó đòi hỏi phải giải quyết
đúng đắn mối quan hệ giữa phát triển lực lợng sản xuất và xây dựng
quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa bao gồm cả quan hệ sở hữu, quan
hệ phân phối và vấn đề quản lý nền kinh tế. Giải quyết đúng đắn mối
quan hệ đó sẽ đảm bảo cho nền kinh tế không bị tụt hậu trong thời đại
văn minh tin học, tạo ra đợc tiền đề kinh tế kỹ thuật cho sự quá độ,
đồng thời không đi chệch hớng xã hội chủ nghĩa. Muốn quá độ đợc tr-
ớc hết phải có lực lợng sản xuất phát triển. Đất nớc ta có thể quá độ
lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ t bản chủ nghĩa, nhng không thể
bỏ qua những tiền đề kinh tế xã hội cần thiết cho sự quá độ đó. Cái
thiếu của đất nớc ta là một lực lợng sản xuất phát triển. Quan hệ sản
xuất xã hội chủ nghĩa không thể thiết lập tràn lan trên một lực lợng
sản xuất quá thấp kém. Trớc đây, có lúc chúng ta nhận thức ấu trĩ rằng
dờng nh có quan hệ sản xuất tiên tiến là đã có chủ nghĩa xã hội; có sở
hữu xã hội chủ nghĩa thì lực lợng sản xuất sẽ tự động phát triển, năng
xuất lao động sẽ tăng nhanh; từ đó đã dẫn đến những sai lầm đáng
tiếc.ở một nớc tiểu nông nh nớc ta, chủ nghĩa t bản cha phát triển nên
cha có mâu thuẫn kinh tế cơ bản giữa trình độ xã hội hoá cao của lực
lợng sản xuất với sự chiếm hữu t nhân t bản chủ nghĩa; chế độ t hữu
vẫn còn tác dụng, thậm chí còn tác dụng hết sức to lớn đối với sự tăng
trởng của nền kinh tế quốc dân. Hơn nữa sự ra đời của chủ nghĩa xã
hội không phải từ miếng đất trống không mà từ nền sản xuất do xã hội
cũ để lại; vì vậy xây dựng xã hội mới không phải là phủ định toàn bộ
cái cũ, mà phải biết vừa xây dựng cái mới, vừa sử dụng cái cũ để thúc
đẩy chế độ kinh tế mới ra đời. Do vậy con đờng cần thiết cho sự quá
dụng, có tính chất tự cung tự cấp. Trong chế độ phong kiến, bên cạnh sở
hữu phong kiến còn có sở hữu cá thể nhỏ của nông dân và thợ thủ công về
công cụ lao đông, nhà cửa , giống và những tàI sản phụ khác. những hình
thức sở hữu đó là hinh thức tồn tạI của những tiểu nông và thợ thủ công độc
lập. Sản xuất nhỏ gồm hai dạng: sản xuất nhỏ mang tính tự cung, tự cấp và
sản xuất nhỏ dới hình tháI sản xuất hàng hoá giản đơn. hai hình tháI đó có
thể hiện hai trình độ phát triển khác nhau của trình độ sản xuất xã hội. Sản
xuất nhỏ chỉ đạt tới hình tháI điển hình khi ngời lao động là ngời chủ tự do
của những t liệu sản xuất do chính họ sử dụng. Những đặc điểm chủ yếu
của sản suất nhỏ là:
Ngời sản xuất làm chủ t liệu sản xuất mà họ sử dụng(t liệu sản xuất này
thuộc quyền sở hữu riêng của họ hoặc do họ đI thuê) và chiếm hữu những
kết quả lao động của mình. Quy mô sở hữu thờng không vợt quá khả năng
đáp ứng nhu cầu đáp ứng của bản thân ngời lao động và gia đình họ. Ngời
lao động trực tiếp kết hợp sức lao động của mình với t liệu lao động thô sơ,
nhỏ bé thích hợp với lao động cá thể, bởi vậy hiệp tác và phân công lao
động kém phát triển. Kỹ thuật sản xuất lạc hậu, dựa trên lao động thủ công
và kinh nghiệm cổ truyền, thậm chí cảI tiến nên năng suất lao động thấp,
sản phẩm thặng d ít, táI sản suất giản đơn là chính. Quy mô sản xuất nhỏ, t
liệu sản xuất phân tán,manh mún, quản lý sản xuất là việc của riêng cá
nhân và gia đình. Sản xuất chủ yếu hớng vào giá trị sử dụng, tỷ suất hàng
hoá thấp, lu thông hàng hoá cha phát triển, thị trờng nhỏ hẹp, mang tính
chất địa phơng. Nông nghiệp là nền sản xuất chính, tuyệt đạI bộ phận lao
động tập trung vào nông nghiệp, phần lớn dân c sinh sống ở nông thôn, cơ
cấu kinh tế rời rạc. Bớc đi tất yếu của sản xuất tự cung t cấp là tiến lên sản
xuất hàng hoá giản đơn. điều kiện cho quá trình chuyển hoá này là sự phát
triển của phân công lao động xã hội. Phân công lao động xã hội là cơ sơ
của kinh tế hàng hoá. Xu hớng phát triển của phân công lao động xã hội là
biến việc sản xuất không những từng sản phẩm riêng biệt, mà việc sản
xuất từng bộ phận của sản phẩm thành những ngành sản xuất riêng biệt.
có đặc điểm cơ bản khác với nền kinh tế hàng hoá giản đơn. ở đây ngời sản
xuất trực tiếp là những ngời công nhân làm thuê, không phải là những ngời
sở hữu t liệu sản xuất, còn t liệu sản xuất thụôc nhà t bản, sản phẩm lao
động do những ngời công nhân làm ra thuôc về chủ sở hữu t liệu sản xuất.
Sản xuất t bản chủ nghĩa ra đời khi có haiđiều kiện sau đây: phải có s tập
trung một số tiền lớn vào trong tay một số ít ngời đủ để lập ra các xí
nghiệp. Và các ông chủ xí nghiệp phải tìm đợc ngời lao động làm thuê. đó
là những ngời tự do sở hữu năng lực lao động của mình, có thể bán sức lao
động cho ngời cần mua trong quan hệ bình đẳng với nhau về mặt pháp lý.
Khi bán sức lao động vẫn sở hữu sức lao động của mình. đó là điều khác
nhau với ngời nô lệ trớc đây. hơn nữa họ buộc phải bán sức lao động để
kiếm sống, vì không còn t liệu sản xuất để trực tiếp kết hợp với sức lao
động của mình. t bản chỉ phát sinh ở nơi nào mà ngời chủ những t liêu sản
xuất và t liêu sinh hoạt tìm thấy ngời lao động tự do vơí t cách là ngời bán
sức lao động của mình ở trên thị trờng và chỉ điều kiện lịch sử ấy cũng hàm
cả một lịch sử thế giới. Vì ngay lúc xuất hiện, t bản đã báo hiệu một thời
đại đặc biệt của quá trình sản xuất xã hội. Hai điều kiện ra đời của phơng
thức sản xuất t bản chủ nghĩa đó đã xuất hiện do sự phát triển sản xuất
hàng hoá giản đơn dới tác động của qui luật giá trị. Trong nền kinh tế sản
xuất hàng hoá giản đơn, tác động của qui luật giá trị dẫn tới sự phát triển tự
phát cuả lực lợng sản xuất. Vì hàng hoá đơc mua bán theo giá trị xã hội của
nó, cho nên ngời sản xuất phảI cố gắng làm cho hao phí lao động của mình
đạt mức lao động xã hội cần thiết. Những ngời sản xuất hàng hoá sử dụng
kỹ thuật cao hơn thì sẽ sản xuất hàng hoá với lao động ít hơn hao phí lao
động xã hội cần thiết, nhng vẫn bán với giá cả nh ngời sản xuất hàng hoá
khác, do đó họ làm giàu nhanh. Do tác động tự phát qui luật giá trị, do sự
biến động của giá cả canh tranh đã làm phân hoá những ngời sản xuất hàng
hoá và trong giai đoạn phát triển lịch sử nhất định làm nảy sinh chủ t bản.
kinh tế hàng hoá giản đơn đẻ ra chủ nghĩa t bản. tuy nhiên nếu chỉ tác động
của qui luật giá trị thì cần có lịch sử lâu dài mới có thể tạo ra những điều
sinh hoạt đó trở thành hàng hoá. Vậy là đi đôi với việc tớc đoạt những ngời
nông dân độc lập trứơc đây và viêc tách họ ra khỏi t liệu sản xuất cũng diễn
ra thủ tiêu nghề phụ gia đình ở nông thôn và sự tách rời công trờng thủ
công với nghề nông. Và chỉ có sự thủ tiêu nghề phụ gia đình ở nông thôn
mới làm cho thị trờng bên trong của một nớc có đợc qui mô và sự ổn định
cần thiết cho phơng thức sản xuất t bản chủ nghĩa. Tích luỹ ban đầu còn đ-
ợc khai thác bằng những mỏ vàng, bạc mới đợc phát hiện ở châu mỹ,dựa
vào việc sử dụng nô lệ bản xứ; bằng việc buôn bán nô lệ ở châu phi; bằng
việc trinh phục và cớp bóc thuộc địa bằng thực hiện chính sách thực dân
thực hiện thơng mại bất bình đẳng, mua rẻ bán đắt; bằng phát hành công
tráI, v v nhận xét về tích luỹ ban đầu C.Mác viết:việc tìm thấy các mỏ
vàng,bạc ở châu mỹ, việc tuyệt diệt ngời bản xứ, bắt họ làm nô lệ và chôn
vùi họ trong các hầm mỏ, việc bắt đầu đi chinh phục và cớp bóc miền đông
ấn, việc biến châu phi thành khu cấm để săn bắt buôn bán ngời da đen- đó
là bình minh của thời đại sản xuất t bản chủ nghĩa. Những quá trình thơ
mộng ấy là những yếu tố chủ yếu tích luỹ ban đầu tất cả các phơng
pháp đó đều lợi dụng quyền lực nhà nớc, tức là quyền lực xã hội tập trung
và có tổ chức, để đẩy nhanh quá trình chuyển hoá của phơng thức sản xuất
phong kiến thành phơng thức sản xuất t bản chủ nghĩa, và rút ngắn giai
đoan quá độ của quá trình đó lại. Bạo lực là bà đỡ của một chế độ xãhội cũ
đang thai nghén một chế độ mới. Bản thân bạo lực là một tiềm lực kinh tế
b/ Đặc trng của kinh tế thị trờng
Trên thế giới có nhiều quốc gia phát triển nền kinh tế của mình theo mô
hình nền kinh tế thị trờng. Chẳng hạn nh mô hình nền kinh tế thị trờng xã
hội chủ nghĩa của cộng hoà liên bang đức, kinh tế thị trờng của thuỵ điển,
kinh tế thị trờng mang màu sắc trung quốc .v v. nếu gác lại những đặc
điểm riêng cá biệt của những mô hình kể trên, chỉ tính đến những đặc trng
4
chung nhất, vốn có của nền kinh tế thị trờng, có thể nêu nên những đặc
đIểm mang tính phổ biến nh sau:
giữa ngời mua và ngời bán hình thành nên giá cả thị trờng, lợi thế sẽ
nghiêng về phía ngời bán nếu nh cung ít cầu nhiều và ngợc lại lợi thế sẽ
nghiêng về phía ngời mua nếu nh cung nhiều cầu ít.
Bốn là cạnh tranh là một yêu cầu tất yếu của kinh tế thị trờng. Nó tồn tạI
trên cơ sở những đơn vị sản xuất hàng hoá độc lập và khác nhau về lợi ích
kinh tế. Theo yêu cầu của qui luật giá trị, tất cả đơn vị sản xuất hàng hoá
đều phải sản xuất và kinh doanh trên cơ sở hao phí lao động xã hội cần
thiết. Trong đIều kiện đó muốn có nhiều lợi nhuận các đơn vị sản xuất và
kinh doanh phải đua nhau cải tiến kỹ thuật, áp dụng kỹ thuật mới vào sản
xuất để nâng cao năng xuất lao động cá biệt, giảm hao phí lao động cá biệt
nhằm thu lợi nhuận siêu ngạch. Trong nền kinh tế thị trờng cạnh tranh diễn
ra một cách phổ biến trong cả lĩnh vực sản xuất lẫn cả lĩnh vực lu thông.
Cạnh tranh trong lĩnh vực sản xuất bao gồm:canh tranh nội bộ nghành và
giữa các ngành với nhau. Cạnh tranh trong lĩnh vực lu thông bao gồm: cạnh
tranh giữa những ngời tham gia trao đổi hàng hoá và dịch vụ trên thị tr-
ờng(ngời bán với những ngời bán, ngời mua với những ngời mua). Hình
thức, biện pháp rất phong phú nhng động lực và mục đích cuối cùng là lợi
nhuận.
Năm là kinh tế thị trờng là nền kinh tế mở. Nó rất đa dạng, phức tạp và đợc
điều hành bởi hệ thống tiền tệ , hệ thống pháp luật của nhà nớc.
Mỗi đặc trng trên phản ánh một khía cạnh mô hình kinh tế thị trờng, tổng
hợp cả năm đặc điểm trên giúp ta hình dung đợc khái quát cấu trúc của nó.
5
C/ Các hình thức của kinh tế thị trờng
Kinh tế thị trờng t bản chủ nghĩa trải qua các giai đoạn: giai đoạn cạnh
tranh tự do kéo dài mãi đến cuối thế kỷ XI X . trong giai đoạn này hầu nh
nhà nớc không có vai trò gì, tất cả mọi vấn đề, giá cả ,qui mô, điều tiết sản
xuất, khả năng thanh toán của ngời mua đều do thị trờng quyết định. Giá
cả là tín hiệu khách quan thông báo cho ngời sản xuất biết sử lý khôn khéo
ba vấn đề : sản xuất cái gì , sản xuất bằng cách nào, sản xuất cho ai. Cạnh
bán những t liệu sinh hoạt nh lơng thực thực phẩm, vải vóc quần áo và các
t liệu sinh hoạt khác trong gia đình v.v những hàng hoá tiêu dùng ngày
càng nhiều theo đà phát triển của kinh tế hàng hoá. NgoàI những hàng hoá
hữu hình, còn có những hàng hoá vô hình đợc coi là dịch vụ nh sửa chữa,
may vá cắt tóc.v.v hoạt động dịch vụ ngày càng phát triển và đem lại
những thu nhập ngày càng lớn.Nhìn chung, ở thị trờng hàng hoá và dịch vụ
ngời ta mua bán những sản phẩm là kết quả của sản xuất, nên thị trờng này
đợc gọi tắt là thị trờng đầu ra.
Hai là thị trờng các yếu tố sản xuất. Trên thị trờng này ngời ta mua , bán
các yếu tố cần thiết cho quá trình sản xuất: nh các nguyên vật liệu thiết bị
máy móc, sức lao động.v v thị trờng này đợc gọi là thị trờng đầu vào.
Sự phân chia thị trờng thành hai loạI nh trên là dựa trên cơ sở chủng loại
hàng hoá đa ra trao đổi trên thị trờng,dựa vào sự phát triển phạm trù hàng
hoá. Hàng hoá mở rộng ra đến đâu thì thị trờng cũng mở rộng ra tới đó.
Ngày nay thị trờng hàng hoá đợc phát triển rộng rãi nó bao hàm các yếu tố
đầu vào của sản xuất cũng nh các sản phẩm do sản xuất tạo ra. Khi những
t liệu tiêu dùng và dịch vụ là hàng hoá và xuất hiện cung, cầu về những
6
hàng hoá này thì xuất hiện trên thị trờng hàng tiêu dùng và dịch vụ. trong
lịch sử loạI thị trờng này xuất hiện rất sớm. Khi các yếu tố sản xuất(t liệu
sản xuất và sức lao động) trở thành hàng hoá và khi có cung, cầu về các
yếu tố này thì thị trờng các yếu tố sản xuất ra đời. LoạI thị trờng này thờng
xuất hiện sau thị trờng hàng tiêu dùng và dịch vụ.
Thị trờng thờng có chức năng chủ yếu sau:
Thực hiện giá trị hàng hoá. Trong chức năng này, thị trờng là nơI giá trị
hàng hoá đợc thực hiện hoặc không đợc thực hiện; có thể thực hiện cao,
bằng và thấp hơn giá trị hàng hoá trong sản xuất. Chức năng này gắn với
mục đích của sản xuất và khách hàng giữ vai trò quyết định đối với sản
xuất .
Thông tin cho ngời sản xuất và ngời tiêu dùng, nhất là ngời sản xuất và
lao động xã hộị
E/ Cơ chế thị trờng và các qui luật kinh tế
hiện nay có rất nhiều kháI niệm khác nhau về cơ chế thị trờng
cơ chế thị trờng là tổng thể các nhân tố, quan hệ, môI trờng, động lực và
quy luật chi phối sự vận động của thị trờng.
Cơ chế thị trờng là thiết chế kinh tế chi phối ý chí và hành động của ngời
sản xuất và ngời tiêu dùng, ngời bán và ngời mua thông qua cơ chế thị tr-
ờng và giá cả.
Cơ chế thị trờng là một hình thức tổ chức kinh tế trong đó cá nhân ngời tiêu
dùng và các doanh nghiệp tác động qua lạI lẫn nhau trên thị trờng để xác
định vấn đề trung tâm của tổ chức kinh tế là sản xuất cáI gì? nh thế nào? và
cho ai?
7
Tuy nhiên nên tiếp cận với kháI niệm cho rằng cơ chế thị trơng là bộ
máykinh tế đIều tiết toàn bộ sự vận động của cơ chế thị trờng, đIều tiết quá
trình sản xuất và lu thông hàng hoá thông qua sự tác động của các quy luật
kinh tế khách quan .
Quy luật giá trị, cạnh tranh và cung cầu
Trong nền kinh tế hàng hoá, hàng hoá và dịch vụ do nhiều chủ thể sản xuất
ra. Những chủ thể này cạnh tranh với nhau, tìm cáchgiữ vững và mở rộng
thêm vị thế của mình trên thị trờng. Mỗi ngời sản xuất đêu độc lập, tự
quyết định các hoạt động sản xuất-kinh doanh của mình. Nhng trong thực
tế những quết định của ngời sản xuất-kinh doanh chịu sự chi phối của thị
trờng. Sản xuất hàng hoá càng phát triển thì quyền lực của thị trờng đối với
ngời sản xuất hàng hoá ngày càng mạnh mẽ. Quyền lực này tồn tạI nh một
lực lợng khách quan chi phối họat động và độc lập với ý chí của ngời sản
xuất ;lực lợng khách quan đó chi phối những quy luật kinh tế của sản xuất
hàng hoá, mà trớc hết là quy luật giá trị.
Quy luật giá trị
Nội dung
này. Nh vậy t liệu sản xuất và sức lao động đợc chuyển vào ngành này
nhiều hơn những ngàng khác khi cung lớn hơn cầu sản phẩm làm ra quá
nhiều so với nhu cầu xã hội giá cả thấp hơn giá trị, hàng hoá bán không
chạy, có thể lỗ vốn. Tình hình đó buộc ngời sản xuất ở ngành này thu hẹp
qui mô sản xuất hay chuyển sang ngành khác, làm cho t liệu sản xuất và
sức lao động giảm đi ở ngành này và tăng ở ngành khác mà họ thấy có lợi
hơn. Qui luật giá trị không chỉ điều tiết lĩnh vực sản xuất mà còn điều tiết
8
cả lĩnh vực lu thông qua sự biến động của giá cả. Hàng hoá đợc mang từ
nơi giá cả thấp đến nơi giá cả cao, từ nơi cung lớn hơn cầu đến nơi cung
nhỏ hơn cầu. Nh vậy thông qua sự biến động của giá cả trên thị trờng ,qui
luật giá trị có tác dụng phân phối lại hay điều tiết luồng hàng trên thị trờng.
Thứ hai kích thích cải tiến kĩ thuật, hợp lý hoá sản xuất nhằm tăng năng
xuất lao động. Các hàng hoá đợc sản xuất ra trong những điều kiện khác
nhau nên có giá trị cá biệt khác nhau, nhng trên thị trừng thì các hàng hoá
đều đợc trao đổi theo giá trị xã hội. Ngời sản xuất có giá trị cá biệt nhỏ hơn
giá trị xã hội ở thế có lợi sẽ thu đợc lợi nhuận siêu ngạch; ngời sản xuất có
giá trị cá biệt lớn hơn giá trị xã hội thì bất lợi. Muốn đứng vững trong cạnh
tranh và khỏi bị phá sản họ phải tìm cách làm cho giá trị cá biệt hàng hoá
của mình nhỏ hơn hoặc bằng giá trị xã hội do đó họ tìm cách cải tiến quản
lý, cải tiến kĩ thuật, tăng năng xuất lao động. Lúc đầu việc cải tiến đó còn
lẻ tẻ nhng do canh tranh với nhau nên cuối cùng việc cải tiến mang tính xã
hội. Rõ ràng qui luật giá trị thông qua tác động này đã thúc đẩy lực lợng
sản xuất phát triển.
Thứ ba thực hiện sự lựa chọn tự nhiên và phân hoá giàu nghèo giữa những
ngời sản xuất hàng hoá. Trong quá trình cạnh tranh chạy theo lợi ích các
nhân những ngời sản xuất hàng hoá có điều kiện sản xuát khác nhau, tính
năng động khau,b khả năng nắm bắt nhu cầu thị trờng khác nhau, khả năng
đổi mới kĩ thuật công nghệ, hợp lý hoá sản xuát khác nhau, do đó giá trị cá
biệt của hàng hoá khác nhau, phù hợp với nhu cầu xã hội và thị trờng khác
luật, vừa làm đồi bại các quan hệ xã hội. Cạnh tranh chạy theo lợi nhuận và
lợi ích riêng làm các nguồn tài nguyên bị khai thác cạn kiệt, môi trờng sinh
9
thái bị ô nhiễm, nền kinh tế luôn ở trạnh thái bất ổn định vì khủng hoảng
thất nghiệp, lạm phát làm tăng phân hoá giàu nghèo
Quy luật cung cầu
Hoạt động của quy luật giá trị không chỉ đợc biểu hiện qua sự vận động
của giá cả trên thị trờng do tác động của cạnh tranh, mà còn biểu hiện
thông qua quan hệ cung cầu.
Cầu là khối lợng hàng hoá và dịch vụ mà ngời tiêu dùng mua trong một
thời kỳ tơng ứng với giá cả, thu nhập và các biến số kinh tế xác định. Ngời
tiêu dùng ở đây bao gồm dân c các doanh nghiệp nhà nớc và cả doanh
nghiệp nớc ngoài. Tiêu dùng báo gồm cả tiêu dùng sản xuất và tiêu dùng cá
nhân. lợng cầu phụ thuộc vào nhiều nhân tốchủ yếu nh: thu nhập sức mua
của tiền tệ, giá cả , lãi xuất trong các nhân tố đó giá cả hàng hoá là nhân
tố tác động trực tiếp và tỷ lệ nghịch với lợng cầu. Giá cả hàng hoá cao thì
cầu về hàng hoá đó thấp, ngợc lại giá cả hàng hoá thấp lợng cầu hàng hoá
đó sẽ cao.
Cung là khối lợng hàng hoá , dịch vụ mà các chủ thể kinh tế đem bán ra
trên thị trờng trong một thời kỳ nhất định, tơng ứng với mức giá cả, khả
năng sản xuất, chi phí sản xuất xác định. Lợng cung phụ thuộc vào khả
năng sản xuất vào sản lợng, chất lợng các nguồn lực, các yếu tố sản xuất đ-
ợc sử dụng, năng suất lao động và các chi phí sản xuất.
f/ Những u thế và khuyết tật của cơ chế thị trờng
Cơ chế thị trờng có những u thế sau đây:
Trớc hết cơ chế thị trờng kích thích việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật,
tăng năng suất lao động, nâng cao trình độ xã hội hoá sản xuất. Kinh tế thị
trờng lấy lợi nhuận siêu ngạch làm mục tiêu hoạt động. động lực này đòi
hỏi các doanh nghiệp thờng xuyên hạ thấp chi phí lao động cá biệt xuống
thấp hơn chi phí lao động xã hội cần thiết.đièu này đòi hỏi phải nâng cao
thị trờng là gây ô nhiễm môi trờng sinh thái, tàn phá đất đai, rừng do
chạy theo lợi nhận.Vì vậy xã hội cần có sự kiểm tra , điều tiết, định hớng
một cách có ý thức đối với sự vận động của cơ chế thị trờng. đó là những lý
do cần thiết phải thiết lập vai trò quản lý nhà nớc ở tất cả các nớc có nền
kinh tế thị trờng.
2/ sự phát triển của lê nin : kinh tế thị tr ờng trong CNXH
A/Hoàn cảnh ra đời của NEP
không bao lâu sau cách mạng tháng mời việc thực hiện kế họach xây dựng
CNXH của lê nin bị dán đoạn bởi cuộc nội chiến 1918-1920. Trong thời kỳ
này lê nin đã thực hiện chính sách cộng sản thời chiến. Nội dung cơ bản
của chính sách cộng sản thời chiến là trng thu lơng thực thừa của nông dân
sau khi dành cho họ mức ăn tối thiểu. đồng thời xoá bỏquan hệ tiền tệ xoá
bỏ việc mua bán lơng thực tự do trên thị trờng, thực hiện chế độ cung cấp
hiện vật cho quân đội và bộ máy nhà nớc. Chính sách cộng sản thời chiến
đã đóng vai trò quan trọng trong thắng lợi của nhà nớc xô viết. Nhờ đó mà
quân đội đủ sức để chiến thắng kẻ thù, bảo vệ đợc nhà nớc xô viết. Tuy
nhiên khi hoà bình lặp lại, chính sách cộng sản thời chiến không còn thích
hợp. Nó trở thành nhân tố kìm hãm sự phát triển của sản xuất. Việc xoá bỏ
quan hệ hàng hoá tiền tệ làm mất tính năng động của nền kinh tế vốn dĩ
mới bắt đầu vào giai đoạn phát triển. Vì vậy khủng hoảng kinh tế chính trị
diễn ra rất sâu sắc. điều dó dòi hỏi phải có chính sách kinh tế thích ứng
thay thế. Chính sách kinh tế mới của lê nin đợc đề xớng để đáp ứng yêu
cầu này, nhằn tiếp tục xây dựng chủ nghĩa xã hội trong thời kỳ mới.
B/ Nội dung của NEP
Nội dung của NEP là một hệ thống gồm nhiều mắt khâuliên hoàn có mối
liên hệ bên trong nh một dây truyền không thể thiếu khâu nào. tất cả các
khâu tạo thành cơ chế kinh tế cho phép nhà nớc tháo gỡ khó khăn, điều
hành sự vận động của kinh tế xã hội
-khâu thứ nhất: thuế lơng thực
có thể coi đâylà khâu đầu, là bớc quá độ từ trạng thái hỗn loạn sang cơ chế
nộp, trng thu dựa trên mệnh lệnh trong thời kỳ thực hiện chính sách cộng
sản thời chiến, cơ chế ; cơ chế kinh tế hàng hoá cho phép đạt đợc những
mục tiêu sau : đáp ứng nhu cầu nhièu mặt của sản xuất , tiêu dùng nông
dân và xã hội. Thông qua trao đổi hàng hoá thúc đẩy quá trình phân công
lao động trong nông nghiệp. Khuyến khích sản xuất nông nghiệp vừa đi
vào sản xuất chuyên canh , vừa phát triển kinh doanh tổng hợp, nhờ đó các
lực lựợng sản xuất trong nông nghiệp dợc khôi phục và phát triển. đó là con
đờng để nhà nớc để nhà nớc giải quyết vấn đề lơng thự một cách vững
chắc. sản xuất lơng thực ngày mang tính chất hàng hoá thì nông dân có lợi
hơn nên vừa mở rộng diện tichs canh tác vùa thâm canh vì đầu t thêm vốn
và lao động. Kết quả là tổng số lơng thực cửa xã hội tăng lên, khối lợng l-
ơng thực vào tay nhà nớc qua con đờng trao đổi và thu thuế cũng ngày
tăng. Khôi phục và phát triển kinh tế hàng hoá trongnông nghiệp làm sống
động lại các ngành kinh tế và toàn bộ sinh hoạt của xã hội ở thành thị,
nông thôn .
Nh vậy quan điểm của lê nin bắt nguồn từ nông dân đợc cụ thể hoá
trong hai chính sách liên hệ, gắn bó không thể tách rời nhaulà thuế lơng
thực và trao đổi hàng hoá. Vì vậy nhiệm vụ của ngời làm công tác lơng
thực trrở thành phức tạp hơn. một mặt đó là nhiệm vụ của thuế vụ. thu thuế
nhanh chừng nào hợp lý từng nào hay chừng ấy. Mặt khác đó là nhiệm vụ
kinh tế chung. Cần cố gắng hớng dẫn hợp tác xã, giúp đỡ tiểu công nghiệp,
phát huy tinh thần chủ đạo và tính sáng tạo ở cơ sở để tăng cờng và củng cố
sự trao đổi giữa nông nghiệp và công nghiệp. Xuất phát từ ý nghĩa kinh tế
trao đổi hàng hoá, lê nin đã nêu rõ sự so sánh sau đây: từ trớc tới nay ngời
làm công tác lơng thực chỉ biết có một chỉ thị chủ yếu thu đủ 100% mức l-
ơng thực trng thu. Ngày nay chỉ thị đã khác: thu đủ 100% thuế lơng thực
trong thời gian ngắn nhất, rồi thu đủ 100% nữa bằng cách đổi sản phẩm
của đại và tiểu công nghiệp. Hiệu quả của công tác đợc đánh giá theo quan
điểm mới nh sau ngời nào thu đợc 75% thuế lơng thực và 75% (của trăm
thứ hai) bằng cách đổi sản phẩm của đại và tiểu công nghiệp đã làm một
nặng đợc khôi phục chậm hơn
Bốn là sử dụng cơ cấu nhiều thành phần trong khôi phục công nghiệp. Hình
thức cơ bản của việc sử dụng cơ cấu kinh tế nhiều thành phầnlà những hình
thức chủ nghĩa t bản nhà nớc, hình thức tô nhợng trong công nghiệp, hình
thức hợp tác xã của những ngời sản xuất nhỏ, hình thức t nhân t nhân làm
đại lý cho nhà nớc trong thơng nghiệp, hình thức nhà nớc cho t nhân thuê
xí nghiệp thực chất của những hình thức đó là những mắt xích trung
gian có thể tạo điều kiện thuận lợi cho bớc chuyển từ chế độ gia trởng, từ
tiểu sản xuất lên xã hội chủ nghĩa
Năm là chuyển từ cơ chế tập trung bằng mệnh lệnh sang cơ chế hạch toán
kinh tế theo nguyên tắc tâpj trung dân chủ
-khâu thứ t: quá trình lu thông theo quan điểm NEP bao gồm
+điều tiết việc mua bán và lu thông tiền giấy
+tổ chức thơng nghiệp nhà nớc bán buôn và bán lẻ
+ổn định các quan hệ hàng hoá tiền tệ giữa các cơ quan kinh tế nhà nớc
+sử dụng hợp tác xã để củng cố quan hệ thơng mại giữa thành thị và nông
thôn
+phát triển các quan hệ tín dụng
ngời vạch rõ nhiệm vụ bộ máy quản lý kinh tế chúng ta phải học tập cách
điều tiết quan hệ buôn bán trên phạm vi cả nớc, đó là một nhiệm vụ khó
khăn, nhng không phải là không thực hiện đợc
-khâu thứ năm: ổn định tiền tệ, củng cố nền tài chính xô viết
khôiphục kinhtế theo quan điẻm của NEP đã tạo điều kiện kinh tế thuận lợi
cho việc giải quyết các vấn đề tài chính tiền tệ. Các xí nghiệp đi vào hạch
toán kinh tế không đòi hỏi kinh phí từ ngân sáchnhà nớc, đồng thời nộp lại
một phần lợi nhuận vào ngân sách. Hoạt động ngoại thơng phục hồi, bắt
đầu bổ sung vàng cho nhà nớc xô viết. đó là một mặt của tình hình, nhng
mặt khác các hoạt động sản xuất và lu thông càng mở rộng, kinh tế hàng
hoá phục hồi và phát triển thì càng đòi hỏi phải giải quyết vấn đề tài chính
tiền tệ một cách cấp bách. Ngay sau khi cách mạng thành công LÊ NIN đã
có tính nguyên tắc trong việc xây dựng mô hình nền kinh tế xã hội chủ
nghĩa. Từ đó chính sách kinh tế mới có ý nghĩa quốc tế to lớn đối với các
nớc phát triển theo hớng xã hội chủ nghĩa, trong đó có nớc ta. Những quan
điểm kinh tế của đảng ta nhất là từ đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ v đến
nay đã thể hiện nhận thức vận dụng quan điểm của lê nin trong chính sách
kinh tế mới. Tất nhiên do thời gian và không gian xa cách nhau, trải qua
những biến động khác nhau, nên nhận thức và vận dụng có thể có sự khác
nhau về bớc đi, nội dung và biện pháp cụ thể trong kgi tiến hành ở nớc ta
B/ sự vận dụng lý luận vào việt nam (1986 tới nay)
1/ đặc điểm kinh tế xã hội ở việt nam tr ớc đổi mới (1975-1986)
đây là thời kỳ cả nớc quá độ lên chủ nghĩa xã hội trong tình hình đất nớc
chịu đựng những đảo lộn kinh tế và xã hội với những quy mô lớn sau cuộc
chiến tranh ác liệt lâu dài, với những diễn biến trong tình hình thế giới có
mặt không thuận lợi. đây là thời kỳ mô hình kinh tế tập trung quan liêu bao
cấp bộc lộ một cách tàon diện mặt tiêu cực của nó mà hậu quả là tập trung
là cuộc khủng hoảng kinh tế-xã hội sâu sắc vào những năm 70 đầu những
năm 80. đại hội đảng toàn quốc lần thứ v của đảng sản việt nam dã đánh
giá tình hình đất nớc từ năm 1976 đến 1980 là thời kỳ nền kinh tế ở tình
trạng trì truệ. Trên mặt trận kinh tế đất nớc ta đứng trớc nhiều vấn đề kinh
tế gay gắt. kết quả thực hiện kinh tế 5 năm(1976-1980) cha thu hẹp đợc
những mất cân đối nghiêm trọng của nền kinh tế quốc dân. sản xuất phát
triển chậm trong khi dân số phát triển nhanh. Thu nhập quốc dân cha đảm
bảo đợc tiêu dùng xã hội, một phần tiêu dùng xã hội phải vay và dựa vào
viện trợ, nền kinh tế cha đợc tích luỹ. Long thực và các hàng tiêu dùng thiết
đều thiếu. Tình hình cung ứng vật t, tình hình giao thông vận tải rất căng
thẳng. Nhiều xí nghiệp sử dụng công suất ở mức thấp. Chênh lệch lớn giữa
thu và chi, giữa hàng và tiền, giữa xuất khẩu và nhập khẩu. Thị trờng và vật
giá không ổn định. Số ngời ngời lao động chaq dợc sử dụng vẫn còn đông.
đời sống nhân dân lao động vẫn còn nhiều khó khăn. tình hình ấy có
nguyên nhân khách quan nh nền kinh tế đang chịu hậu quả nặng nề của
thời kỳ này là t duy mới từng bớc đợc hình thành và phát triển, biểu hiện
chủ yếu ở nghị quyết hội nghị lần thứ sáu của ban chấp hành trungơng
khoá IV, nghị quết đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V, nghị quyết hội
nghị lần thứ tám ban chấp hành trung ơng khoá V và cuối cùng là nghị quết
bộ chính trị khoá V về các vấn đề kinh tế. đến đây quan niệm cốt lõi của
mô hình kinh tế mới về cơ bản đã hình thành . sự phát triển tiệm tiến này
đã dẫn đến bớc nhảy vọt trong đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI về mô
hình nền kinh tế mới. đại hội quyết định đờng lối đỏi mới và đờng lối đổi
mới đó đi vào cuộc sống nhanh chóng vì đó là một đờng lối đúng, đợc
chuẩn bị từ trớc không chỉ về mặt nhận thức, lý luận mà cả về mặt tổ chức
thực tiễn.
2/ sự phát triển kinh tế thị tr ờng ở việt nam (1986 tới nay)
a/Sự cần thiết khách quan phát triển kinh tế hàng hoá ở việt nam
Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở việt nam, sự tồn tại của sản
xuất hàng hoá là một tất yếu khách quan. Bởi vì trong nền kinh tế nớc ta
lực lợng sản xuất xãhội còn rất thấp, đang tồn tại nhiều thành phần kinh tế
rất khách nhau, sự phân công lao động xãhội gắn với sự tồn tại nhiều chủ
thể sở hữu khác nhau nh các chủ thể kinh tế độc lập. Trong những điều kiện
đó việc trao đổi sản phẩm giữa các chủ thể sản xuất với nhau không thể thc
hiện nguyên tắc nào hơn là nguyên tắc trao đổi ngang giá, tức là thực hiện
trao đổi hàng hoá thông qua thị trờng, sản phẩm phải trở thành hàng hoá.ơ
nớc ta trong thời kỳ quá độ muốn phát triển mạnh mẽ lực lợng sản xuất thì
phải xãhội hoá và chuyên môn hoá lao động. Quá trình ấy chỉ có thể diễn
ra một cách thuận lợi trong một nền kinh tế hàng hoá. Sản xuất càng xãhội
hoá, chuyên môn hoá thì càng đồi hỏi phát triển sự hợp tác và trao đổi hoạt
động trong xã hội, càng phải thông qua sự trao đổi hàng hoá giữa các đơn
vị sản xuất để đảm bảo những nhu cầu cần thiết của những loại hoạt động
sản xuất khác nhau. Chỉ có đẩy mạnh sản xuất hàng hoá mới làm cho nền
kinh tế nớc ta phát triển năng động. Kinh tế tự nhiên do bản chất của nó chỉ
duy trì tái sản xuất giản đơn. trong cơ chế kinh tế cũ, vì coi thờng quy luật
và từ cơng lĩnh xây dựng đất nớc trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội,
có thể rút ra một số đặc trng cơ bản và mô hình chủ yếu của nền kinh tế
nàylà:
Chuyển nền kinh tế từ kinh tế hiện vật bao cấp là chủ yếu sang nền kinh tế
hàng hoá vận hành theo cơ chế thị trờng dới sự quản lý của nhà nớc theo
định hớng xã hội chủ nghĩa. đó là cách tổ chức sản xuất tối u để xây dựng
cơ sở vật chất của chủ nghĩa xã hội mà hiệu quả kinh tế cuối cùng là năng
suất lao động cao, tạo ra nhiều sản phẩm thặng d. động viên mọi nhân tố
tích cực của các thành phần kinh tế và duy trì chúng tròng một thời kỳ lịch
sử lâu dài theo quan điểm không xoá bỏ vội vã một cách duy ý chí cơ cấu
kinh tế khách quan mà phải chấn hng thơng nghiệp, công nghiệp nhỏ , sử
dụng và pgát triển kinh tế t bản t nhân trong mức độ cần thiết. đồng thời
xây dựng và củng cố thành phần kinh tế nhà nớc và kinh tế hợp tác xã dần
trở thành nênf tảng của nền kinh tế quốc dân. thu hút mạnh mẽ đầu t của t
bản bên ngoài và hớng sự phát triển ấy theo con đờng chủ nghĩa t bản nhà
nớc dới hình thức , trình độ khách nhau. Mô hình kinh tế mới không đối lập
chủ nghĩa t bản , chủ nghĩa xã hội một cách trừu tợng nh trớc mà là sử
dụng chủ nghĩa t bản vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, vừa hợp tác
vừa đấu tranh. Tuỳ theo trình độ sản xuất đạt đơc trong thực tế xã hội mà
xã hội hoá sản xuất dới nhngx hình thức phù hợp với trình độ khác nhau
của lực lợng sản xuất, để mở đờng cho lực lợng sản xuất phát triển hơn nữa.
tiến dần đến trình độ xã hội hoá nền kinh tế trên cơ sở chế độ công hữu về
các t liệu sản xuất cơ bản dới những hình thức thích hợp từ thấp đến cao.
Thực hiện nhiều cơ chế phân phối khác nhau tuỳ theo sự phát triển của các
quan hệ sở hữu, tiến dần tới sự thống trị của chế độ phân phối theo số lợng
và chất lợng lao động. Thực hiện nguyên tắc chung khuyến khích bằng lợi
16
ích vật chất đi đôi với giáo dục và động viên tinh thần. Trong cơ chế kinh tế
mới, kế hoạch vãn đóng vai trò quan trọng, là công cụ quản lý kinh tế vĩ
mô của nhà nớc nhng chủ yếu mang tính định hớng, hớng dẫn sự phát triển
rằng trong cơ chế này đồng tiền không phải là tất cả. sức mạnh của đồng
tiền không phải không có khả năng xoá nhoà ý thức hệ này và tự phát
truyền ý thức hệ khác. vì lẽ đó vấn đề đấu tranh cho một nền đạo đức mới,
một lối sống lành mạnh bằng công tác tuyên truyền và giáo dục, đặc biệt
bằng công tác thực tiễn, mặc nhiên nổi lên ở tầm chiến lợc, quyết định.
Nừu không tỉnh táo thì thị trờng có thể là công cụ của sự diễn biến hoà
bình.
Quá trình hình thành và phát triển các nền kinh tế thị trờng trên thế giới rất
đa dạng, phong phú với nhiều cấp độ phát triển khác nhau, nhng nhìn
chung đều phải trải qua quá trình phát triển quan hệ hàng hoá tiền tệ, phá
vỡ kết cấu phong kiến, tự do hoá kinh tế, công nghiệp hoá và mở cửa với
thế giới bên ngoài. Có nhiều cách phân chia các loại hình phát triển kinh tế
trên thế giới. Xuất phát từ chỉnh độ phát triển, ngời ta chia thế giới thành
nhóm những nớc phát triển cũng đồng thời là những nớc có nền kinh tế thị
trờng phát triển cao, và các nhóm nớc đang phát triển cũng đồng thời là
những nền kinh tế thị trờng đang phát triển với nhiều màu sắc khcs nhau.
Xét về đặc tính kinh tế xã hội ngời ta chia các nền kinh tế thị trờng phát
triển thành nhiều loại, nổi lên ba loại tơng đối tiêu biểu gắn với 3 trung tâm
phát triển của chủ nhĩa t bản hiện đại, đó là mô hình CHLB Đức, mô hình
Nhật bản, mô hình Mỹ. Mô hình cộng hoà liên bang đức đợc gọi là mô
hình kinh tế thị trờng xã hội, hình nh nó tiếp thu đợc những điểm tốt trong
17
các nền kinh tế XHCN nh xã hội công bằng, xã hội bảo đảm nhng
nó không làm kinh tế kế hoạch tập trung cao độ nh các nớc xã hội chủ
nghĩa đã làm. những ngời đề xớng ra mô hình này coi 2 vấn đề cơ bản nhau
không tách rời nhau, biệt lập nhau hoặc đối lập nhau. Một là phát triển kinh
tế thị trờng mang lại hiệu quả cao, hai làthực hiện chính sách phúc lợi xã
hội, xa hội đảm bảo , xã hội công bằng, xã hội tiến bộ, nghĩa là phải kết
hợp khéo léo hai vấn đề này trong chỉ đạo kinh tế xã hội. Mỗi biện pháp
nâng cao nâng cao phúc lợi xã hội , xã hội đảm bảo, xã hội công bằng
thực hiện nhất quán chính sách kinh tế phát triển nền kinh tế nhiều thành
phần, chúng ta coi các thành phần kinh tế kinh doanh theo pháp luật đều là
những bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trờng định hớng xã
hội chủ nghĩa, cùng phát triển lâu dài hợp tác và cạnh tranh lành mạnh.
Kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa ở nớc ta cũng nh kinh tế thị
trờng ở các nớc t bản đều có sự quản lý của nhà nớc, nhng hai nhà nớc khác
nhau về bản chất. Nhà nớc t sản chủ yếu bảo vệ quyền lợi của giai cấp t
sản, trớc hết là những tập đoàn t bản lớn. Còn nhà nớc chúng ta nhà nớc xã
hội chủ nghĩa, nhà nớc của dân, do dân, vì dân, quản lý nền kinh tế theo
nguyên tắc kết hợp thị trờng với kế hoạch, phát huy mặt tích cực, hạn chế
khắc phục những mặt tiêu cực của cơ chế thị trờng, bảo vệ lợi ích nhân dân
lao động, của toàn thể nhân dân. kinh tế thị trờng ở các nớc t bản chủ nghĩa
phân phối chủ yếu theo nguồn vốn dẫn đến bất công xã hội, phân chia xã
hội thành hai cực giàu nghèo đối lập. Còn kinh tế thị trờng định hớng xã
hội chủ nghĩa của chúng ta- nh trên đã nói- thực hiện phân phối theo kết
quả lao động và hiệu quả sản xuất là chủ yếu. đồng thời phân phối theo
18
mức đóng góp vốn và các nguồn lực khác vào sản xuất, kinh doanh và
phânphối thông qua phúc lợi xã hội. Trong nền kinh tế định hớng xã hội
chủ nghĩa, tăng trởng kinh tế gắn liền với bảo đảm tiến bộ và công bằng xã
hội trong toàn bộ quá trình phats triển và ngay trong từng bớc phát triển
C/ thành tựu đạt đợc và những thách thức
Những thành tựu nổi bật
Nền kinh tế đã ra khỏi khủng hoảng triền miên bớc vào thời kỳ tăng trởng
ổn định.
Bức tranh chung của nền kinh tế việt nam (1976-1986) trớc đổi mới là tăng
trởng thấp(3,5%/năm), làm không đủ ăn và dựa vào nguồn viện trợ bên
ngoài ngày càng lớn. Thu nhập quốc dân trong nớc sản xuất chỉ đáp ứng đ-
ợc 80-90% thu nhập quốc dân sử dụng. đến năm 1985 , tỷ trọng thu từ các
nguồn viện trợ, cho vay từ bên ngoài chiếm 10,2% thu nhập quốc dân sử
nét mới hớng tới đổi mới và mở cửa của nền kinh tế việt nam, đa các ngành
sản xuất thoát ra khỏi tình trạng tỵ cung tự cấp, tăng dần tích luỹ. Sau năm
1986, nhất là thời kỳ 1991-1997 nền kinh tế việt nam bắt đầu có tích luỹ từ
sản xuất trong nớc. Với tỷ lệ tích luỹ GDP tăng dần: năm 1991:10,1%, năm
1993 13,8%, năm 1993: 14,8% , năm 1994 17%, năm 1997:20%. Viện trợ
nớc ngoài không đáng kể, tích luỹ nội bộ nền kinh tế từ mơ ớc thì nay đã
trở thành hiện thực. Kinh tế nông thôn vốn nặng nề tự cung tự túc trớc đây,
nhng gần đây đã có tích luỹ từ 7- 9% GDP mỗi năm . nền kinh tế tích luỹ
đã làm tăng tiềm lực nguồn vốn đầu t tái sản xuất mở rộng tăng lên trên
27% GDP. Nhờ đầu t chiều rộng và chiều sâu nên sản xuất phát triển, hàng
hoá d thừa từ lơng thực, thực phẩm đến sắt thép , nhiều sản phẩm trong n-
19
ớc cũng đã vợt xa cầu và giá cả ổn định, đồng tiền việt nam lên giá. Kiềm
chế và đẩy lùi lạm phát. từ nền kinh tế lạm phát, chỉ số lạm phát luôn ở các
con số cao vào các
Năm 1986:774,7%,năm1988:223,1%,từ năm 1989đến năm 1997 đã giảm
nhanh và đến năm 1995 chỉ còn 12,7%,năm 1996còn 4,5%, năm 1997 còn
3,6%.kết quả đó đạt đợc trong điều kiện nền kinh tếvẫn tăng trởng khá cao,
và trong bối cảnh các nớc trong khu vửcơi vào cuộc khủng hoảng kinh tvà
tài chính, những tháng gần đây, càng làm nổi bật thành tựu kiềm chế lạm
phát và ổn định giá trị đồng tiền Việt Nam. Sự ổn định đó là dấu hiệu tăng
trởng bền vững của Việt Nam trớc những biến cố bất lợi từ bên ngoài điều
này đang tạo những tiền đề vật chất tâm lýt quan trọng cải thiện đời sống
nhân dân và thu hút vốn đầu t nớc ngoài làm cho nền kinh tffs sống động
và hấp dẫn hơn. thành tựu đó một lần nữa chứng minh tính đúng đắn của
chính sách tài chính tiền tệ của Việt Nam là lấy thu mà chi kiên quyết
không in thêm tiềnđể bù vào thâm hụt ngân sách.
-Đầu t nớc ngoài tăng nhanh là nét nổi bật trong bức tranh kinh tế Việt
Nam những năm đổi mới và mở cửa . từ khi có luật đầu t nớc ngoài (12-
1987)đến cuối năm 1997 nớc ta đã thu hút 2300 dự án đầu t với số vốn
chuyển dịch đáng khích lệ này là do công nghiệp tăng trởng nhanh với
nhịp độ trên 13,7%/năm, có năm 14,6%/năm nh năm 1995. Đã hình thành
các khu công nghiêp kỹ thuật cao, ngành sản xuất mới nh ngành dầu khí,
điện tử cao cấp lắp ráp ôtô xe gắn máy ,hoá dầu. Sản lợng dầu thô từ 0,04
triệu tấnnăm 1986đã tăng lên9,8 triệu tấn năm 1997, sản lợng điện tăng từ
17,61 tỉ kwh tăng gấp 3 lầnnăm 1986 . các ngành dịch vụ tăng trởng trên
20
10%/năm , trong đó xuất nhập khẩu tăng trên 20%/năm, là những khởi sắc
không thể có trớc đổi mới. Nông nghiệp (bao gồm ca lâm nghiệp và thuỷ
sản) vợt quá những thăng trầm trớc năm 1998để trở thành nền nông nghiệp
hàng hoá với tỷ suất và chất lợng ngày càng cao, không chỉ đảm bảo lơng
thực thực phảmthoả mãn mọi nhu cầu tiêu dùng trong nớc mà còn d thừa er
xuất khẩu với khối lợng lớn. Tốc độ tăng trởng nông nghiệp đạt trên
4%trong đó lơng thực đạt trên 5,6%, lơng thục bình quân nhân khẩu từ 280
kg/năm vào năm 1986 lên 382kg/năm, năm1996 và năm 1997 là xấp xỉ
400kg/năm .Tốc đọ tăng trởng của nông nghiệp tăng chậm hơn của công
nghiệp và dịch vụ nên tỷ trọng nông nghiệp trong GDP giảm dần là điều
hợp lý. Sự chuyển dịch vế cơ cấu nh ở trên là phản ánh sự thay đổi về chất
của nền kinh tế Việt Nam theo hớng công nghiệp hoá , hiện đại hoá và tạo
ra tiền đề vật chất cho sự phát triển tăng trởng và ổn định kinh tế .
Bộ mặt nền đất nớc đổi mới theo hớng văn minh hiện đại, đời sống các
tầng lớp dân c ngày càng đợc cải thiện cả ở thành thịvà nông thôn ,xã hội
ổn định. đến nay nớc ta có 70% số xã có điện 99% số xã có trờng học,
71,3% số hộ gia đình có nhà ở khang trang, thu nhập bình quân đầu ngời
một tháng tăng trên 10%(năm 1994 bằng 168.000,năm 1995 bằng
206.000
đ
năm 1997 ớc đạt 250.000
đ
). Số hộ giầu tăng nhanh ,số hộ nghèo
với số vổn trên 10tỉ đồng/ doanh nghiệp, 92%doanh nghiệp còn lại đầu t
thấp hơn nhiều vì thiếu vốn. Máy moc thiết bị của các doanh nghiệp vừa cũ
vừa lạc hậu về trình độ cônh nghệ nên năng suất, chất lợng sản phảmm làm
ra còn thấp, chi phí cao, kém sức cạnh tranh. Do thiếu vốn nên hàng năm
ngân sách nhà nớc dành cho đầu t xây dng cơ bản còn thấpmới đạt khoảng
21
23-24%GDP, rất thấp so với các nớc trong khu vực thời kỳ công nghiệp hoá
. việc thu hút vốn đầu t nớc ngoài tuy có nhiều thành công nhng đến nay có
xu hớng chững lại và tỷ lẹ vốn thực tế đa vào sử dụng còn thấp. Các doanh
nghiệp t nhân và hộ sản xuất rất thiếu vốn nên rất khó khẳn trong mở rộng
sản xuất kinh doanh.
Thứ t:dân số tăng nhanh lao động thừa nhiều việc làm thiếu trong khi lại
rất thiếu cán bộ, công nhân lành nghề, am hiểu kinh tế thị trờng . hiện nay
áp lực dân số tăng rất nhanh năm 1993 tăng 2,8% năm 1994tăng2,09% và
năm 1997 tang1,8%. Thục tế có tình trạng thừa lao động thiếu việc làm ở
nông thôncũng nh thành thị. Trong khi đó ở các khu công nghệ cao vẫn xảy
ra tình trạng thiếu công nhân bậc cao, kỹ s am hiểu kỹ thuật mới và cơ chế
thị trờng .
Những giải pháp để phát triển kinhtế hàng hoá theo định hớng xã hội
chủ nghĩa
1.thực hiện nhất quán chính sách kinh tế nhiều thành phần
thừa nhận trên thực tế tồn tại nền kinh tế nhiều thành phần kinh tế trong
thời kỳ quá độ là một trong những điều kiện cơ sở để thúc đẩy kinh té hàng
hoá nhiều thành phần phát triển nhờ đó mà sử dụng có hiệu quả sức mạnh
tổng hợp của mọi thành phần kinh tế.cùng vói việc đổi mới củng cố kinh tế
nhà nớc và kinh tế hợp tác, việc thừa nhận và khuyến khíchcác thành phàn
kinh tế cá thể t nhân phát triển là nhận thức quan trọng về xây dựng chủ
nhgiã xã họi trong thời kỳ quá độ. Theo hớng đó mà khu vực kinh tế nhà n-
ớc, kinh tếtập thể kinh tế t bản nhà nớc kinh tế t bản t nhân kinh tế cá thể
và các hình thức kinh tế hỗn hợp khác đều đợc khuyến khích phát triển
22
những thành tựu nổi bật của cuộc cách mangj khoa học kỹ thuật và công
nghệ vào quá trình sản xuất và lu thông hàng hoá. So với thế giới , trình độ
công nghệ của ta còn thấpkếm không đồng bộ , do đó khả năng cạnh tranh
của hàng hoá nớc ta còn thấp kếm trên cả thị trờng trong lẫn ngoài nớc. Bởi
vậy để phảttiển kinh té hàng hoá, chúng ta cần đẩy mạnh công nghiệp hoá
hiện đại hoá dất nớc. Hệ thống kết cấu hạ tầngcơ sở và dịch vụ hiện đại ,
đồng bộ đóng vai trò quan trọng cho sự phát triển kinh tế hàng hoá. Hệ
thống đó ở nớc ta đã quá lạc hậu, không đồng bộ mất cân đối nghiêm trọng
nên đã cản trở nhiều quyết tâm của các nhà đầu t nớc ngoài lẫn trong nớc
cản trở phát triển kinh tế hàng hoá trên mọi miền đất nớc. Vì thế cần gấp
rút xây dựng và củng cố các yếu tố của kết cấu đó trớc mất nhà nớc cần tập
trung u tiên xây dựng nâng cấp một số yếu tố thiết yếu nhất nh đờng xá ,
cầu cống , bến cảng, sân bây điện nớc, thong tin liên lạc ngân hàng , dịch
vụ bảo hiểm
4-Giữ vững ổn định chính trị, hoàn thiện hệ thống pháp luật, xoá bỏ cơ
chế quan liêu bao cấp, đổi mới các chính sách tài chính, tiền tệ.
Sự ổn định chính trị bao giờ cũng là nhân tố quan trọng đẻ phát triển, nó là
điều kiện để các nhà sản xuất kinh doanh trong và ngoài nớc yên tâm đầu t.
giữ vững ổn định chính trị ở nớc ta hiện nay là giữ vững sự lãnh đạo của
đảngCộng sản Việt Nam ,tăng cờng hiệu lực,và hiệu quả quản lý nhà nớc,
phát huy đầy đủ vai trò làm chủ của nhân dân. hệ thống pháp luật đồng bộ
là công cụ rất quan trọng để quản lý nền kinh tế hàng hoá nhiều thành
phần. Nó tạo nên hành lang pháp lý cho tất cả các hoạt động sản xuất kinh
doanh của các doanh nghiệp trong và ngoài nớc. Với hệ thống pháp
luậtđồng bộ và pháp chế nghiêm ngật các doanh nghiệp chỉ có thể lầm giàu
trên cơ sở tuân thủ theo pháp luật.
5-Xây dựng và kiện toàn hệ thống điều tiết vĩ mô, đào tạo cán bộ quản
lýkinh tế và nhà kinh doanh giỏi, đáp ng nhu cầu của nền kinh tế hàng hoá
theo định hớng xã hội chủ nghĩa.
bằng sự tăng trởng, mở rộng các loại thị trờng. Kinh tế thị trờng là sự hoạt
động và phát triển khách quan của quan hệ hàng- tiền và các qui luật giá
trị, qui luật cung cầu, qui luật cạnh tranh trong đó qui luật giá trị là đặc tr-
ng nhất. Kinh tế thị trờng không hoàn toàn đối lập với kinh tế kế hoạch; lấy
thị trờng làm căn cứ quan trọng, kế hoạch có vai trò hớng dẫn nhất định.
Trong thị trờng quan hệ cung cầu phản ánh khách quan mối quan hệ giữa
hai chủ thể mua và bán. Cạnh tranh là tất yếu và bất tận trong kinh tế thị tr-
ờng, nó là môi trờng là động lực của sự phát triển kinh tế. Kinh tế thị trờng
tạo điều kiện phát huy mọi tiềm năng, nâng cao ý thức trách nhiệm cá
nhân, thúc đẩy tính chủ động sáng tạo, nhanh nhạy nắm bắt thị trờng, th-
ờng xuyên cải tiến phơng pháp quản lý kinh tế làm cho nền kinh tế năng
động có hiệu quả. Bên cạnh những mặt tích cực, kinh tế thị trờng thờng
xuyên tạo ra mất cân đối, bất hợp lý ở tầm vĩ mô. cạnh tranh sinh ra độc
quyền, lừa đảo làm hàng giả, phân hoá giàu nghèo, ô nhiễm môi trờng
Trong nền kinh tế thị trờng, các loại thị trờng phát triển ở trình độ cao: thị
trờng t liệu sản xuất, thị trờng t liệu tiêu dùng: thị trờng vốn thị trờng
chứng khoán, thị trờng sức lao động ngời mua và ngời bán quan hệ với
nhau thông qua giá cả và nhiều thị trờng khác nhau. Các hàng hoá sản xuất
ra đều đem trao đổi, mua bán trên thị trờng. đây là đặc trng cốt lõi của sản
xuất hàng hoá và kinh tế thị trờng. Các sản phẩm làm ra phải đợc xã hội
thừa nhận, thông qua trao đổi mua bán trên thị trờng. Đó là tấm gơng phản
ánh thực trạng nền kinh tếvà biểu hiện sự vận động các qui luật kinh tế.
Kinh tế thị trờng nhà nớc với t cách là ngời điều hành, quản lý xã hội đồng
thời là khách hàng lớn của các chủ thể kinh tế. Nhà nớc thờng bảo đảm các
dịch vụ bu điện, thông tin liên lạc, phát thanh truyền hình nhà nớc dùng
pháp luật để điều hành, dùng chính sách nh chính sách đối nội, đối ngoại,
chính sách kinh tế để vạch ra kế hoạch phát triển , hạn chế những tiêu cực
do kinh tế thị trờng gây ra. ở nớc ta sau nhiều năm đổi mới, lý thuyết về
nền kinh tế thị trờng của chủ nghĩa Mác-Lênin đã đi vào thực tiễn thu đợc
nhiều kết quả to lớn nh phần trên đã trình bày. Tuy nhiên đối với những