ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
Ngƣời hƣơ
́
ng dâ
̃
n khoa học: PGS.TS. Nguyễn Thị Phƣơng Hoa HÀ NỘI - 2010
HÀ NỘI - 2010
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT BD
:
Bồi dưỡng
CM
:
Chuyên môn
CSVC
:
Cơ sở vật chất
ĐG
:
Đánh giá
DH
:
Dạy học
ĐH
:
Kiểm tra
ND
:
Nội dung
NN
:
Ngoại ngữ
NNCN
:
Ngoại ngữ chuyên ngành
PP
:
Phương pháp
QL
:
Quản lý
SV
:
Sinh viên
TACN
:
Tiếng Anh chuyên ngành
DANH MỤC BẢNG, BIỂU, SƠ ĐỒ
44
Biểu đồ 2.7:
Thói quen học NNCN của SV
44
Biểu đồ 2.8:
Những hoạt động trong quá trình dạy học NNCN
46
Bảng 2.2:
Mức độ thực hiện các HĐ trong giờ học NNCN của SV
47
Biểu đồ 2.9:
Mô hình học tập hiệu quả
48
Biểu đồ 2.10:
Trình độ tiếng Anh của SV khi ra trường
49
Biểu đồ 2.11:
Mức độ nghiêm túc trong công tác coi thi
50
Biểu đồ 2.12:
Mức độ nghiêm túc trong thi cử của SV
51
Biểu đồ 2.13:
Nội dung kiểm tra, đánh giá sau mỗi học phần
51
Biểu đồ 2.14:
Chất lượng học tập của SV qua kết quả thi
52
Biểu đồ 2.15:
Tỷ lệ giảng viên tham gia khóa học bồi dưỡng chuyên môn
MỤC LỤC
Tr
ang
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Mục đích nghiên cứu 2
3. Đối tượng, khách thể và giới hạn phạm vi nghiên cứu 3
4. Nhiệm vụ nghiên cứu 3
5. Giả thuyết khoa học 3
6. Phương pháp nghiên cứu 3
7. Cấu trúc luận văn 4
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC
NGOẠI NGỮ CHUYÊN NGÀNH 5
1.1. Một số nét về lịch sử nghiên cứu của đề tài 5
1.2. Một số khái niệm cơ bản của đề tài 7
1.2.1. Quản lý và các khái niệm liên quan đến quản lý 7
1.2.2. Quản lý giáo dục và quản lý nhà trường 16
1.2.3. Các khái niệm liên quan đến quản lý hoạt động dạy học ở bậc đại học 18
1.3. Các vấn đề liên quan đến hoạt động dạy học ngoại ngữ chuyên ngành
ở bậc đại học 21
1.3.1. Hoạt động dạy học ngoại ngữ 21
1.3.2. Quản lý hoạt động dạy học ở bậc đại học 24
1.3.3. Tiếng Anh chuyên ngành 28
1.3.4. Mục tiêu, nội dung, hình thức của hoạt động dạy học
ngoại ngữ chuyên ngành ở bậc đại học 29
1.3.5. Vai trò, ý nghĩa của hoạt động dạy học ngoại ngữ chuyên ngành
trong việc nâng cao chất lượng dạy học ở bậc đại học 31
1.4. Vai trò của giảng viên và nhà quản lý trong việc dạy
ở ĐHQGHN 68
3.2.1. Nhóm biện pháp quản lý hoạt động dạy của giảng viên 68
3.2.2. Nhóm biện pháp quản lý hoạt động học của sinh viên 74
3.2.3. Mối liên quan giữa các biện pháp 78
3.3. Khảo sát tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp 78
Tiểu kết chương 3 80
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 81
1. Kết luận 81
1.1. Về lý luận 81
1.2. Về thực trạng 81
1.3. Đề xuất các biện pháp quản lý 82
2. Khuyến nghị 82
2.1. Đối với Đại học Quốc gia Hà Nội 83
2.2. Đối với Trường Đại học Ngoại ngữ 83
2.3. . Đối với Khoa tiếng Anh 83
TÀI LIỆU THAM KHẢO 84
PHỤ LỤC 1
MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài
Ngoại ngữ đóng một vai trò hết sức quan trọng trong cuộc sống hàng ngày của
chúng ta, và ngày nay, tiếng Anh đã trở thành một công cụ ngôn ngữ phổ biến đối
với hầu hết tất cả mọi người và là một trong những yếu tố không thể thiếu đối với
cầu do mục tiêu GD đề ra.
Trường ĐHNN là một trong những trường thành viên của ĐHQGHN, ngoài
những nhiệm vụ chính là ĐT ra các cử nhân NN, những giáo viên NN giỏi cho cả
nước, trường còn có một nhiệm vụ là ĐT NN cho SV của các trường thành viên
trong ĐHQGHN như Trường ĐHCN, Trường ĐHKT, Trường ĐH Khoa học xã hội
và Nhân văn, Trường ĐH Khoa học Tự nhiên và Khoa Luật. Và nhiệm vụ này Nhà
trường đã giao cho Khoa tiếng Anh của Trường đảm nhiệm.
Những SV của các đơn vị này sẽ được học NN giao tiếp trong một năm đầu, đến
năm thứ 2 các em sẽ học môn NNCN liên quan đến chuyên ngành ĐT của mình. Khi
đảm nhiệm việc giảng dạy NNCN, các GV đã luôn luôn tìm tòi, áp dụng các PP và kỹ
thuật mới trong HĐ giảng dạy để nâng cao chất lượng DH, giúp SV sử dụng NNCN
trong việc học tập, nghiên cứu các môn chuyên ngành bằng NN cũng như áp dụng
trong công việc sau này một cách hiệu quả.
Để thực hiện tốt được việc DH NN nói chung và NNCN nói riêng, một phần
quyết định không kém phần quan trọng đó là có một cơ chế QL tốt HĐ này.
Thực tiễn này đang là mối quan tâm của các nhà QL GD. QL như thế nào?
Cần có những cải tiến gì để khắc phục những yếu kém trên? Đây là vấn đề được đặt
ra và cần phải giải quyết trong thực tiễn QL dạy và học NN hiện nay.
Bản thân tôi là một người làm công tác QL, tôi thấy mình cần nghiên cứu để
tìm ra những biện pháp nhằm QL tốt hơn việc dạy và học NN, góp phần nâng cao
chất lượng dạy và học NNCN. Vì những lý do trên, tôi đã chọn đề tài “Quản lý hoạt
động dạy học tiếng Anh chuyên ngành tại Đại học Quốc gia Hà Nội” làm đề tài
nghiên cứu luận văn của mình.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng hoạt động dạy học TACN tại ĐHQGHN, đề
xuất một số biện pháp QL nhằm nâng cao chất lượng dạy - học TACN. 3
4
7. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, khuyến nghị, luận văn được trình bày trong
3 chương cụ thể như sau:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động dạy học ngoại ngữ chuyên ngành
- Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động dạy học ngoại ngữ chuyên ngành ở
ĐHQGHN
- Chương 3: Một số biện pháp quản lý hoạt động dạy học tiếng Anh chuyên
ngành ở ĐHQGHN
Cuối luận văn là phần danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục. 5
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG
DẠY HỌC NGOẠI NGỮ CHUYÊN NGÀNH 1.1. Một số nét về lịch sử nghiên cứu của đề tài
Quản lý hoạt động dạy và học ngoại ngữ là một phần quan trọng trong chương
trình phát triển GD ở nhiều nước trên thế giới. Các hình thức HĐ dạy và học NN
diễn ra phong phú, đa dạng và đều nhằm mục đích thúc đẩy quá trình hội nhập của
các nước, phục vụ cho việc phát triển kinh tế đất nước. Xin nêu một số điển hình về
HĐ dạy và học NN:
Tại Singapore việc học từ bậc tiểu học lên ĐH cũng đều bằng tiếng Anh.
Việc QL dạy và học NN đặc biệt là tiếng Anh được thực hiện chặt chẽ không chỉ
trong hệ thống GD nhà trường mà còn được thể hiện ở các trung tâm. Sau khi nhận
chức Thủ tướng Goh Chok Tông đã phê duyệt chiến lược phát triển GD lâu dài của
Bộ GD trong đó có điểm nhấn là toàn bộ hệ thống GD phổ thông tại Singapore phải
sử dụng tiếng Anh như là ngôn ngữ bắt buộc bên cạnh tiếng Trung được sử dụng
trí trung tâm trong việc kết nối các dân tộc khác ngôn ngữ. Để con em chúng ta
vững bước vào thế kỷ 21, chúng ta không thể bỏ qua việc nâng cao vai trò giao tiếp
bằng tiếng Anh với vai trò là một ngôn ngữ chung quốc tế”.
Việc QL dạy và học NN cũng được đề cập tới trong một số tài liệu. Công trình
nghiên cứu được nhiều người biết đến là của giáo sư James.G.Clauson trường ĐH
Virginia xuất bản năm 2004. Ông đã đưa ra một hệ thống các biện pháp QL GD nói
chung và QL việc dạy và học NN nói riêng, trong đó nhấn mạnh đến yếu tố đổi mới
PP giảng dạy – ĐG cao việc sử dụng các PP “Động não”; “Làm việc nhóm” và sử
dụng hình thức trắc nghiệm khách quan trong KT, thi cử. Theo ông “bản thân NN là
rất phong phú, thú vị vì nó cung cấp cho ta những hiểu biết về con người, văn hóa,
địa lý, chính trị của một dân tộc. NN không hề khô cứng, nó khô cứng do chính
cái cách mà người dạy truyền tải nó”.
Ở nước ta hiện nay, việc QL dạy và học NN đã dần được chú trọng nhằm đáp
ứng nhu cầu học tập ngày càng cao của toàn xã hội, song chất lượng đạt được chưa 7
cao. Muốn HĐ dạy và học NN đạt kết quả tốt thì khâu QL phải chặt chẽ, thống nhất
từ trên xuống. Muốn dạy và học NN đem lại kết quả thực sự cần hội đủ các yếu tố
như số lượng và chất lượng đội ngũ GV, chương trình, sách giáo khoa, trang thiết
bị, PP dạy và học, cách thức KT ĐG, tất cả được đặt trong một cơ chế QL khoa học,
hiệu quả.
Qua quá trình nghiên cứu, đã có rất nhiều đề tài, báo cáo khoa học và luận
văn thạc sỹ của Trường ĐHNN nói về HĐ DH NN hay HĐ DH NNCN như: Báo
cáo khoa học cấp khoa “Dạy - học ngoại ngữ chuyên ngành tại các cơ sở đào tạo
trực thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội: Những rào cản và giải pháp” của ThS. Kim
Văn Tất, nguyên Trưởng Khoa NNCN; hay đề tài khoa học cấp trường “Tạo ra và
duy trì hứng thú học ngoại ngữ chuyên ngành cho sinh viên của Đại học Quốc gia
Hà Nội” do ThS. Kim Văn Tất làm chủ nhiệm đề tài; và còn rất nhiều luận văn thạc
sỹ của Trường như “Đánh giá tác động của bài kiểm tra tiếng Anh Thương mại cuối
sự chỉ đạo để điều hoà những HĐ cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát
sinh từ sự vận động của những khí quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm
tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần có nhạc trưởng” [21,tr.480].
Theo F.W.Taylo - người được mệnh danh là cha đẻ của lý luận QL khoa
học, đã cho rằng cốt lõi trong QL là: “Mỗi loại công việc dù nhỏ nhất đều phải CM
hoá và phải QL chặt chẽ”. “QL là nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm
và làm cái đó như thế nào bằng PP tốt nhất và rẻ nhất” [16,tr.1].
Theo Henri Fayol, ông nói về nội hàm của khái niệm QL như sau: “QL tức là
lập KH, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và KT” [14,tr.59]. Năm yếu tố trên đã tồn tại như
những chuẩn mực được tuân theo một cách phổ biến trong QL hiện đại.
- Theo Đại từ điển tiếng Việt: QL là “tổ chức, điều khiển HĐ của một đơn
vị, một cơ quan”, là “trông coi, gìn giữ và theo dõi việc gì” [24,tr1363]. Nghĩa Hán
Việt của “Quản” là trông coi và gìn giữ theo những yêu cầu nhất định, duy trì sự vật
ở trạng thái ổn định; quá trình “Lý” bao gồm sửa sang, sắp đặt công việc, đổi mới,
đưa hệ thống đó vào phát triển. Trong “quản” phải có “lý” thì toàn hệ mới có thể
phát triển, trong “lý” phải có “quản” thì sự phát triển của hệ mới ổn định, bền vững
[16,tr.2]. Hai quá trình này phải được gắn bó chặt chẽ với nhau thì mới đạt được thế
cân bằng động, tồn tại và phát triển phù hợp trong mối tương tác với các yếu tố bên
trong và bên ngoài. 9
- Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “Bản chất của HĐ QL nhằm làm cho hệ thống
vận hành theo mục tiêu đặt ra và tiến đến các trạng thái có tính chất lượng mới” [6]
QL = Quản + Lý
Trong đó : - Quản là chăm sóc, giữ gìn sự ổn định .
- Lý là sửa sang, sắp xếp, đổi mới phát triển.
Hệ ổn định mà không phát triển thì tất yếu dẫn đến suy thoái. Hệ phát triển
mà không ổn định tất yếu dẫn đến rối ren.
Vậy: QL = ổn định + phát triển
luật trong QL mới phát huy tác dụng. Tác động QL thường mang tính tổng hợp gồm
nhiều biện pháp khác nhau. Vì vậy, trong QL không thể tuân thủ theo những quy
định cứng nhắc mà phải linh hoạt, mềm dẻo.
Quá trình tác động này được thể hiện qua hình sau:
Sơ đồ 1.1: Quan hệ chủ thể, khách thể và mục tiêu QL
1.2.1.2. Bản chất của quản lý:
Bản chất của HĐ QL là sự tác động có mục đích của người QL đến đối
tượng QL nhằm đạt được mục tiêu QL.
Trong GD và ĐT đó là tác động của nhà QLGD đến tập thể GV, HS – SV
và các lực lượng GD khác nhau trong xã hội nhằm thực hiện hệ thống các mục tiêu
QLGD.
QLGD có bản chất vì lợi ích phát triển GD nhằm hình thành và phát triển
nhân cách người được GD, đối tượng GD và chủ thể GD đáp ứng yêu cầu phát triển
kinh tế - xã hội.
1.2.1.3. Các chức năng của quản lý:
Chức năng QL là hình thái biểu hiện sự tác động có mục đích của chủ thể
QL đến đối tượng QL. QL là hệ thống gồm 4 chức năng cơ bản:
CÔNG CỤ
PHƢƠNG PHÁP
KHÁCH THỂ
QUẢN LÝ
CHỦ THỂ
QUẢN LÝ KT
Tổ chức
Lãnh đạo/Chỉ đạo
Lập KH
Thông tin 12
1.2.1.4. Các nguyên tắc quản lý:
Các nguyên tắc QL là các quy tắc chỉ đạo, những tiêu chuẩn, hành vi mà các
cơ quan QL, các nhà lãnh đạo phải tuân thủ trong quá trình QL theo đúng KH của
mục tiêu QL đã định.
- Nguyên tắc tập trung dân chủ
Đây là nguyên tắc quan trọng tạo khả năng QL một cách khoa học, có sự kết
hợp chặt chẽ sức mạnh của cơ quan quyền lực với sức mạnh sáng tạo của quảng đại
quần chúng trong việc thực hiện mục tiêu QL. Tập trung trong QL được hiểu là toàn
bộ các HĐ của hệ thống được tập trung vào cơ quan quyền lực cao nhất, cấp này có
nhiệm vụ vạch đường lối, chủ trương, phương hướng mục tiêu tổng quát và đề xuất
các giải pháp cơ bản, chủ yếu để tiến hành thực hiện.
Nguyên tắc tập trung dân chủ thể hiện thông qua chế độ một thủ trưởng -
người chịu trách nhiệm trước tập thể cán bộ công nhân viên về toàn bộ HĐ của đơn
vị, tổ chức mình. Dân chủ trong QL được hiểu là sự huy động trí lực của mọi thành
viên trong tổ chức để tiến hành QL. Dân chủ được thể hiện ở chỗ: các chỉ tiêu,
phương hướng hành động đều được tập thể tham gia bàn bạc, kiến nghị các biện
pháp thực thi trước khi đi đến quyết định. Các tổ chức quần chúng, người Lao động
còn được tham gia thực hiện các chức năng QL: tham gia xây dựng KH, KT, ĐG,
chung chung, tập trung vào những vấn đề then chốt quyết định trong việc QL tổ
chức thực hiện mục tiêu.
- Nguyên tắc kiên định mục tiêu
Đây là nguyên tắc đòi hỏi người QL các tổ chức phải có ý chí kiên định thực
hiện cho được mục tiêu đã xác định. Bởi vì một tổ chức dù mục tiêu đúng đắn
nhưng không phải lúc nào cũng được xã hội chấp nhận, đồng tình ủng hộ. Nếu
người QL thiếu tự tin, không quyết tâm thì mục tiêu không thể đạt được.
1.2.1.5. Các biện pháp quản lý:
Biện pháp, theo Đại từ điển tiếng Việt (1999) do Nguyễn Như Ý chủ biên,
được xác định là: “Cách làm, cách thức tiến hành, giải quyết một vấn đề cụ thể, một
công việc cụ thể nào đó” [24,tr.161].
Trong QL, biện pháp QL là tổ hợp nhiều cách thức tác động của chủ thể QL
lên đối tượng QL nhằm tác động đến đối tượng QL để giải quyết những vấn đề
trong công tác QL, làm cho hệ QL vận hành đạt mục tiêu mà chủ thể QL đã đề ra và
phù hợp với quy luật khách quan, nâng cao khả năng hoàn thành có kết quả các mục 14
tiêu đã đặt ra. Biện pháp QL đòi hỏi sự tác động tương hỗ, biện chứng giữa chủ thể
và khách thể QL.
Như vậy, biện pháp QL là việc người QL sử dụng các chức năng QL, công cụ
QL một cách phù hợp cho từng tình huống vào đối tượng mà mình QL để đưa đối
tượng, đơn vị mình QL đạt mục tiêu mà chủ thể QL xây dựng, đưa chất lượng QL lên
một vị trí mới, tình trạng mới tốt hơn hiện tại.
Các biện pháp QL rất đa dạng và phải luôn được nhà QL sử dụng linh hoạt,
sáng tạo để xử lý các tình huống cụ thể trong một môi trường luôn biến đổi. Do vậy,
đòi hỏi ở người QL phải có kiến thức sâu rộng, có kinh nghiệm để gắn kết những
biện pháp với nhau, giải quyết các mâu thuẫn giữa các biện pháp, biết tiên liệu trước
các hoàn cảnh, tình huống mà đối tượng QL đặt ra. Có biện pháp QL đúng đắn sẽ
giúp cho các tổ chức hạn chế được các nhược điểm của mình, liên kết gắn bó mọi
nguyện, tạo ra sự quan tâm nhất định về lợi ích vật chất để người thực hiện tự mình
điều chỉnh hành động nhằm hoàn thành nhiệm vụ, cho đối tượng lựa chọn theo khả
năng của họ hoặc tạo ra những lợi ích cá nhân và lợi ích tập thể phù hợp với lợi ích
chung.
Sử dụng biện pháp này có ưu điểm không hạn chế về quan hệ tổ chức và
không phụ thuộc về mặt hành chính, đồng thời biện pháp này tăng cường được tính
chủ động cho cá nhân và tập thể, giảm bớt được sự KT đôn đốc vụn vặt chi li của
nhà QL.
- Biện pháp tâm lý – GD: (còn được gọi là biện pháp tuyên truyền GD) là
cách tác động của chủ thể QL tới đối tượng QL thông qua đời sống tâm lý cá nhân,
các hệ tư tưởng, tâm tư, tình cảm, nguyện vọng của họ. Biện pháp này dựa trên cơ
sở các chức năng quy luật tâm lý của con người và dựa vào uy tín của người QL để
lôi cuốn các thành viên trong tổ chức hăng hái, tích cực tham gia công việc. Biện
pháp tâm lý – GD có ý nghĩa to lớn trong QL vì đối tượng QL trước hết là con
người. Do vậy khi tác động tới con người trước hết phải sử dụng các tác động tâm
lý nhằm khai thác tiềm năng của con người, kích thích ý thức tự giác, sự say mê của
con người chủ động sáng tạo trong HĐ của mình. Biện pháp tâm lý – GD không tồn
tại tự thân mà thường phối hợp với các biện pháp khác, nhưng hướng chủ yếu là tác
động vào tâm lý con người, vào lòng tự trọng và lương tâm nghề nghiệp của người
lao động. 16
Trên đây là các biện pháp đặc thù của QL, trong thực tiễn QL cho thấy không
có biện pháp nào là vạn năng, biện pháp nào cũng có mặt ưu điểm, mặt nhược điểm.
Bởi vậy, chủ thể QL cần biết phối hợp các biện pháp một cách linh hoạt nhằm khai
thác được những mặt mạnh, hạn chế được những nhược điểm của từng biện pháp. Như
vậy, khi vận dụng các biện pháp, người QL phải biết sử dụng đúng người đúng việc,
tuỳ hoàn cảnh điều kiện, thời gian cụ thể để lựa chọn các biện pháp phù hợp, giúp cho
đối tượng QL thực hiện nhiệm vụ một cách tự giác và tích cực.
DH,…và các HĐ có liên quan đến việc thực hiện chức năng của GD.
Tóm lại, QLGD là quá trình tác động có tính định hướng của chủ thể QL
lên các thành tố tham gia vào quá trình HĐ GD nhằm thực hiện có hiệu quả mục
tiêu GD.
1.2.2.2. Quản lý nhà trường
QLGD trên cơ sở QL nhà trường là một PP QLGD nhằm mục đích tăng cường
phân cấp QL nhà trường cho các chủ thể QL bên trong nhà trường với những quyền
hạn và trách nhiệm rộng rãi hơn để thực hiện nguyên tắc giải quyết vấn đề tại chỗ.
Bản chất của việc QL nhà trường là QL HĐ GD, QL HĐ học tập và các HĐ
GD khác trong nhà trường. Thông qua quá trình QL làm sao đưa các HĐ từ trạng
thái này sang trạng thái khác để dần đạt các mục tiêu GD. Các HĐ trong nhà trường
bản thân nó đã có tính GD song cần có sự QL, tổ chức chặt chẽ mới phát huy được
hiệu quả của bộ máy.
Các ND chủ yếu của QLGD trên cơ sở QL nhà trường bao gồm:
- Nhà trường là thực thể trung tâm của bất kỳ sự biến đổi nào trong hệ thống GD.
- Nhà trường tự chủ giải quyết những vấn đề sư phạm - kinh tế - xã hội của
mình với sự tham gia tích cực và trách nhiệm của những thực thể hữu quan ngoài
nhà trường.
- Nâng cao trách nhiệm và tính tự quản của một giáo viên.
- Hình thành các cơ cấu cần thiết để các thực thể hữu quan ngoài nhà trường
có thể thực sự tham gia vào việc điều phối công việc nhà trường. Đồng thời tăng
cường trách nhiệm và quyền hành của giáo viên tham gia quá trình ra quyết định
QL trong nhà trường.
- Hình thành các thiết chế hỗ trợ về tài chính và các nguồn lực cần thiết khác
để giáo viên thực sự tham gia công việc QL nhà trường. Hình thành cơ chế phân cấp 18
QL tài chính, nhân sự, thực hiện cải tiến thích hợp ND và PP giảng dạy phù hợp với
đặc điểm cụ thể của nhà trường.