ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN NGỌC DƢ
QUẢN LÝ TRƢỜNG TIỂU HỌC HUYỆN HƢNG HÀ
TỈNH THÁI BÌNH ĐÁP ỨNG MỤC TIÊU XÂY DỰNG
TRƢỜNG HỌC THÂN THIỆN LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Tổng quan nghiên cứu về vấn đề xây dựng trường học thân thiện
5
1.2. Một số khái niệm, quan điểm liên quan đến đề tài
6
1.2.1. Quản lý (khái niệm, bản chất, chức năng)
6
1.2.2. Quản lý giáo dục
12
1.2.3. Quản lý nhà trường
14
1.2.4. Quan điểm về trường học mới của Hồ Chủ tịch
18
1.2.5. Quan điểm về nhà trường tương lai của nhà tương lai học
người Mỹ, Alvin Toffler
20
1.2.6. Một số quan điểm tích cực khác về nhà trường
21
1.3. Đặc trưng của trường học thân thiện
23
1.3.1. Theo quan điểm của UNICEF
23
1.3.2. Đặc trưng trường học thân thiện ở Việt Nam
27
1.4. Quản lý trường Tiểu học đáp ứng mục tiêu xây dựng trường
học thân thiện (Mục tiêu, yêu cầu, nội dung)
33
1.5. Tiểu kết chương 1
xây dựng trường học thân thiện
48
2.3.1. Sự chỉ đạo của ngành Giáo dục – Đào tạo
48
2.3.2. Sự đòi hỏi của thực tiễn
49
2.4. Đánh giá hiệu quả quản lý các trường tiểu học đáp ứng mục
tiêu xây dựng trường học thân thiện
49
2.4.1. Những công việc đã triển khai
49
2.4.2. Những kết quả đạt được
52
2.5. Đánh giá chung
58
2.5.1. Những mặt mạnh
58
2.5.2. Những mặt hạn chế
59
2.5.3. Nguyên nhân của hạn chế
66
2.6. Tiểu kết chương 2
69
75
3.2.3. Phối hợp thường xuyên giữa ngành GD-ĐT, Văn hoá - Thể
thao và Đoàn thanh niên từ cấp huyện đến cấp xã
80
3.2.4. Tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ các
hoạt động dạy học
85
3.2.5. Đổi mới công tác quản lý và hình thức tổ chức các hoạt động
giáo dục trong nhà trường
90
3.2.6. Đổi mới quá trình dạy học
98
3.2.7. Mối quan hệ giữa các biện pháp
118
3.3. Khảo nghiệm tầm quan trọng, tính cấp thiết, tính khả thi
của các giải pháp đề xuất trong đề tài
119 3.3.1. Khảo sát tầm quan trọng của các biện pháp
119
3.3.2. Khảo sát tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp
120
3.3.3. Đánh giá chung
122
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Cùng với sự phát triển nhanh chóng của toàn xã hội, trong những năm
qua giáo dục Việt Nam đã thu được những thành quả đáng khích lệ trên nhiều
phương diện như: Quy mô trường lớp được mở rộng, phổ cập giáo dục Tiểu
học, phổ cập giáo dục THCS tiếp tục được thực hiện có hiệu quả, cơ sở vật
chất, trang thiết bị dạy học được cải thiện đáng kể, đội tuyển học sinh giỏi
tham dự các kỳ thi Olympic quốc tế luôn được xếp ở tốp các quốc gia mạnh,
đổi mới giáo dục được thực hiện từ mầm non đến đại học Tuy nhiên, thẳng
thắn nhìn nhận, đánh giá giáo dục nước nhà mỗi chúng ta đều thấy, giáo dục
nước ta vẫn còn một số hạn chế, bất cập cần được khắc phục kịp thời như:
“khả năng chủ động, sáng tạo của học sinh, sinh viên ít được bồi dưỡng, năng
lực thực hành của học sinh, sinh viên còn yếu. Chương trình, phương pháp dạy
học còn lạc hậu, nặng nề, chưa thật phù hợp xã hội hoá giáo dục được thực
hiện chậm, thiếu đồng bộ Công tác quản lý giáo dục, đào tạo chậm đổi mới;
những hiện tượng tiêu cực như bệnh thành tích, thiếu trung thực trong đánh
giá kết quả giáo dục, trong học tập tuyển sinh, thi cử, cấp bằng và tình trạng
phong trào thi đua, các cuộc vận động tại các trường, tác giả nhận thấy đây là
một phong trào thi đua toàn diện, phù hợp với yêu cầu bức thiết của giáo dục
Tiểu học hiện nay. Do đó, cần phải tổ chức nghiên cứu, đề xuất biện pháp chỉ
đạo các trường tổ chức thực hiện có hiệu quả. Với những lý do nêu trên tác giả
chọn đề tài “Quản lý trường Tiểu học huyện Hưng Hà tỉnh Thái Bình đáp ứng
mục tiêu xây dựng trường học thân thiện” làm lụân văn tốt nghiệp Cao học
Quản lý Giáo dục tại Trường đại học Giáo dục, Đại học quốc gia Hà Nội.
2. Mục đích nghiên cứu:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà
trường; phân tích thực trạng quản lý nhà trường từ đó đề xuất các biện pháp để
quản lý các trường tiểu học huyện Hưng Hà đáp ứng mục tiêu xây dựng
trường học thân thiện.
3. Phạm vi nghiên cứu:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc triển khai xây dựng trường học thân
thiện.
- Nghiên cứu quá trình quản lý các trường tiểu học trên địa bàn huyện
Hưng Hà, tỉnh Thái Bình đáp ứng mục tiêu xây dựng trường học thân thiện từ
đầu năm học 2008-2009 đến đầu năm học 2009-2010.
- Nghiên cứu những biện pháp để quản lý các trường tiểu học trên địa
bàn huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình đáp ứng mục tiêu xây dựng trường học
thân thiện.
4. Khách thể, đối tƣợng nghiên cứu, mẫu khảo sát:
4.1. Khách thể nghiên cứu:
Hoạt động dạy học, giáo dục trong các trường Tiểu học trên địa bàn huyện
Hưng Hà, tỉnh Thái Bình đáp ứng mục tiêu xây dựng trường học thân thiện.
4.2. Đối tượng nghiên cứu:
Những biện pháp quản lý các trường tiểu học huyện Hưng Hà đáp ứng
- Chương 2: Thực trạng quản lý các trường học Tiểu học huyện Hưng
Hà đáp ứng mục tiêu xây dựng trường học thân thiện.
- Chương 3: Biện pháp quản lý các trường Tiểu học huyện Hưng Hà đáp
ứng mục tiêu xây dựng trường học thân thiện.
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Tổng quan nghiên cứu về vấn đề xây dựng trƣờng học thân thiện
Với quan điểm quản lý giáo dục trên cơ sở quản lý nhà trường, gần đây
đã xuất hiện khá nhiều đề tài, công trình nghiên cứu đề xuất các giải pháp
nâng cao chất lượng của nhà trường, xây dựng và phát triển nhà trường theo
hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về chất lượng
nguồn nhân lực của xã hội. Điểm qua các đề tài tốt nghiệp Cao học quản lý
giáo dục tại Khoa sư phạm, Đại học Quốc gia Hà Nội đã có: “Các biện pháp
quản lý hoạt động dạy học của Phòng Giáo dục nhằm nâng cao chất lượng
giáo dục ở trường Tiểu học huyện Lục Nam, Bắc Giang” của học viên Đào
Văn Sinh- Cao học Quản lý Giáo dục khoá 4; “Biện pháp xây dựng các trường
Tiểu học đạt chuẩn quốc gia tại thị xã Phúc Yên tỉnh Vĩnh Phúc đáp ứng yêu
cầu đổi mới giáo dục phổ thông ”của học viên Tống Thị Thanh Mai - Cao học
Quản lý Giáo dục khoá 6
Ngoài ra, trong khoảng thời gian hơn một năm gần đây, kể từ khi Bộ
trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo phát động phong trào thi đua “Xây dựng
trường học thân thiện, học sinh tích cực” trên một số báo, tạp chí, đã xuất hiện
một số bài viết về chủ đề này như: “Thế nào là trường học thân thiện” đăng
trên trang Web Giaovien.net ngày 29/7/2008; “Xây dựng trường học thân
cứu:
Theo Henry Fayol (1841-1925) thì "Quản lý là quá trình đạt đến mục
tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch
hoá, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra".
Theo H. Koontz (người Mỹ): "Quản lý là hoạt động đảm bảo phối
hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được mục đích của tổ chức trong một
môi trường và đối với những điều kiện nguồn lực cụ thể" Theo Nguyễn Minh Đạo: “Quản lí là sự tác động liên tục, có tổ chức, có
định hướng của chủ thể về các mặt: chính trị, văn hoá, kinh tế, xã hôị, giáo dục
bằng một hệ thống các luật định, chính sách, nguyên tắc, phương pháp, biện
pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện phát triển của đối tượng”.
Theo Nguyễn Quốc Chí - Nguyễn Thị Mỹ Lộc
thì định nghĩa kinh
điển nhất về quản lý là: “Tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể
quản lý (người quản lý) đến khách thể (người bị quản lý) - trong một tổ chức
nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức”. [12, tr. 1]
Theo quan điểm của PGS.TS Đặng Quốc Bảo: Quản lý được định
nghĩa, được hiểu một cách đơn giản trên cơ sở chiết tự các thành tố cấu thành
khái niệm này. Cụ thể:
Quản lý = Quản + Lý
Quản có nghĩa là giữ gìn, duy trì.
Lý có nghĩ là đổi mới, chỉnh sửa.
Quản lý có nghĩ là duy trì và đổi mới.
Đặc biệt, luôn có sự thống nhất biện chứng giữa quản và lý: Trong quản
(giữ) có lý (chỉnh sửa), trong lý (chỉnh sửa) có quản (giữ) [
2, tr. 3]
Từ các định nghĩa trên về quản lý, ta thấy khái niệm quản lý bao gồm
hai yếu tố: chủ thể quản lý là tác nhân tạo ra các tác động. Chủ thể có thể là
Sơ đồ 1.1: Mô hình quản lý
Công cụ
quản lý
Mục
tiêu
Chủ thể
quản lý
- Tổ chức:
Khi đã xây dựng xong kế hoạch, người quản lý phải chuyển hoá những
ý tưởng, những dự định của họ thành sự thật. Đây chính là khâu tổ chức thực
hiện kế hoạch. Trong khâu này, nhà quản lý phải huy động các nguồn lực để thực hiện kế hoạch, đồng thời tổ chức các lực lượng trong đơn vị để thực hiện
kế hoạch này. Chính trong quá trình này, nhà quản lý xây dựng được các mối
quan hệ công tác trong tổ chức, tạo nên sức mạnh tập thể của đơn vị. Nhà quản
lý khoa học là người biết sắp xếp, bố trí công việc cho thuộc cấp, tạo được sự
hợp tác có hiệu quả giữa các thành viên, các bộ phận trong cơ quan.
- Lãnh đạo:
Lãnh đạo là xây dựng một hệ thống điều hành nhằm đảm bảo cho các
bộ phận trong tổ chức vận hành một cách nhịp nhàng, thông suốt. Do đó, khi
đã xây dựng được kế hoạch, tổ chức nhân lực, tài lực để thực hiện cần phải có
người đứng ra lãnh đạo, dẫn dắt tổ chức thực hiện các nhiệm vụ, sứ mệnh của
mình. Trong quá trình chỉ đạo, hướng dẫn thuộc cấp thực hiện các nhiệm vụ,
người lãnh đạo không chỉ ra quyết định, ra lệnh mà còn phải biết tập hợp, liên
kết, động viên thuộc cấp của mình để họ tự giác hoàn thành nhiệm vụ được
phân công. Thực ra, lãnh đạo không chỉ thể hiện ở khâu thứ ba này mà nó đã
được thể hiện ngay từ khâu lập kế hoạch và tổ chức thực hiện.
- Kiểm tra:
Kiểm tra là hoạt động mà thông qua nó, nhà quản lý có thể theo dõi,
giám sát những hoạt động của tổ chức, của thuộc cấp. Trên cơ sở thông tin thu
được từ hoạt động này nhà quản lý sẽ đưa ra những quyết định để điều chỉnh,
uốn nắn hoặc thúc đấy hiệu quả của cấp dưới. Quy trình của hoạt động kiểm
tra thường diễn ra theo các bước sau:
- Nhà quản lý đặt ra các mục tiêu, các chuẩn mực hiệu quả của hoạt
động;
- Nhà quản lý tiến hành việc đo lường, đối chiếu kết quả hoạt động với
lý
Tổ chức
Kiểm tra,
đánh giá
Thông
tin 1.2.2. Quản lý giáo dục
Giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc biệt hình thành và phát triển
cùng với xã hội loài người, bản chất của nó là quá trình truyền đạt và lĩnh hội
kinh nghiệm lịch sử xã hội của thế hệ trước và thế hệ sau. Giáo dục có vị trí
đặc biệt quan trọng, không chỉ là sản phẩm xã hội, mục tiêu xã hội mà còn là
nhân tố tích cực, là động lực thúc đẩy sự phát triển của xã hội. Mặc dù, giáo
dục có lịch sử lâu đời như vậy, nhưng khoa học về quản lý giáo dục có tuổi
đời rất non trẻ. Tài liệu hoàn chỉnh đầu tiên về quản lý giáo dục – cuốn “Quản
lý trường học” của A.pôpốp (người Liên Xô cũ) mới ra đời năm 1956.
Từ đó đến nay trên thế giới, đã xuất hiện nhiều công trình khoa học về
quản lý giáo dục như: “Những vấn đề cơ bản của quản lý trường học” của Côn
đa cốp (1983), “Những cơ sở của quản lý nội bộ trường học” của Viện Hàn
lâm Sư phạm Liên xô (1987) và gần đây nhất là “Quản lý giáo dục – Lý
thuyết, nghiên cứu và thực tiễn của Wayne K.Hoy và Cecil G.Miskel (1996)
Ở Việt Nam, cũng đã xuất hiện khá nhiều những công trình nghiên cứu,
những tập giáo trình giảng dạy đại học, cao học về quản lý giáo dục. Trong số
những công trình nghiên cứu đó phải kể đến: “Lý luận quản lý Giáo dục” của
PGS.TS Nguyễn Thị Mỹ Lộc Trường Đại học Giáo dục, “Những khái niệm cơ
bản về Lý luận Quản lý Giáo dục” của Nguyễn Ngọc Quang; “Quản lý nhà
nước về giáo dục” – Lý luận và thực tiễn của Đặng Bá Lãm
Nghiên cứu các công trình, tài liệu trên cho thấy, một trong những cống
dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất”.
Như vậy, quản lý giáo dục chính là một quá trình tác động có định
hướng của nhà quản lý giáo dục (chủ thể) trong việc vận hành những nguyên
lý, phương pháp chung nhất của khoa học quản lý vào lĩnh vực giáo dục
nhằm đạt những mục tiêu giáo dục đề ra. Những tác động đó thực chất là những tác động khoa học đến nhà trường, làm cho nhà trường tổ chức một
cách khoa học, có kế hoạch quá trình dạy học, giáo dục theo mục tiêu đào tạo.
Chủ thể quản lý là trung tâm thực hiện các tác động có mục đích của
giáo dục, trung tâm ra quyết định điều hành và kiểm tra các hoạt động của hệ
thống giáo dục theo mục tiêu đề ra.
Đối tượng quản lý giáo dục bao gồm nguồn nhân lực của giáo dục, cơ
sở vật chất kĩ thuật của giáo dục và các hoạt động có liên quan đến việc thực
hiện chức năng của giáo dục, đó chính là những đối tượng chịu sự tác động
của cán bộ quản lý (chủ thể) để thực hiện và biến đổi phù hợp với ý chí của
chủ thể quản lý đã đề ra.
Nhà trường là đối tượng cuối cùng và cơ bản của quản lý giáo dục,
trong đó đội ngũ giáo viên và học sinh là đối tượng quản lý quan trọng nhất,
nhưng đồng thời cũng là chủ thể trực tiếp quản lý quá trình giáo dục.
1.2.3. Quản lý nhà trường
1.2.3.1. Khái niệm nhà trường
Nhà trường đầu tiên xuất hiện là vào khoảng 500 năm trước Công
nguyên do Khổng Tử - Người thầy, nhà triết học cổ đại nổi tiếng người Trung
Quốc sáng lập. Ngôi trường này có tên là “Hạnh Đàn”. Từ ngôi trường này
khoảng 3000 học trò đã được Khổng Tử đào tạo thành trí nhân, quân tử. Đến
thế kỷ thứ 17, một loại hình trường mới do Comenxky, nhà giáo dục nổi tiếng
người Tiệp Khắc đề xuất với các lớp học, chương trình học cụ thể cho từng
nhóm học sinh theo lứa tuổi ra đời. Từ đó đến nay, mô hình trường lớp kiểu
này tiếp tục phát triển ở các cấp học, bậc học, được quản lý bởi các nhà sư
chức lãnh đạo cũng làm nhiệm vụ chuyên môn.
1.2.3.2. Các thành tố của nhà trường Với tư cách là một thiết chế xã hội, nhà trường cũng bao gồm 4 thành
tố:
- Thành tố vật chất: Gồm tất cả cơ sở vật chất, thiết bị, đồ dùng phục vụ
cho các hoạt động dạy học, giáo dục các hoạt động khác của nhà trường.
- Thành tố con người: Bao gồm hai nhân tố cơ bản của quá trình dạy học:
người dạy, người học và những người lao động khác như kế toán, văn phòng,
thủ thư
- Thành tố tinh thần: Là toàn bộ những tri thức, kĩ năng, thái độ mà xã
hội đã tích luỹ, được chọn lọc, tái tạo và phát triển trong nhà trường thông qua
các hoạt động giảng dạy và giáo dục.
- Thành tố quá trình: Quá trình cơ bản có tính đặc trưng trong một nhà
trường không gì khác chính là quá trình sư phạm. Tuy nhiên, bên cạnh quá
trình sư phạm, trong nhà trường còn diễn ra các quá trình khác, là tiền đề nâng
cao hiệu quả của quá trình sư phạm là: quá trình xây dựng, phát triển cơ sở vật
chất, quá trình xây dựng, phát triển nhân sự.
Các thành tố của nhà trường có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Thành
tố vật chất là tiền đề để các thành tố khác tồn tại và thể hiện mình vì không có
trường, có lớp sao có thể có chỗ cho quá trình sư phạm diễn ra, sao có chỗ cho
con người thể hiện. Tuy nhiên, có trường có lớp, có phương tiện mà không có
người dạy, người học thì trường lớp chẳng để làm gì. Hoặc nữa, có trường có
lớp, có người muốn học, người muốn dạy mà chương trình, nội dung dạy học
không có hoặc nghèo nàn, lạc hậu thì quá trình sư phạm cũng diễn ra không
hiệu quả và cả hệ thống sẽ không thể tồn tại “mạnh khoẻ”, sớm muộn cũng
dẫn tới nguy cơ diệt vong.
1.2.3.3. Quản lý nhà trường
Như đã trình bày ở trên, nhà trường bao gồm 4 thành tố chính là: vật
trong nhà trường là nhân cách học sinh được hình thành trong quá trình học
tập, tu dưỡng và rèn luyện, phát triển theo yêu cầu của xã hội.
Quản lý nhà trường với mục đích cuối cùng là để hình thành, phát triển
nhân cách cho học sinh.
Do đó, thực chất quản lý giáo dục, suy cho cùng là tạo điều kiện thuận
lợi cho các hoạt động trong nhà trường vận hành theo đúng mục tiêu. Trường
học là một thành tố của hệ thống giáo dục nên quản lý trường học cũng được
hiểu như một bộ phận của quản lý giáo dục.
Để nhà trường vận hành theo đúng mục tiêu, phải tác động để phát triển
đồng thời cả 4 thành tố của nhà trường, làm cho nhà trường có đầy đủ cơ sở
vật chất đảm bảo an toàn, sạch đẹp; làm cho nội dung dạy học đảm bảo tính
vừa sức, thiết thực, giúp người học có khả đối mặt với sự thay đổi nhanh
chóng như vũ bão của cuộc sống đương đại; làm cho quá trình dạy học, quá
trình giáo dục diễn ra nhẹ nhàng, tự nhiên và hiệu quả để người dạy và người
học ngày càng tích luỹ được nhiều tri thức, kinh nghiệm xã hội. Đây chính là
nhiệm vụ đặt ra cho mỗi nhà quản lý giáo dục từ cấp trường đến cấp cao nhất
trong mọi giai đoạn phát triển của giáo dục.
Chúng ta đã cùng nhau tìm hiểu thế nào là nhà trường, nhà trường gồm
những thành tố nào và để quản lý nhà trường có hiệu quả thì phải làm gì? Mục
tiêu của xây dựng trường học thân thiện cũng không nằm ngoài việc phát triển
nhà trường, làm cho quá trình sư phạm trở nên dễ dàng, nhẹ nhàng và hiệu
quả. Tuy nhiên, do trường học thân thiện có những đặc trưng nhất định khác
biệt với trường học thông thường nên để phát triển nhà trường theo hướng này
cần phải tìm hiểu những quan điểm tiến bộ về nhà trường, những đặc trưng cơ
bản của Trường học thân thiện.
1.2.4. Quan điểm về trường học mới của Hồ Chủ tịch
Hồ Chủ tịch là một nhà chính trị, một danh nhân văn hoá lỗi lạc của
Việt Nam và của nhân dân toàn thế giới. Bên cạnh sự nghiệp chính trị, sự
- Thứ năm là mối quan hệ trong nhà trường. Theo Người:
+Xây dựng quan hệ thật tốt, đoàn kết thật chặt chẽ giữa thầy và thầy,
giữa thầy và trò, giữa học trò với nhau, giữa cán bộ các cấp Dân chủ nhưng
trò phải kính thầy, thầy phải quý trò, chứ không phải “Cá đối bằng đầu”. Đồng
thời thầy và trò cần giúp đỡ anh chị em phục vụ.
- Thứ sáu là mối quan hệ giữa nhà trường với gia đình và xã hội:
+ Giáo dục trong nhà trường dù tốt mấy nhưng thiếu giáo dục trong gia
đình và ngoài xã hội thì cũng không hoàn toàn.
Những quan điểm về giáo dục và nhà trường nêu trên của Hồ Chủ tịch
ra đời cách đây đến nửa thế kỉ nhưng nó đã hàm chứa những tư tưởng hết sức
tiến bộ về một nhà trường kiểu mới – nhà trường với nội dung dạy học thiết
thực, phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá thể hiện sự dân chủ, nâng niu
trân trọng người học, với sự chan hoà, đồng thuận trong tập thể sư phạm nhà
trường. Giáo dục nhà trường luôn nhận được sự đồng hành của giáo dục gia
đình và xã hội.
1.2.5. Quan điểm về nhà trường tương lai của nhà tương lai học người
Mỹ, Alvin Toffler
Alvin Toffler là nhà tương lai học nổi tiếng người Mỹ được độc giả trên
thế giới biết đến với hai tác phẩm rất nổi tiếng là “Cú sốc tương lai” và “Đợt sóng
thứ ba”.
Trong hai tác phẩm này của mình, Alvin Tofler chia lịch sử phát triển
của xã hội loài người thành 3 giai đoạn – 3 “đợt sóng”. Đợt sóng thứ nhất với
sự ra đời của Nền văn minh Nông nghiệp, Đợt sóng thứ hai với sự ra đời của
Nền văn minh Công nghiệp, Đợt sóng thứ ba với sự ra đời của Nền văn minh
Hậu công nghiệp hay còn gọi là Văn minh Tin học – nền văn minh ra đời ở
một số nước phát triển như Mỹ vào những năm 60 của thế kỷ trước. Đặc biệt,