TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
KHOA KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
***
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ DỆT NHUỘM PHƯƠNG LA,
XÃ THÁI PHƯƠNG
Tên sinh viên : Bùi Diệu Linh
Chuyên ngành đào tạo : Kinh tế nông nghiệp
Lớp : K55 KTNNC
Niên khóa : 2010 – 2014
Giảng viên hướng dẫn : CN. Thái Thị Nhung
HÀ NỘI - 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, toàn bộ nội dung trong bài khóa luận tốt
nghiệp đại học là do tự tôi nghiên cứu, tìm hiểu thực tế tại UBND xã Thái
Phương cùng với việc tham khảo các bài viết trên sách, các luận văn thạc
sĩ và luận văn tốt nghiệp đại học khác, những thông tin tôi đã trích rõ
nguồn gốc
Tôi xin cam đoan những số liệu tôi sử dụng trong bài khóa luận tốt
nghiệp là số liệu trung thực và chưa được sử dụng trong bất kỳ nghiên cứu
hay luận văn nào khác.
Hà Nội, ngày tháng năm 2014
Sinh viên
Bùi Diệu Linh
i
LỜI CẢM ƠN
*****
Trong quá trình học tập và rèn luyện tại trường Đại học Nông nghiệp
Hà Nội, em đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ của các thầy cô
giáo trong trường đặc biệt là các thầy cô khoa Kinh Tế & PTNT. Các thầy cô
làng, còn có rất nhiều vấn đề đặt ra cần được giải quyết. Vì vậy chúng tôi lựa
chọn đề tài nghiên cứu: “Giải pháp phát triển làng nghề dệt nhuộm Phương
La, xã Thái Phương, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình”.
Trong quá trình điều tra thực địa để thu thập thông tin sơ cấp, chúng tôi
đã phân loại hộ nông dân ra làm hai loại là hộ kiêm và hộ chuyên để phỏng
vấn trực tiếp qua bảng câu hỏi. Sử dụng phương pháp thu thập, phân tích,
tổng hợp, xử lý số liệu, thông tin, phân tích hệ thống để nghiên cứu thực trạng
phát triển nghề dệt của địa phương.
Làng nghề Phương La thuộc xã Thái Phương, huyện Hưng Hà, tỉnh
Thái Bình. Xã Thái Phương là xã đồng bằng có địa hình tương đối bằng
phẳng, nghiêng dần từ Bắc xuống Nam theo hướng nghiêng của đồng bằng
châu thổ sông Hồng. Địa hình thuận lợi cho quá trình xây dựng cơ sở hạ tầng
nhằm phát triển sản xuất nghề. Nguồn lao động dồi dào từ chính địa phương
và cả các địa phương lân cận.
iii
Trên thực tế, quy mô sản xuất của làng nghề dệt nhuộm Phương La
trong những năm vừa qua luôn luôn được mở rộng Từ các hộ nhỏ thành hộ
lớn, hoặc mở rộng từ thôn này sang thôn khác. Mặc dù vẫn chưa nhận được
sự quan tâm thích đáng từ chính phủ và nhà nước trong vấn đề mở rộng quy
mô sản xuất nhưng người dân vẫn coi dệt là nghề mũi nhọn của mình và hết
lòng mở rộng phát triển nghề.
Về vấn đề vốn, tuy sản xuất làng nghề không đòi hỏi lượng vốn lớn,
nhưng đối tượng sản xuất là nông dân nên việc đầu tư vốn cho sản xuất luôn
gặp nhiều khó khăn. Hiện nay ở làng nghề Phương La, các hộ sản xuất chủ
yếu là bỏ vốn tự có và vay thêm người nhà, vốn đi vay ở các ngân hàng hay
hội nhóm không lớn, bởi thủ tục và các vấn đề liên quan còn rườm rà, bất
tiện.
Về công cụ và tư liệu sản xuất, hầu hết các hộ sản xuất trong làng nghề
đều đã cơ giới hóa quá trình sản xuất của mình. Tuy nhiên, các hộ kiêm thì
thiết bị sản xuất thô sơ, nhà xưởng nhỏ, còn các hộ chuyên có phương tiện
TÀI LIỆU THAM KHẢO 91
I. Tài liệu sách và công trình nghiên cứu 91
II. Tài liệu tra cứu khác 92
vi
DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Cơ cấu kinh tế của xã năm 2011 và mục êu phát triển kinh tế đến năm 2015 40
Bảng 4.1: Quy mô sản xuất cải các hộ trong thôn năm 2012 47
Bảng 4.2: Tình hình vốn sản xuất của các hộ trong thôn năm 2013 50
Bảng 4.3 Công cụ, tư liệu phục vụ cho sản xuất 51
Bảng 4.4: Một số thông n chủ yếu về hộ điều tra thôn Phương La năm 2013 54
Bảng 4.5: Hao phí lao động cho sản xuất năm 2013 56
(ĐVT: phút/100 khăn) 56
Bảng 4.6: Chi phí cho sản xuất khăn mặt các hộ trong thôn năm 2013 59
Bảng 4.7: Chi phí sản xuất khăn mặt của các doanh nghiệp 60
Bảng 4.8: Kết quả sản xuất khăn của các hộ năm 2013 71
Bảng 4.9: Hiệu quả sản xuất kinh doanh bình quân 1 hộ của làng nghề dệt nhuộm Phương La, xã
Thái Phương năm 2013 73
vii
DANH MỤC HỘP
Hình 4.1: Quy trình sản xuất khăn 46
Hộp 4.1 Khó khăn trong mở rộng quy mô sản xuất 48
Hộp 4.2 Khó khăn về chi phí đầu vào sản xuất khăn 58
Hộp 4.3 Sản phẩm chưa có thương hiệu, nhãn mác riêng 64
Hộp 4.4 Doanh thu từ các đối tượng khách hàng khác nhau thì khác nhau 72
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
viii
BQ : Bình quân
CC : Cơ cấu
CP : Chi phí
ĐVT : Đơn vị tính
sắc văn hóa lâu đời của dân tộc, góp phần quan trọng trong chuyển dịch cơ
cấu kinh tế, tăng GDP ở khu vực nông thôn, thu hẹp khoảng cách giàu nghèo
giữa thành thị và nông thôn.
Với mục tiêu phát triển và gìn giữ làng nghề truyền thống, vừa nhằm
mục đích tạo công ăn việc làm cho người lao động, vừa bảo tồn và phát huy
bản sắc văn hóa đặc trưng của địa phương, nhà nước đã có rất nhiều những
1
văn bản pháp luật liên quan đến việc bảo vệ và phát triển làng nghề như nghị
định số 66/2006/NĐ-CP của chính phủ về phát triển ngành nghề ở nông thôn,
trong đó có các điều khoản rõ ràng về tiêu chuẩn làng nghề và các chính sách
nhằm hỗ trợ, bảo tồn và phát triển làng nghề cũng như đào tạo nguồn nhân
lực, đầu tư vốn phục vụ cho việc nâng cao chất lượng hiệu quả sản xuất tại
làng nghề; nghị quyết số 19/2011/QH về vần đề giám sát và đẩy mạnh thực
hiện chính sách, pháp luật về môi trường tại các khu kinh tế, làng nghề, Nhà
nước đã có những sự quan tâm nhất định đến sự phát triển của làng nghề, qua
đó thể hiện được tầm quan trọng và vai trò của phát triển làng nghề trong phát
triển kinh tế nông thôn nói riêng và kinh tế đất nước nói chung.
Làng Mẹo, ở thôn Phương La, xã Thái Phương, huyện Hưng Hà là làng
dệt lâu đời, nổi tiếng ở Việt Nam với các sản phẩm khăn dệt thủ công được
người tiêu dùng trong nước và thế giới ưa chuộng. Cũng như nghề chạm bạc,
nghề dệt đũi, dệt Phương La, Thái Phương cũng là nghề truyền thống lâu đời
của làng, việc dạy nghề, truyền nghề trước đây hết sức khắt khe, vì vậy nó
không phát triển mạnh mà chỉ bó hẹp theo quan niệm làng nghề nhưng thực
chất là nghề của làng. Khi nhà nước thay đổi cơ chế, nghề dệt ở Thái Phương
phát triển mạnh, nhiều hộ đã từ nghề dệt của làng có cơ sở, nền tàng đi lên
thành phố mở công ty trách nhiệm hữu hạn như Hương Sen, Hồng Quân,
Bình Minh v.v thu hút rất nhiều lao động; nhiều hộ đi tỉnh khác hoặc ra thị
trấn thị tứ mở công ty. Nhưng không vì thế mà dệt Phương La giảm sút,
ngược lại nó vẫn phát triển, nhiều chủ doanh nghiệp trong làng vẫn giữ gìn và
gắn bó với nghề truyền thống của làng, tiếp tục phát triển và đi lên làm giàu
pháp phát triển làng nghề dệt nhuộm Phương La trong thời gian tới.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về vấn đề phát
triển làng nghề
3
- Đánh giá thực trạng phát triển của làng nghề dệt nhuộm Phương La, xã
Thái Phương, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của làng nghề dệt
nhuộm Phương La.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển làng nghề dệt nhuộm
Phương La, xã Thái Phương, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng và các giải pháp phát triển
làng nghề dệt nhuộm Phương La, xã Thái Phương, huyện Hưng Hà, tỉnh
Thái Bình.
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
1.3.2.1 Phạm vi nội dung
- Đề tài tập trung vào việc đánh giá thực trạng và đề xuất một số giải
pháp nhằm phát triển làng nghề dệt nhuộm Phương La.
- Hiện tại các sản phẩm dệt nhuộm của Phương La bao gồm: khăn
dệt (khăn tắm, khăn mặt, ) và vải thổ cẩm. Tuy nhiên, do sản phẩm chủ
yếu của làng nghề là khăn dệt, trong giới hạn phạm vi đề tài chúng tôi chỉ
tập trung vào nghiên cứu về sản phẩm này.
4
PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Lý luận về phát triển
2.1.1.1 Khái niệm phát triển
Từ xưa đến nay, có rất nhiều khái niệm về phát triển được đưa ra, tùy
bị cho bước nhảy vọt tiếp theo. Cứ căn cứ thế, quá trình động biện chứng giữa
chất và lượng tạo lên cách thức vận động, phát triển của sự vật.
- Từ những thay đổi về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất Trong mối
quan hệ giữa chất và lượng thì chất là mặt tương đối ổ định, còn lượng là mặt
biến đổi hơn. Sự vận động và phát triển của sự vật bao giờ cũng bắt đầu từ sự
thay đổi về lượng. Song không phải bất kỳ sự thay đổi nào về lượng cũng dẫn
đến sự thay đổi về chất ngay tức khắc, mặc dù bất kỳ sự thay đổi nào về
lượng cũng ảnh hưởng đến trạng thái tồn tại của sự vật. So với lượng thì chất
thay đổi chậm hơn. Chỉ khi nào lượng biến đổi đến một giới hạn nhất định
(độ) thì mới dẫn đến sự thay đổi về chất, sự vật không còn là nó nữa, một sự
vật mới ra đời thay thế nó.
- Sự thay đổi về chất tác động trở lại đối với sự thay đổi về lượng.
Lượng thay đổi luôn luôn trong mối quan hệ với chất, chịu sự tác động của
chất. Song sự tác động của chất đối với lượng rõ nét nhất khi xảy ra bước
nhảy về chất, chất mới thay thế chất cũ, nó qui định quy mô và tốc độ phát
triển của lượng mới trong một độ mới. Khi chất mới ra đời, nó không tồn tại
một cách thụ động, mà có sự tác động trở lại đối với lượng, được biểu hiện ở
chỗ: chất mới sẽ tạo ra một lượng mới phù hợp với nó để có sự thống nhất
mới giữa chất và lượng. Sự quy định này có thê được biểu hiện ở quy mô,
nhịp độ và mức độ phát triển mới của lượng.
2.1.2 Lý luận về làng nghề
6
2.1.2.1. Làng nghề
a) Làng nghề
Cho tới nay, việc đưa ra khái niệm làng nghề chưa có sự thống nhất. Có
một số quan niệm về làng nghề như sau:
Làng nghề là một thể chế kinh tế - xã hội ở nông thôn, được cấu thành
bởi hai yếu tố làng và nghề tồn tại trong một không gian địa lý nhất định,
trong đó bao gồm nhiều hộ gia đình sinh sống bằng nghề thủ công là chính,
giữa họ có mối liên kết về kinh tế và xã hội.
- Làng nghề truyền thống là làng nghề đã được hình thành từ lâu đời
(thường là trên 50 năm tính từ thời điểm 1954) sản phẩm có tính riêng biệt, có
tính đặc thù, có giá trị văn hóa lịch sử của địa phương, được nhiều nơi biết
đến. Mỗi làng nghề đều có những bí quyết nghề riêng, phương thức truyền
nghề là cha truyền con nối hoặc truyền trong gia đình, dòng tộc.
Theo định nghĩa này thì một nghề được xếp vào các nghề thủ công
truyền thống nếu hội tụ đủ các yếu tố sau:
+ Đã hình thành và phát triển lâu đời
+ Sản xuất tập trung, tạo thành các làng nghề.
+ Có nhiều thế hệ nghệ nhân và đội ngũ thợ lành nghề.
+ Kỹ thuật và công nghệ khá ổn định
+ Sử dụng nguyên liệu tại chỗ, trong nước hoàn toàn hoặc chủ yếu nhất.
+ Sản phẩm là tiêu biểu và độc đáo của Việt Nam, có giá trị và chất
lượng cao, vừa là hàng hóa, vừa là sản phẩm văn hóa của dân tộc, mang bản
sắc văn hóa Việt Nam.
+ Làng nghề nuôi sống một bộ phận dân cư của cộng đồng, có đóng góp
đáng kể vào ngân sách của nhà nước.
Như vậy, từ các định nghĩa trên, ta có thể hiểu rằng: làng nghề thủ công
8
truyền thống là làng nghề được hình thành từ lâu đời, tồn tại và được biết đến
dựa vào một ngành nghề thủ công truyền thống đặc trưng của mình còn được
giữ gìn và phát triển cho đến tận bây giờ, bao gồm cả các phương pháp sản
xuất được cải tiến hoặc sử dụng những máy móc hiện đại để hỗ trợ cho sản
xuất, nhưng vẫn tuân thủ công nghệ truyền thống.
2.1.3. Vai trò của làng nghề truyền thống trong phát triển nông thôn
2.1.3.1 Làng nghề truyền thống đã tạo ra một khối lượng lớn hàng hóa phong
phú phục vụ cho tiêu dùng và xuất khẩu.
Ngày nay, sản xuất của làng nghề truyền thống phát triển theo hướng
chuyên môn hóa, đa dạng hóa sản phẩm đã làm cho các làng nghề năng động
hơn. Trong khi chưa có điều kiện để phát triển kinh tế trang trại thì việc làng
thuê. Đồng thời, việc phát triển làng nghề truyền thống còn kéo theo nhiều
nghề dịch vụ khác phát triển, tạo công ăn việc làm cho người lao động.
2.1.3.3. Phát triển làng nghề truyền thống góp phần thúc đẩy gia tăng thu
nhập, cải thiện đời sống dân cư ở nông thôn
Qua thực tế ở một số làng nghề truyền thống cho thấy, thu nhập bình
quân của một lao động làm nghề bao giờ cũng cao hơn lao động thuần nông
2.1.3.4. Phát triển làng nghề truyền thống sẽ chuẩn bị đội ngũ lao động có
khả năng thích ứng với lĩnh vực công nghiệp và tạo cơ sở vệ tinh cho các
doanh nghiêp hiện đại
Quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn đã
tác động rất lớn đến sự phát triển của làng nghề truyền thống.Nó trở thành
một nhân tố thúc đẩy việc huy động các nguồn lực trong nhân dân để đưa
vào phát triển sản xuất kinh doanh, làm cho nền kinh tế nông thôn tăng
trưởng mạnh mẽ, tạo điều kiện để phát huy cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ
đời sống dân cư nông thôn.
Như vậy làng nghề truyền thống càng phát triển mạnh, nó càng có điều
kiện để đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng ở nông thôn. Hơn nữa khi cơ sở vật
chất được tăng cường và hiện đại chính là tạo điều kiện thuận lợi cho đội ngũ
10
lao động thích ứng với tác phong công nghiệp, nâng cao tính tổ chức, tính kỷ
luật. Đồng thời trình độ văn hóa của người lao động ngày một tăng cao, là cơ
sở thuân lợi cho việc đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào hoạt động sản xuất và
dịch vụ của làng nghề. Ngày nay, phát triển nghề thủ công không có nghĩa chỉ
dùng toàn kỹ thuật thô sơ, không dùng đến máy móc, mà phải dùng kỹ thuật
theo hướng hiện đại hóa. Hàng hóa trên thị trường ngày càng đa dạng phong
phú thì sớm hay muộn nghề thủ công cũng phải thay đổi cho phù hợp với thị
hiếu của người tiêu dùng. Cũng có nghĩa là người lao động luôn luôn thích
nghi với những điều kiện kỹ thuật mới.
Thực hiện liên kết giữa các doanh nghiệp ở đô thị và khu công nghiệp
tập trung với các làng nghề truyền thống là vấn đề hết sức quan trọng. Sự liên
được pháp luật thừa nhận. Tuy nhiên, trong những năm qua, hình thức sản
xuất kinh doanh theo hộ gia đình vẫn còn chiếm ưu thế ở các làng nghề truyền
thống có nơi đến 90%.
2.1.3.7 Vai trò của làng nghề truyền thống trong phát triển kinh tế
- Góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động ở
nông thôn, góp phần xóa đói giảm nghèo: Bên cạnh việc tạo việc làm, tăng
thu nhập cho lao động ở khu vực này, phát triển ngành nghề nông thôn sẽ tạo
thêm việc làm cho lao động lúc nông nhàn, lao động phụ như người già, trẻ
em, người khuyết tật,
- Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nông thôn, đa dạng hóa kinh
tế nông thôn, thúc đẩy quá trình đô thị hóa: Bảo tồn và phát triển làng nghề
có tác dụng rõ rệt đối với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo
hướng công nghiệp hóa, hiên đại hóa.
- Góp phần bảo tồn giá trị văn hóa dân tộc: do hầu hết các làng nghề
có khởi nguồn từ sáng tạo của dân cư địa phương nên trong sản phẩm làng
nghề, từ kiểu dáng cho đến mẫu mã đều có những dấu ấn riêng về bản sắc văn
hóa của từng địa phương. Lịch sử phát triển của các làng nghề truyền thông
12
gắn với lịch sử phát triển văn hóa dân tộc. Nhiều sản phẩm truyền thống có
tính nghệ thuật cao, trong đó thể hiện sắc thái riêng của mỗi làng nghề. Bảo
tồn và phát triển các làng nghề truyền thống chính là sự kế thừa và phát huy
đội ngũ nghệ nhân có bàn tay khéo léo cùng những bí quyết nghề quý giá
thông qua đó bảo tồn những nét độc đáo của bản sắc dân tộc Việt Nam. Ngoài
việc tạo sản phẩm, liên kết trong sản xuất và tiêu thụ hàng hóa, nhiều làng
nghề đã hình thành liên kết mang tính cộng đồng theo từng nhóm làng nghề,
duy trì các truyền thống, lễ hội theo nhóm ngành nghề. Thông qua việc tạo ra
các sản phẩm của làng nghề, cộng đồng dân cư trở nên gắn bó hơn trong cuộc
sống, góp phần hạn chế và đẩy lùi những tiêu cực của văn hóa ngoại lai,
không lành mạnh.
Với vai trò quan trọng của làng nghề trong phát triển kinh tế - xã hội
có một số nguyên liệu phải nhập từ vùng khác hoặc từ nước ngoài như một số
loại chỉ thêu, thuốc nhuộm song không nhiều.
- Bốn là, phần đông lao động trong các làng nghề là lao động thủ công,
nhờ vào kỹ thuật khéo léo, tinh xảo của đôi bàn tay, vào đầu óc thẩm mỹ và
sáng tạo của người thợ, của các nghệ nhân. trước kia, do trình độ khoa học và
công nghệ chưa phát triển thì hầu hết các công đoạn trong quy trình sản xuất
đều là thủ công, giản đơn. ngày nay, cùng với sự phát triển của khoa học-
công nghệ, việc ứng dụng khoa học- công nghệ mới vào nhiều công đoạn
trong sản xuất của làng nghề đã giảm bớt được lượng lao động thủ công, giản
đơn. tuy nhiên, một số loại sản phẩm còn có một số công đoạn trong quy trình
sản xuất vẫn phải duy trì kỹ thuật lao động thủ công tinh xảo. việc dạy nghề
14
trước đây chủ yếu theo phương thức truyền nghề trong các gia đinh từ đời này
sang đời khác và chỉ khuôn lại trong từng làng. sau hoà bình lập lại, nhiều cơ
sở quốc doanh và hợp tác xã làm nghề thủ công truyền thống ra đời, làm cho
phương thức truyền nghề và dậy nghề đã có nhiều thay đổi, mang tính đa
dạng và phong phú hơn.
- Năm là, sản phẩm làng nghề, đặc biệt là làng nghề mang tính đơn
chiếc, có tính mỹ thuật cao, mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc. các sản phẩm
làng nghề truyền thống vừa có giá trị sử dụng, vừa có giá trị thẩm mỹ cao, vì
nhiều loại sản phẩm vừa phục vụ nhu cầu tiêu dùng, vừa là vật trang trí trong
nhà, đền chùa, công sở nhà nước các sản phẩm đều là sự kết giao giữa
phương pháp thủ công tinh xảo với sự sáng tạo nghệ thuật. cùng là đồ gốm sứ,
nhưng người ta vẫn có thể phân biệt được đâu là gốm sứ bát tràng (hà nội),
thổ hà (bắc ninh), đông triều (quảng ninh). từ những con rồng chạm trổ ở các
đình chùa, hoa văn trên các trống đồng và các hoạ tiết trên đồ gốm sứ đến
những nét chấm phá trên các bức thêu tất cả đều mang vóc dáng dân tộc,
quê hương, chứa đựng ảnh hưởng về văn hoá tinh thần, quan niệm về nhân
văn và tín ngưỡng, tôn giáo của dân tộc.
- Sáu là, thị trường tiêu thụ sản phẩm của các làng nghề hầu hết mang