định hướng và giải pháp phát triển làng nghề sóc sơn trong thời gian tới - Pdf 10

Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
2.3.1.1. Đầu vào lao động 58
1
Bảng danh mục các chữ viết tắt:
Viết tắt Chữ viết tắt
CNH Công nghiệp hoá
HĐH Hiện đại hoá
NN Nông nghiệp
CN Công nghiệp
DV Dịch vụ
XD Xây dựng
TTCN Tiểu thủ công nghiệp
LNTT Làng nghề truyền thống
TCTT Thủ công truyền thống
KT-XH Kinh tế-xã hội
KH-KT&PTNT Kế hoạch-kinh tế và phát triển nông thôn
2
Mở đầu
Trong những năm qua, kinh tế Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu
quan trọng, biểu hiện cụ thể đó là tốc độ tăng GDP liên tục tăng trong giai
đoạn 2001-2005 với tốc độ cao, trung bình là 7.5%. Và cơ cấu kinh tế Việt
Nam cũng chuyển dịch theo hướng tiến bộ: tỷ trọng NN-LN-TS giảm từ
38.7% năm 1990 xuống còn 20.9% năm 2005; tỷ trọng ngành CN-XD tăng
mạnh từ 22.7% năm 1990 lên 41.0% năm 2005; tỷ trọng ngành DV năm 2005
đạt 38.1%. Tuy vậy, nhìn một cách tổng quát thì cơ cấu ngành kinh tế Việt
Nam năm 2005 cũng chỉ tương đương với cơ cấu kinh tế của những nước
trong khu vực Đông Nam Á vào những năm 80 của thế kỷ trước, và hiện vẫn
lạc hậu hơn cơ cấu ngành kinh tế năm 2003 của những nước này. Bởi Vậy
yêu cầu đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế Việt Nam, giảm
nhanh tỷ trọng NN, tăng tỷ trọng CN, DV đang đặt ra đối với tất cả các địa

công truyền thống như làng nghề lụa Vạn Phúc, làng gốm Bát Tràng, làng
tranh Đông Hồ. Nghề thủ công là nghề sản xuất chủ yếu bằng tay và công cụ
giản đơn với con mắt và bộ óc của nghệ nhân và thợ kỹ thuật. Đối với mỗi
nghề được xếp vào các nghề thủ công truyền thống, nhất thiết phải có các yếu
tố sau:
Một là, đã hình thành, tồn tại và phát triển lâu đời ở nước ta hoặc là
một nghề mới từ địa phương khác mang đến song được các nghệ nhân ở nơi
cũ truyền đạt lại kinh nghiệm và kỹ sảo kinh nghiệm.
Hai là, sản xuất tập trung, tạo thành các làng nghề, phố nghề.
Ba là, có nhiều thế hệ nghệ nhân tài hoa và đội ngũ thợ lành nghề.
Bốn là, kỹ thuật sản xuất tinh vi, chứa nhiều yếu tố kinh nghiệm từ đời
sang đời khác và công nghệ khá ổn định.
Năm là, sử dụng nguyên liệu tại chỗ, trong nước hoàn toàn hoặc chủ
yếu nhất. Nhìn chung nghề truyền thống được hình thành gắn liền với điều
kiện tự nhiên của vùng (đất đai, khí hậu, môi trường…) và như vậy nó gắn bó
với vùng nguyên liệu có tình đặc thù cho sản xuất.
5
Sáu là, sản phẩm sản xuất ra mang tính chất độc đáo vừa là hàng hoá,
vừa là sản phẩm văn hoá văn nghệ kỹ thuật mỹ thuật mang bản sắc văn hoá
dân tộc, có giá trị chất lượng cao và có vị trí cạnh tranh trên thị trường trong
nước và quốc tế.
Bảy là, là nghề nghiệp nuôi sống một bộ phận dân cư của cộng đồng,
có đóng góp đáng kể về kinh tế và ngân sách nhà nước, đồng thời nó còn sử
dụng lao động nhàn rỗi trong nông nghiệp nông thôn và lao dộng thành thị.
Làng nghề truyền thống là làng nghề cổ truyền làm nghề thủ công, ở
đây không nhất thiết tất cả dân làng đều sản xuất hàng thủ công. Người thợ
thủ công cũng đồng thời là người làm nghề nông. Làng nghề là trung tâm sản
xuất ra hàng thủ công, nơi quy tụ các nghệ nhân và nhiều hộ gia đình chuyên
làm nghề mang tính chất truyền thống lâu đời, có sự liên kết hỗ trợ nhau trong
sản xuất, kỹ thuật, đào tạo thợ trẻ và bán sản phẩm theo kiểu phường hội, kiểu

Thứ năm, các loại sản phẩm thường có một số sản phẩm mang tính
nghệ thuật cao. Mặt khác, sản phẩm thường không phải do sản xuất hàng loạt
mà có tính đơn chiếc nên có tính độc đáo và khác biệt cao. Các sản phẩm của
làng nghề truyền thống là sự kết tinh, sự bảo lưu và phát triển của các giá trị
văn hoá, văn minh lâu đời của dân tộc.
1.1.2. Phân loại làng nghề.
Có rất nhiều tiêu chí có thể được sử dụng để phân loại làng nghề. Căn
cứ vào thời gian tồn tại và phát triển có thể chia làng nghề thành hai loại.
1.1.2.1. Làng nghề truyền thống (cổ truyền).
Làng nghề truyền thống (LNTT) hình thành do các nghệ nhân truyền
nghề. Những nghệ nhân này thường được suy tôn là tổ nghề. Các làng nghề
nổi tiếng nhất ở đồng bằng Bắc Bộ đều được hình thành như vậy và có tuổi
7
nghề rất cao, từ một vài trăm năm đến hàng nghìn năm. Lụa Hà Đông, với
làng dệt lụa Vạn Phúc lừng danh đã từng xuất hiện từ thế kỷ thứ 3 sau công
nguyên, do bà Lã Thị Nga - tổ nghề - truyền dạy cho dân làng. Tính đến nay
đã tồn tại và phát triển khoảng 1700 năm. Làng Gốm Bát Tràng có lịch sử
hình thành, phát triển đã 500 năm nay.
LNTT ra đời và phát triển nhằm đáp ứng một nhu cầu của xã hội. Ví dụ
như ở Thăng Long có làng nghề Nghĩa Đô chuyên làm giấy sắc rồng vì các
triều vua có nhu cầu viết giấy chiếu sắc, hay La Khê có nghề dệt the phục vụ
cho nhu cầu may mặc.
Ngày nay, sự biến động của thị trường có tác động mạnh mẽ tới các
làng nghề, các LNTT phát triển theo các xu thế:
 Nhóm các làng nghề dần bị mai một do sản phẩm không đáp ứng
được nhu cầu của thị trường hoặc nhu cầu thị trường về sản phẩm làng nghề
bị hạn chế như làng Chuông, làm nón lá, làng nghề đan quạt nan, mành cọ,
đan rổ rá, làng pháo Bình Đa.
Nhóm này có hai xu thế có thể phát triển. Thứ nhất, nếu không thể khôi
phục và phát triển nghề cũ thì làng nghề có thể chuyển sang làm các nghề

nghề mới ra đời. Các làng nghề mới thường có vị trí địa lý, nằm ở nơi có đất
chật, người đông, chất đất hoặc khí hậu không phù hợp nên nghề nông khó có
điều kiện phát triển, không đảm bảo thu nhập cho người nông dân. Với tốc độ
đô thị hoá như hiện nay, các làng nghề ven đô, làng ven thị bị mất đất sản
xuất để xây dựng các khu đô thị, nhà máy, xí nghiệp, đường giao thông và các
công trình khác. Cần phải tạo ra công ăn việc làm cho những người nông dân
bị thất nghiệp này để họ ổn định cuộc sống và không trở thành gánh nặng cho
9
xã hội. Nghề thủ công truyền thống (TCTT) là một trong những lựa chọn phù
hợp nhất vì nghề này có nhiều công đoạn cần sử dụng nhiều lao động, thời
gian đào tạo để biết làm nghề về cơ bản là ngắn và thích hợp với mọi đối
tượng, mọi lứa tuổi lao động. Mặt khác, đặc điểm của nghề nông là sau khi
trồng trọt, chăm bón cần một khoảng thời gian cho cây hấp thụ tăng trưởng,
đó chính là những lúc người nông dân rỗi rãi, nông nhàn. Tận dụng thời gian
này để làm nghề thủ công tăng thu nhập thì thật là thích hợp. Các con đường
hình thành nghề mới:
 Một số làng nghề hình thành trên cơ sở sự lan toả dần từ một số
LNTT, tạo thành một số làng nghề ở vùng lân cận LNTT.
 Một số làng nghề gần dây mới hình thành một cách có chủ ý do chủ
trương phát triển nghề phụ hay còn nói là cấy nghề mới. Các nghệ nhân, thợ
thủ công lành nghề ở địa phương khác về dạy nghề và phổ biến kinh nghiệm
sản xuất cho dân địa phương.
 Một số làng nghề cổ truyền cũ bị mai một chuyển sang làm nghề mới
nhằm tận dụng các điều kiện sẵn có và kỹ thuật tay nghề khéo léo của đội ngũ
thợ thủ công trong làng để bù đắp khoản thu nhập đã bị mất do nghề cũ.
 Một số làng nghề hình thành từ một số cá nhân hay gia đình có
những kỹ năng và có sự sáng tạo nhất định. Từ sự sáng tạo đó, quy trình sản
xuất và sản phẩm của họ không ngừng được hoàn thiện. Tiêu biểu cho hình
thức này là sự phát triển của tranh thêu Đà Lạt.
Những làng nghề mới được hình thành chủ yếu là những nghề có tiềm

tính.
Bốn là, ở những LNTT, những người cùng làm nghề có mối quan hệ
gắn kết chặt chẽ với nhau trong tình cảm cộng đồng, làng xóm. Một số làng
11
xã đã tổ chức ra hội ngành nghề giữ vai trò liên kết những người làm nghề
dịch vụ liên quan đến nghề, làng nghề. Đồng thời quy tụ những người cùng
nghề, tổ chức sinh hoạt văn hoá nghề ở nhà thờ tổ, hoặc đình làng, đền.
Năm là, thực tiễn cho thấy ở các làng nghề, quá trình lao động, làm ra
sản phẩm, lực lượng lao động đã tự phân công thành các lớp thợ với trình độ
tay nghề khác nhau. Lớp thợ giỏi được người thợ tôn vinh là thợ cả, có nơi
tôn vinh là nghệ nhân. Dưới thời bao cấp, nhà nước đã phong tặng một số các
nghệ nhân danh hiệu “bàn tay vàng”. Số thợ giỏi của các làng nghề chiếm từ
5%-20% lao động chính. Số thợ cả, nghệ nhân ở các làng nghề đóng vai trò
rất quan trọng trong việc bảo lưu yếu tố truyền thống cũng như cách thức đẩy
nghề phát triển, họ cải tiến mẫu mã, nâng cao chất lượng sản phẩm. Từ thực
tiễn lao động, tự họ gây được uy tín đối với người làng, góp phần truyền nghề
cho lớp trẻ, giữ gìn sự đoàn kết, tham gia điều hành các vấn đề KT-XH ở
làng, uy tín của một làng nghề gắn với vai trò, trách nhiệm của lớp thợ và các
nghệ nhân dày dặn kinh nghiệm, tinh thông nghề nghiệp.
Từ việc phân tích các thành tố gắn kết trong làng nghề đã giúp chúng ta
tìm ra một mẫu số chung định hình khá rõ ở các làng nghề điển hình. Từ đó,
chúng ta có thể có được những tiêu chí xác định về một làng nghề như sau:
- Số hộ và số lao động làm nghề TTCN ở làng đạt từ 50% trở lên so với
số hộ và lao động của làng.
- Số hộ làm nghề chính ở làng chiếm tỷ lệ trên 50% tổng thu nhập của
làng trở lên so với hộ làm nghề TTCN và nghề chính ấy là tên gọi của
làng nghề.
- Có tỷ trọng giá trị thu nhập TTCN ở làng đạt trên 50% trong một năm
lao dộng.
12

Từ những phân tích ở trên có thể hiểu rằng, ngành nghề truyền thống là
những ngành nghề TTCN đã xuất hiện từ lâu trong lịch sử phát triển kinh tế
của nước ta còn tồn tại đến ngày nay. Bao gồm cả ngành nghề mà phương
pháp sản xuất được cải tiến hoặc sử dụng những máy móc hiện đại để hỗ trợ
sản xuất nhưng vẫn tuân thủ công nghệ truyền thống.
Do sự phát triển của khoa học công nghệ nên nhiều sản phẩm mới ra
đời ưu thế hơn những sản phẩm truyền thống. Vì thế mà ngành nghề truyền
thống dần dần bị mất đi, và một số ngành nghề mới xuất hiện để phù hợp với
sự đòi hỏi khách quan của thị trường về cơ cấu, chất lượng, chủng loại sản
phẩm.
Đối với những nghề được xếp vào ngành nghề TCTT cần phải có
những yếu tố sau:
- Đã hình thành, tồn tại và phát triển lâu đời ở nước ta.
- Sản xuất tập trung, tạo thành các làng nghề, phố nghề.
- Có nhiều thế hệ nghệ nhân tài hoa và đội ngũ thợ lành nghề.
- Kỹ thuật và công nghệ khá ổn định của dân tộc Việt Nam.
- Sử dụng nguyên liệu tại chỗ, chủ yếu là trong nước.
- Sản phẩm làm ra mang tính chất truyền thống độc đáo, bản sắc của Việt
Nam.
- Là nghề nuôi sống bộ phận dân cư, cộng đồng, đóng góp đáng kể vào
ngân sách nhà nước.
Có thể phân chia ngành nghề truyền thống ở nông thôn thành ba nhóm chính:
- Nhóm một: Chế biến nông lâm, thủy sản
- Nhóm hai: CN-TTCN & XD.
14
- Nhóm ba: Dịch vụ.
1.2. Vai trò của LNTT trong quá trình CNH, HĐH nông thôn.
Vai trò của LNTT là một trong những vấn đề có tính thời sự cấp bách
đang đặt ra hiện nay ở nông thôn nước ta. Nông thôn Việt Nam với dân số
chiếm 73.2% dân số cả nước, nơi đây chiếm 56.8% lao động của cả nước. Và

tăng 15.879,3 nghìn người so với năm 1991. Bình quân một năm tăng 1.058,6
nghìn người. Số người đến tuổi lao động hàng năm vẫn còn rất lớn, lên đến
trên 1 triệu người, tạo ra sức ép lớn về giải quyết việc làm, lao động.
Như vậy, giải quyết việc làm cho số lao động đang thất nghiệp, thiếu
việc làm, lao động đến tuổi lao động… là vấn đề bức xúc đang được đặt ra.
Đặc biệt, khu vực nông thôn với gần 75% dân số và với tỷ lệ thất nghiệp xấp
xỉ 20%, thì vai trò của các làng nghề đống góp vào việc giải quyết việc làm
cho người lao động là rất quan trọng. Bởi trong các ngành nghề TCTT, lao
động sống thường chiếm tỷ lệ tới 60%-65% giá thành sản phẩm, nên việc phát
triển các làng nghề sẽ phù hợp với yêu cầu giải quyết việc làm cho người lao
động đang ngày càng dư thừa một cách nhanh chóng ở nông thôn. Sự phát
triển làng nghề không những chỉ thu hút lao động dư thừa ở gia đình mình,
làng xã mình, mà còn có thể thu hút được nhiều lao động từ các địa phương
khác đến làm thuê. Không những thế, sự phát triển các làng nghề còn kéo theo
sự phát triển của nhiều ngành nghề dịch vụ khác, tạo được nhiều việc làm cho
người lao động.
Phát triển ngành nghề truyền thống ở nông thôn trong những năm qua
không những đã góp phần tăng trưởng, tạo ra khối lượng hàng hoá đa dạng,
phong phú phục vụ người tiêu dùng và xuất khẩu, mà còn thu hút nhân lực,
giải quyết việc làm cho người lao động, thúc đẩy phân công lao động. Giảm
16
tỷ trọng dân cư và lao động nông nghiệp đến năm 2010 còn 50% như Nghị
quyết đại hội IX của đảng đề ra.
Sự phát triển mạnh mẽ và đa dạng của các hộ gia đình, các làng nghề,
hội nghề, các hộ ngành nghề, doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nông thôn đã có tác
dụng tích cực về nhiều mặt đến quá trình phát triển KT-XH và ngày càng trở
thành động lực mang tính nội sinh thúc đẩy quá trình phân công lao động và
chuyển dịch cơ cấu lao động ở nông thôn theo hướng CNH, HĐH.
Như vậy, với sự phát triển ngành nghề truyền thống ở nông thôn, thu
nhập của người dân ngày càng được nâng cao từ sản xuất hàng hoá phi nông

hộ nghèo rất thấp, thu nhập từ ngành nghề chiếm đại bộ phận tổng thu nhập
của dân cư trong làng, hệ thống công trình công cộng, kết cấu hạ tầng phát
triển, nhà cửa cao tầng của các hộ dân mọc lên san sát và ngày một gia tăng, tỷ
lệ số hộ có các loại đồ dùng tiện nghi đắt tiền chiếm tỷ trọng khá.
Ngoài ra, sự phát triển mạnh mẽ các hộ ngành nghề, các doanh nghiệp
nhỏ, các cơ sở chuyên ngành nghề, các hộ nghề, làng nghề ở nông thôn một
mặt tạo ra cơ hội giải quyết việc làm, tăng thu nhập và sức mua cho nông dân;
mặt khác, đóng vai trò tích cực trong việc thay đổi tập quán từ sản xuất nhỏ,
phân tán, độc canh, tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hoá nông nghiệp đa
canh, kết hợp sản xuất nông nghiệp với phát triển ngành nghề, thúc đẩy quá
trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn.
1.2.3. Sự phát triển của các LNTT đã thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu
kinh tế nông thôn, góp phần tăng trưởng (GDP), tạo ra khối lượng hàng hoá
đa dạng phong phú, phục vụ tiêu dùng và xuất khẩu.
18
Phát triển LNTT nông thôn góp phần tăng trưởng, tạo ra khối lượng
hàng hoá đa dạng và phong phú phục vụ tiêu dùng và xuất khẩu, là một trong
những nội dung quan trọng đối với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
thôn theo hướng giảm dần tỷ trọng nông nghiệp, tăng dần tỷ trọng công
nghiệp và dịch vụ trong cơ cấu tổng sản phẩm trong nước.
Bảng 1.2: Cơ cấu kinh tế Việt Nam qua các năm.
Đơn vị: %
Năm
Tỷ trọng
1993 1997 1998 2000 2003 2005
NN 29.69 25.77 25.98 24.3 22.5 20.9
CN-XD 28.63 32.07 32.7 36.6 39.5 41
DV 42.28 42.15 41.32 39.1 38 38.1
Nguồn: TCTK.
Cơ cấu ngành kinh tế của Việt Nam năm 2005 chỉ tương đương với cơ

LNTT đã phá vỡ thế thuần nông và tạo đà cho công nghiệp phát triển, thúc
đẩy CNH-HĐH nông nghiệp, kinh tế nông thôn.
Việc khôi phục các nghề và các LNTT, phát triển các làng nghề mới,
sản phẩm mới, các doanh nghiệp nhỏ, các ngành nghề ở nông thôn một mặt
tạo ra việc làm, tăng thu nhập và sức mua cho người dân nông thôn, mặt khác
đóng vai trò tích cực trong việc thay đổi tập quán sản xuất từ sản xuất nhỏ,
phân tán, độc canh tự cung tự cấp sang sản xuất nông nghiệp hàng hoá, đa
canh, kết hợp sản xuất nông nghiệp với công nghiệp dịch vụ, thúc đẩy hình
thành và phát triển thị trường hàng hoá, thị trường vốn, thị trường lao động
trong nông thôn.
Các làng nghề sẽ là cầu nối giữa công nghiệp lớn hiện đại với nông
nghiệp phi tập trung, làm tiền đề để xây dựng công nghiệp lớn, hiện đại, là
bước trung gian chuyển từ nông thôn thuần nông, nhỏ lẻ, phân tán lên công
nghiệp lớn, hiện đại, đô thị hoá. Làng nghề sẽ là điểm thực hiện tốt phân công
lao động tại chỗ, là nơi tạo ra sự kết hợp nông-công nghiệp có hiệu quả. Sự
phát triển của các làng nghề là một trong những hướng rất quan trọng để thực
hiện việc chuyển cơ cấu kinh tế nông thôn và xây dựng nông thôn mới theo
hướng CNH-HĐH.
Tỷ trọng GDP của CN-TTCN, DV tăng lên trong tổng GDP được tạo
ra ở nông thôn. Tỷ trọng nông nghiệp giảm trong khi sản lượng lương thực
vẫn tăng lên. Thu nhập của các hoạt động phi nông nghiệp ngày càng chiếm tỷ
trọng lớn trong tổng thu nhập từ hoạt động kinh tế của người dân nông thôn.
Trên cơ sở tạo thêm được việc làm, tăng thu nhập các hoạt động ngành
nghề được coi như là một động lực trực tiếp làm chuyển dịch cơ cấu KT-XH
20
nông thôn theo hướng tăng hộ giàu, giảm hộ nghèo, xoá hộ đói, nâng cao
phúc lợi và ổn định xã hội.
Hiện nay, sản phẩm của ngành nghề nông thôn đang có triển vọng phát
triển rất rộng lớn:
- Thị trường trong nước với 83.1217 triệu dân (2005) tiếp tục là thị trường

Lịch sử phát triển kinh tế cũng như lịch sử phát triển nền văn hoá Việt
Nam luôn gắn liền với lịch sử phát triển các làng nghề. Văn hoá làng với các
thể chế cộng đồng chứa đựng những quan hệ huyết thống, láng giềng, hôn
nhân, nghề nghiệp, với các phong tục tập quán, tín ngưỡng, lễ hội mang đậm
những sắc thái riêng đã tạo nên bản sắc truyền thống văn hoá phong phú, sâu
đậm của dân tộc Việt Nam. Lịch sử nông thôn Việt Nam đã ghi nhận, sự hình
thành và phát triển của các LNTT là một trong những thành tố quan trọng tạo
nên những nét đặc sắc của văn hoá làng. Mỗi làng nghề đều thờ cúng một
thành hoàng làng, hoặc một ông tổ nghề riêng, với những lễ hội, phong tục,
tập quán và những luật lệ riêng. Có nhiều nghề, LNTT ở nước ta đã nổi bật
lên trong lịch sử văn hoá, văn minh Việt Nam.
Nhiều sản phẩm của các làng nghề sản xuất ra mang tính nghệ thuật
cao, mang tính riêng có của làng nghề, và những sản phẩm đó đã vượt qua giá
trị hàng hoá đơn thuần, trở thành sản phẩm văn hoá, là những bảo vật được
coi là biểu tượng đẹp đẽ của truyền thống dân tộc Việt Nam. Ngành nghề
truyền thống, đặc biệt là các nghề thủ công mỹ nghệ, chính là di sản quý giá
mà ông cha ta đã tạo lập và để lại cho các thế hệ sau. Làng nghề là cả một môi
trường kinh tế, xã hội, văn hoá. Nó bảo lưu những tinh hoa nghệ thuật và kỹ
thuật truyền từ đời này sang đời khác, hun đúc ở các thế hệ nghệ nhân tài ba
và những sản phẩm độc đáo mang bản sắc riêng. Nhiều người nước ngoài biết
đến Việt Nam thông qua những mặt hàng TCTT đặc sắc. Bởi vậy, bảo tồn và
phát triển các làng nghề góp phần đắc lực vào việc giữ gìn các giá trị văn hoá
của dân tộc Việt Nam trong quá trình CNH-HĐH.
LNTT là một cụm dân cư sinh sống tạo thành làng quê hay phường
hội. Đó chính là cộng đồng nhỏ về văn hoá. Những phong tục, tập quán, đền
22
thờ, miếu mạo,., của mỗi làng, xã vừa có nét chung của văn hoá dân tộc Việt
Nam, vừa có nét riêng của mỗi làng quê, làng nghề. Các sản phẩm của LNTT
làm ra là sự kết tinh, sự giao lưu giá trị văn hoá, văn minh lâu đời của dân tộc.
Sản phẩm thủ công mỹ nghệ mang đậm nét văn hoá dân tộc thể hiện khá đậm

phẩm mỹ nghệ, vàng bạc, đá quý năm 1990 đạt gần 2 tỷ USD. Nghề gốm cổ
truyền những năm gần đây phát triển, sản phẩm có chất lượng cao, cạnh tranh
trên thị trường thế giới và trở thành mặt hàng xuất khẩu thu ngoại tệ lớn.
Vùng gốm Chiềng Mai được xây dựng thành trung tâm quốc gia với ba mặt
hàng truyền thống: gốm công nghiệp, gốm mới được sản xuất trong 2 xí
nghiệp chính và 72 xí nghiệp lân cận. Để nâng cao chất lượng sản phẩm,
chính phủ Thái Lan đã tích cực xúc tiến các chương trình nâng cao tay nghề
cho công nhân của 93 xí nghiệp, Gốm Chiềng Mai và Lam Dang. Bên cạnh
đó, nghề kim hoàn, chế tác ngọc,, chế tác đồ gỗ tiếp tục được phát triển, tạo
việc làm và nâng cao thu nhập cho dân cư nông thôn. Từ kế hoạch 5 năm lần
thứ IV (1977-1981), chính phủ Thái Lan đã chuyển chính sách CNH tập trung
sang thực hiện chính sách phân tán hoá không gian công nghiệp, chú trọng
phát triển công nghiệp nông thôn. Vì vậy, ở Thái Lan có rất nhiều xí nghiệp
gia công sản xuất đã được xây dựng ở nông thôn. Ngoài ra, chính phủ còn
khuyến khích các doanh nghiệp ở thành phố và nông thôn xây dựng xí nghiệp,
nhất là xí nghiệp gia công nông sản phẩm và thủ công nghiệp. Nhờ vậy, sản
phẩm xuất khẩu của Thái Lan được mở rộng (ngoài các mặt hàng xuất khẩu
truyền thống như gạo, ngô, cao su, đường, ở nông thôn còn có thêm mặt hàng
xuất khẩu mới như hải sản đông lạnh, gia cầm, hoa quả tươi, chế biến rau
xanh…).
24
Bên cạnh đó, Thái Lan còn có phong trào “one Tambon, one product”
hay còn gọi là “Thai Tambon project” (tiếng Thái “Tambon” nghĩa là làng).
Đây được gọi là mỗi làng một sản phẩm, được phát động sau khi thủ tướng
Thái Lan đi thăm cửa hàng “one village, one product” tại Nhật Bản. Chương
trình này được giới thiệu tại Thái Lan vào năm 1999, chính thức đi vào hoạt
động vào 10/2001. Trong chương trình này, chính Phủ Thái Lan đã hỗ trợ mỗi
làng làm ra một sản phẩm tiêu biểu, đặc trưng và có chất lượng cao, chủ yếu
hỗ trợ ở khâu tiếp thị, xúc tiến bàn hàng, huấn luyện và chuyển giao công
nghệ cho nông dân. Chính phủ Thái Lan cho biết chỉ trong 4 tháng đầu năm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status