Những giải pháp phát triển làng nghề tỉnh Phú Thọ - Pdf 13


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH

NGUYỄN THỊ PHƢƠNG LAN

NHỮNG GIẢI PHÁP
PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ TỈNH PHÚ THỌ
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ THÁI NGUYÊN - 2013

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

i
LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Những số liệu, thông tin và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và
chƣa đƣợc sử dụng để bảo vệ bất cứ một luận văn nào. Mọi sự giúp đỡ cho
việc thực hiện luận văn này đã đƣợc cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong
luận văn đều đã đƣợc chỉ rõ nguồn gốc.

Việt Trì, ngày 15 tháng 8 năm 2013
Tác giả Luận văn Nguyễn Thị Phƣơng Lan

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

ii
LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình học tập và thực hiện đề tài, ngoài sự nỗ lực cố gắng của
bản thân, tôi đã nhận đƣợc sự giúp đỡ nhiệt tình của nhiều cá nhân và tập thể.
Trƣớc hết, tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Sau Đại học

4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2
5. Những đóng góp mới của đề tài 3
6. Bố cục luận văn 3
Chƣơng 1: LÝ LUẬN CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ 4
1.1. Cơ sở lí luận về làng nghề và phát triển làng nghề 4
1.1.1. Khái niệm, phân loại và đặc điểm làng nghề 4
1.1.2. Vai trò của làng nghề đối với phát triển kinh tế - xã hội 9
1.1.3. Nhân tố ảnh hƣởng tới sự phát triển làng nghề 14
1.2. Cơ sở thực tiễn về phát triển làng nghề. 20
1.2.1. Bài học kinh nghiệm phát triển làng nghề truyền thống ở một số nƣớc
trên thế giới 20
1.2.2. Những kinh nghiệm phát triển làng nghề của một số địa phƣơng khác
ở Việt Nam 24
Chƣơng 2: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29
2.1. Các câu hỏi đặt ra mà đề tài cần giải quyết 29
2.1.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và đặc điểm hình thành và phát triển
làng nghề trên địa bàn tỉnh Phú thọ? 29

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

iv
2.1.2. Những đóng góp của làng nghề đối với sự phát triển kinh tế, xã hội
của toàn tỉnh? 29
2.1.3. Những nhân tố nào ảnh hƣởng tới việc phát triển làng nghề 29
2.1.4. Giải pháp nào cho phát triển làng nghề của tỉnh? 29
2.2. Phƣơng pháp nghiên cứu 29
2.2.1. Cơ sở phƣơng pháp luận 29
2.2.2. Các phƣơng pháp nghiên cứu cụ thể 29
2.3. Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 33
2.3.1. Nhóm chỉ tiêu quy mô phát triển làng nghề 33

nguyên vật liệu 74
4.2.2. Từng bƣớc nâng cấp, đổi mới công nghệ và chủ động nguồn vốn 76
4.2.3. Giải pháp về nguồn nhân lực 79
4.2.4. Khẩn trƣơng xử lí và cải tạo về môi trƣờng làng nghề 83
4.2.5. Tăng cƣờng quản lý nhà nƣớc đối với làng nghề truyền thống trên địa
bàn tỉnh 85
KẾT LUẬN 88
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 91 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

vi
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Giá trị xuất khẩu một số mặt hàng thủ công mỹ nghệ (2010 - 2012) 10
Bảng 3.1: Cơ cấu kinh tế của tỉnh Phú Thọ qua các năm 38
Bảng 3.2: Giá trị sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản tỉnh Phú
Thọ qua các năm (2010-2012) theo giá so sánh 1994 39
Bảng 3.3: Giá trị sản xuất công nghiệp tỉnh Phú thọ 40
Bảng 3.4. Giá trị sản xuất làng nghề trên địa bàn tỉnh Phú Thọ năm 2012 49
Bảng 3.5: Doanh thu của làng nghề qua các năm 2010-2012 50
Bảng 3.6: Thu nhập từ hoạt động sản xuất kinh doanh làng nghề năm 2012 51
Bảng 3.7: Quy mô đầu tƣ vốn trung bình tại một số cơ sở làng nghề tại
Phú Thọ năm 2012 56
Bảng 3.8: Mức độ sử dụng công nghệ ở các cơ sở làng nghề 57
Bảng 3.9: Số lƣợng làng nghề trên địa bàn tỉnh Phú thọ năm 2010 -2012 58
Bảng 3.10: Số hộ hoạt động trong các làng nghề tỉnh Phú Thọ năm 2010 - 2012 59

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

2
Đánh giá đúng đƣợc thực trạng phát triển làng nghề ở tỉnh Phú Thọ; đề
xuất một số giải pháp nhằm phát triển làng nghề qua đó góp phần phát triển
kinh tế - xã hội của tỉnh Phú Thọ trong thời gian tới.
2.2. Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống đƣợc lý luận về phát triển làng nghề làm cơ sở hình thành
khung nội dung và phƣơng pháp nghiên cứu của đề tài;
- Đánh giá đƣợc thực trạng phát triển các làng nghề ở tỉnh Phú Thọ, chỉ
ra đƣợc những nhân tố chủ yếu tác động đến phát triển làng nghề;
- Đề xuất đƣợc các giải pháp để phát triển làng nghề ở tỉnh Phú Thọ.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Phát triển làng nghề tỉnh Phú Thọ
3.2. Phạm vi nghiên cứu
+ Về không gian: Tỉnh Phú thọ tính đến nay đã có 52 làng nghề tập
trung vào nhóm nghề nhƣ: nghề mộc, nghề đan lát mây tre, nghề chế biến
chè, nghề chế biến nông lâm sản & thực phẩm, nghề nón và dệt thổ cẩm,
nhóm nghề xây dựng, nhóm nghề gây trồng và kinh doanh sinh vật cảnh.
+ Về thời gian: Tổng quan tài liệu đƣợc thu thập từ năm 2007 đến nay;
số liệu điều tra thực tế về phát triển làng nghề chủ yếu từ năm 2010 đến 2012.
+ Về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng phát triển làng
nghề tỉnh Phú thọ, nhân tố ảnh hƣởng đến phát triển làng nghề và thông qua
đó đề xuất giải pháp phát triển làng nghề.
4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Luận văn phân tích rõ một số cơ sở lý luận và thực tiễn về làng nghề.
Đánh giá thực trạng phát triển làng nghề tỉnh Phú Thọ và nhân tố ảnh hƣởng
đến quá trình phát triển làng nghề. Trên cơ sở đó đề xuất giải pháp phát triển
làng nghề ở tỉnh Phú Thọ trong thời gian tới.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

4
Chƣơng 1
LÝ LUẬN CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ
1.1. Cơ sở lí luận về làng nghề và phát triển làng nghề
1.1.1. Khái niệm, phân loại và đặc điểm làng nghề
1.1.1.1. Khái niệm làng nghề
Trong quá trình phát triển của lịch sử cũng nhƣ hiện nay đều cho thấy,
làng xã Việt Nam có vị trí hết sức quan trọng trong sản xuất, cũng nhƣ đời
sống dân cƣ ở nông thôn. Qua thử thách của những biến động thăng trầm,
những lệ làng phép nƣớc và phong tục tập quán ở nông thôn vẫn đƣợc duy trì,
phát triển đến ngày nay.
Làng xã Việt Nam đƣợc phát triển rất lâu đời và từ buổi ban đầu, ngay
trong một làng, phần lớn ngƣời dân đều làm nông nghiệp, cùng với sự phát
triển, xuất hiện những bộ phận dân cƣ sống bằng nghề khác, họ liên kết chặt
chẽ với nhau, hình thành thêm một số tổ chức theo nghề nghiệp tạo thành các
làng nghề, phƣờng nghề, xã nghề gắn liền với địa danh của địa phƣơng, từ đó
các nghề đƣợc lan truyền và phát triển thành làng nghề. Bên cạnh những
ngƣời chuyên làm nghề, thì đa phần vừa sản xuất nông nghiệp, vừa làm nghề
(nghề phụ). Nhƣng do nhu cầu trao đổi hàng hoá, các nghề mang tính chất
chuyên môn sâu hơn và thƣờng đƣợc giới hạn trong quy mô nhỏ (làng, xã)
dần dần tách khỏi nông nghiệp để chuyển sang nghề thủ công. Càng về sau xu
thế ngƣời lao động tách khỏi đồng ruộng, chuyển sang làm nghề thủ công và
sống bằng nghề đó ngày càng nhiều.
Nhƣ vậy, làng nghề theo quan niệm lâu nay là hình thức tổ chức chuyên
sản xuất phi nông nghiệp của phần lớn dân cƣ sống trong cộng đồng, thôn, ấp,

cách phân loại phổ biến, hay dùng nhất.
+ Làng nghề truyền thống là những làng nghề đã xuất hiện lâu đời,
đƣợc nối tiếp từ thế hệ này sang thế hệ khác hoặc ít nhất cũng tồn tại hàng
chục năm. Làng nghề truyền thống phải có các yếu tố sau: hình thành và phát
triển lâu đời; có nhiều nghệ nhân và đội ngũ thợ lành nghề đông đảo; sử dụng

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

6
nguyên liệu trong nƣớc là chủ yếu; sản phẩm mang tính truyền thống và độc
đáo của Việt Nam, có giá trị chất lƣợng cao, vừa là hàng hoá tiêu dùng, vừa là
sản phẩm văn hoá, nghệ thuật, mỹ thuật, thậm chí trở thành các di sản văn hoá
của dân tộc, mang tính bản sắc văn hoá dân tộc Việt Nam; là nghề nuôi sống
phần lớn bộ phận dân cƣ của làng. Thông tƣ116/2006/TT-BNN quy định làng
nghề truyền thống có nghề đã xuất hiện trên 50 năm, tạo ra những sản phẩm
mang bản sắc văn hoá dân tộc, nghề gắn với tên tuổi của một hay nhiều nghệ
nhân hoặc tên tuổi của làng nghề.
+ Làng nghề mới là những làng nghề mới hình thành, đặc biệt là trong
thời kỳ đổi mới, từ năm 1986 đến nay.
- Theo số lượng nghề của làng chia làng nghề thành làng một nghề và
làng nhiều nghề.
+ Làng một nghề là làng mà ngoài nghề nông có thêm một nghề thủ
công chiếm ƣu thế tuyệt đối.
+ Làng nhiều nghề là làng mà ngoài nghề nông có từ hai nghề thủ
công trở lên, hay vừa có thêm nghề thủ công vừa có nghề dịch vụ khác. Trƣớc
đây ở nƣớc ta xuất hiện làng một nghề là chủ yếu. Trong những năm gần đây làng
nhiều nghề có xu hƣớng xuất hiện nhiều hơn.
- Theo ngành nghề chia làng nghề thành làng nghề chế biến lương
thực, làng nghề gốm sứ, làng nghề rèn, làng nghề sản xuất vật liệu xây dựng,
làng nghề dệt, làng nghề ươm tơ,

nhiều loại hàng hóa khác nhau nhằm cung cấp cho sản xuất nông nghiệp,
công nghiệp và cho xuất khẩu.
- Thứ hai là hình thức sản xuất của làng nghề ngày càng đa dạng
Ở giai đoạn mới hình thành, hình thức tổ chức sản xuất ở các làng nghề
chủ yếu là hộ gia đình huyết thống gắn với các phƣờng nghề nhƣ: phƣờng
gốm, phƣờng vải, phƣờng mộc, phƣờng đúc đồng. Trong thời kỳ bao cấp, các
làng nghề đƣợc tổ chức thành “đội ngành nghề” của hợp tác xã sản xuất nông
nghiệp nhƣ: đội gốm, đội mộc, đội nề, đội làm sơn mài,… Nơi đông thợ thủ
công thì thành lập hợp tác xã thủ công nghiệp.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

8
Chuyển sang thời kỳ đổi mới, nhất là những năm gần đây, Đảng và Nhà
nƣớc đã có sự quan tâm hơn đối với phát triển công nghiệp, tiểu thủ công
nghiệp nông thôn nên hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh ở các Làng nghề
cũng có sự thay đổi. Đồng thời với sự trở về của hình thức sản xuất hộ gia
đình theo kiểu truyền thống đã xuất hiện các doanh nghiệp tƣ nhân, công ty
trách nhiệm hữu hạn, các hình thức hợp tác và hợp tác xã kiểu mới… Trên cơ
sở các hình thức tổ chức này và đƣợc pháp luật thừa nhận nên sản xuất kinh
doanh ở các làng nghề ngày càng đa dạng về quy mô, phong phú về chủng
loại sản phẩm và hiện nay, sản phẩm của các làng nghề đã trở thành hàng hóa,
đƣợc bán trên thị trƣờng trong nƣớc và quốc tế. Trong đó, đáng chú ý là hàng
thủ công mỹ nghệ, hàng gốm sứ, hàng đồ gỗ cao cấp, hàng dệt,…
- Thứ ba là về đặc trưng sản phẩm làng nghề
Mỗi sản phẩm làng nghề gắn với một làng nghề cụ thể, do đó mang
đậm nét độc đáo của địa phƣơng. Sự khéo léo của đôi bàn tay cùng với óc
thẩm mỹ của ngƣời nghệ nhân đã tạo ra sản phẩm thủ công độc đáo. Vì vậy,
mỗi một sản phẩm làm ra không chỉ chứa đựng bao công sức, sự tài hoa của
ngƣời nghệ nhân mà còn mang trong mình nó những nét bản sắc đặc trƣng

Các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nông thôn cũng đƣợc hình thành nhiều
hơn trong quá trình phát triển làng nghề. Sản xuất trong các làng nghề đang
hƣớng vào những sản phẩm có kỹ thuật cao, thị trƣờng tiêu thụ rộng khắp,
chứng tỏ sản xuất và lƣu thông hàng hoá của làng nghề đang phát triển theo
hƣớng sản xuất hàng hoá tập trung, góp phần quan trọng vào việc đƣa nền
kinh tế nƣớc ta hoà nhập vào kinh tế các nƣớc trong khu vực và trên thế giới.
Với số lƣợng ngành nghề phong phú, đa dạng và với số lƣợng lớn các
cơ sở, các hộ sản xuất nên các làng nghề đã tạo ra sản phẩm hàng hoá phong
phú và đa dạng về chủng loại, khối lƣợng lớn, đáp ứng nhu cầu sản xuất và
tiêu dùng trong nƣớc nhƣ: cơ khí, điện - điện tử, giầy dép, đồ dùng bằng
nhựa, gỗ mây tre đan. Đồng thời trong giai đoạn hiện nay các sản phẩm làng
nghề xuất khẩu đóng góp quan trọng làm tăng kim ngạch xuất khẩu.
Trong những năm 2010 -2012 mặc dù nền kinh tế có khó khăn song giá
trị xuất khẩu của mặt hàng thủ công mỹ nghệ của nƣớc ta vẫn tăng (bảng 1.1)

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

10
Bảng 1.1: Giá trị xuất khẩu một số mặt hàng thủ công mỹ nghệ (2010 - 2012)
Đơn vị tính: 1.000 USD
Năm
2010
2011
2012
Giá trị xuất khẩu gốm sứ mỹ nghệ
316933
358 626
440427
Giá trị xuất khẩu sản phẩm gỗ mỹ nghệ
3435574

nghề đã tác động tích cực góp phần tăng tỷ trọng sản phẩm công nghiệp, tiểu thủ
công nghiệp và dịch vụ, thu hẹp tỷ trọng sản phẩm nông nghiệp.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

11
Ở những địa phƣơng có nhiều làng nghề phát triển, tỷ trọng giá trị sản
phẩm quốc nội và lao động trong công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ
tăng lên nhanh chóng trong tổng giá trị sản phẩm quốc nội và lao động ở nông
thôn. Thu nhập từ các hoạt động phi nông nghiệp ngày càng chiếm tỷ trọng
lớn trong tổng thu nhập từ các hoạt động kinh tế của nông dân.
Nhƣ vậy, sự phát triển của làng nghề tạo ra động lực và môi trƣờng
thuận lợi cho các thành phần kinh tế phát triển, thúc đẩy nhanh quá trình
chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hƣớng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Phát
triển làng nghề là nhân tố quan trọng góp phần đẩy nhanh công nghiệp hóa
nông thôn. Đồng thời, phát triển làng nghề còn tạo ra cơ cấu lao động mới ở
nông thôn, chuyển một bộ phận lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp, từ
lao động giản đơn sang lao động có kỹ thuật, từ lao động năng suất thấp,
thành lao động có năng suất cao.
1.1.2.3. Làng nghề góp phần giải quyết việc làm cho lao động nông thôn
Yêu cầu phát triển toàn diện kinh tế - xã hội ở nông thôn, tạo việc làm
nâng cao đời sống cho dân cƣ ở nông thôn là vấn đề quan trọng hiện nay ở
nƣớc ta. Do diện tích đất bị thu hẹp do quá trình đô thị hoá, tỷ lệ thất nghiệp,
thiếu việc làm ở khu vực nông thôn còn cao (hiện nay tỷ lệ thiếu việc làm
trong độ tuổi lao động ở thành thị là 1,6% trong khi đó ở nông thôn tỷ lệ này
là 3,26%) nên vấn đề giải quyết việc làm cho lao động nông thôn trở nên hết
sức cấp bách, đòi hỏi sự hỗ trợ về nhiều mặt và đồng bộ của các ngành nghề
và lĩnh vực.
Theo thống kê của Hiệp hội Làng nghề Việt Nam, hiện nay nƣớc ta có
2.790 làng nghề, 1/3 trong số đó là các làng nghề truyền thống. Trong những

tại các làng nghề, vùng nông thôn, mà còn cho cả các thành phố lớn. Giải
quyết việc làm sẽ là điều kiện thuận lợi làm cho nông thôn ổn định về chính
trị - xã hội,
thực hiện tốt mục tiêu dân giàu, nƣớc mạnh, xã hội công bằng, dân
chủ, văn minh.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

13
1.1.2.4. Làng nghề góp phần nâng cao vật chất, đời sống tinh thần cho nhân
dân và xây dựng nông thôn mới
Sự chênh lệch về mặt thu nhập giữa đô thị và nông thôn ngày càng lớn,
hơn 10 triệu ngƣời không có việc làm hoặc có ít việc làm, lại đa phần ở nông
thôn, hình thành một yếu tố bất ổn cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội.
Hiện chƣa thấy triển vọng rõ ràng cho ngành nông nghiệp có thể tạo ra đủ
việc làm và tăng thu nhập trong tƣơng lai. Theo kết quả ƣớc tính, thu nhập
trung bình của khu vực phi nông nghiệp cao hơn 3, 4 lần so với khu vực nông
nghiệp. Thu nhập từ các hoạt động đa ngành nghề phi nông nghiệp ngày càng
đóng vai trò chủ yếu trong thu nhập của hộ gia đình nông thôn. Cá biệt, có
một số hộ thu nhập từ ngành nghề đã là nguồn tích luỹ lớn và làm giàu trong
bƣớc đi ban đầu từ sản xuất tự cấp, tự túc sang sản xuất hàng hoá.
Ở làng nghề, số hộ đói hầu nhƣ không còn, số hộ nghèo có tỷ lệ không
đáng kể, số hộ giàu ngày càng tăng. Nhờ có việc làm và tăng thu nhập, nên đời
sống của ngƣời dân trong nhiều làng nghề đƣợc cải thiện rõ rệt so với các địa
phƣơng khác. Ở những làng nghề phát triển, các công trình kết cấu hạ tầng
nông thôn nhƣ điện, đƣờng, trƣờng, trạm đƣợc đầu tƣ khang trang, xây dựng
kiên cố.
Trên cơ sở đó các làng nghề đƣợc coi là nhân tố quan trọng làm chuyển
dịch cơ cấu xã hội nông thôn dựa theo hƣớng tăng hộ giàu, giảm hộ nghèo,

để bán nhằm thu lợi nhuận tối đa. Do đó, sản xuất phải luôn gắn với thị
trƣờng, nếu không có thị trƣờng hoặc sản phẩm sản xuất ra không đƣợc thị
trƣờng chấp nhận thì sản xuất bị ngƣng trệ và dẫn tới phá sản.
Thị trƣờng cho các làng nghề ở nƣớc ta mặc dù có một số lợi thế về thị
trƣờng tiềm năng trong nƣớc với khoảng trên 88 triệu dân, du lịch và xuất
khẩu, nhất là xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ có những lợi thế nhất định
nhƣng gần 70% dân số sống ở nông thôn có mức thu nhập thấp, hàng nhập
ngoại tràn lan, thị trƣờng xuất khẩu chủ yếu bó hẹp ở các doanh nghiệp lớn,
trong khi đó, làng nghề ở nƣớc ta sản xuất và tiêu thụ sản phẩm còn mang tính

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

15
tự phát, chỉ chú trọng tới sản xuất và bán sản phẩm dựa trên cái mình có chứ
chƣa định hƣớng vào sản xuất và bán sản phẩm, cái mà thị trƣờng cần.
Trong một thời gian khá dài, thị trƣờng của làng nghề vẫn bó hẹp trong khu
vực làng nghề. Khả năng tiếp cận với thị trƣờng bên ngoài rất hạn hẹp. Sản phẩm
sản xuất ra còn mang nặng tính chất tự cấp, tự túc. Tính chất này không chỉ hạn
chế sức mua trên thị trƣờng hàng hoá tiêu dùng trong thời gian trƣớc mắt, mà còn
hạn chế đến khả năng đầu tƣ mở rộng sản xuất của làng nghề sau này.
Thời gian gần đây, thị trƣờng sản phẩm từ các làng nghề không chỉ đáp
ứng thị trƣờng trong nƣớc với các mức độ nhu cầu khác nhau mà còn xuất
khẩu sang các thị trƣờng nƣớc ngoài với nhiều mặt hàng phong phú, đa dạng
có giá trị cao. Trong đó, điển hình nhất là các mặt hàng thủ công mỹ nghệ.
Giá trị hàng hóa từ các làng nghề hàng năm đóng góp cho nền kinh tế quốc
dân từ 40 - 50 nghìn tỷ đồng. Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đẩy
nhanh quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông thôn.
Bên cạnh đó tình hình tiêu thụ sản phẩm làng nghề chủ yếu là hộ sản xuất
bán trực tiếp hoặc thông qua các đại lí là doanh nghiệp, công ty trách nhiệm hữu
hạn nên việc tiêu thụ sản phẩm cũng còn hạn chế.

bị để sản xuất là chính. Khi nhu cầu hàng hoá ngày càng gia tăng, họ mở rộng
sản xuất phục vụ thôn xóm, cộng đồng rồi cho toàn xã hội. Việc mở rộng sản
xuất khiến họ phải đầu tƣ các thiết bị lớn hơn và nhiều hơn. Nhƣng điều mâu
thuẫn là nguồn tài chính eo hẹp, nên đã buộc họ phải mua các thiết bị cũ kỹ, lạc
hậu về sửa chữa lại và cải tiến thêm đôi chỗ rồi đƣa vào hoạt động. Mặt khác,
do trình độ tay nghề của ngƣời lao động không cao, nên cũng không thể sử
dụng đƣợc các loại máy móc, trang thiết bị hiện đại. Ngoài ra, yêu cầu về chất
lƣợng sản phẩm của làng nghề không cao và phải bán với giá thấp cho phù hợp
với túi tiền của ngƣời dân, nên họ cũng không cần đầu tƣ thêm các trang thiết
bị hiện đại và quá nhiều tiền.
1.1.3.3. Chất lượng nguồn nhân lực
Sự phát triển của các làng nghề có liên quan trực tiếp tới trình độ
chuyên môn, năng lực tổ chức quản lý của các chủ hộ gia đình, các cơ sở kinh

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

17
doanh và trình độ tay nghề của ngƣời lao động.
Qua kết quả điều tra của Cục Chế biến và ngành nghề nông thôn cho
thấy trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn và năng lực quản lý của các chủ
hộ, chủ cơ sở sản xuất ở các làng nghề nƣớc ta còn thấp, phần lớn chƣa đƣợc
trang bị những kiến thức cần thiết về kinh tế thị trƣờng, về quản trị doanh
nghiệp cũng nhƣ sự hiểu biết về luật pháp và các chính sách liên quan tới hoạt
động kinh tế (có tới 1,3-1,6% chủ hộ không biết chữ, trình độ văn hóa bình
quân chỉ đạt lớp 7-8/12, tỷ lệ chủ hộ chƣa qua đào tạo từ 51,5-60,8%, đối với
chủ cơ sở 43,5%).
Đối với ngƣời lao động, trình độ tay nghề còn thấp, chƣa phù hợp với
nền sản xuất hàng hóa. Tỷ lệ qua đào tạo nghề (chủ yếu là ngắn hạn) mới đạt
khoảng 15%, trong đó có khoảng 1,5% là nghệ nhân hoặc lao động có tay
nghề cao; 85% còn lại là lao động chƣa qua đào tạo hoặc bồi dƣỡng có hệ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status