ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN THỊ HƯƠNG GIANG QUẢN LÝ ĐÀO TẠO ĐỐI VỚI HỆ
VỪA HỌC VỪA LÀM KHOA NGOẠI NGỮ,
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Công Giáp
HÀ NỘI – 2011
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu 3
3. Mục đích nghiên cứu: 5
4. Nhiệm vụ nghiên cứu: 5
5. Đối tượng và khách thể nghiên cứu: 6
6. Giả thuyết nghiên cứu: 6
7. Phương pháp và công cụ nghiên cứu: 6
8. Cấu trúc của luận văn. 8
Chương 1:
CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
9
1.1 Khái niệm về quản lí 9
1.1.1 Đặc điểm cơ bản của hệ thống quản lý 11
1.1.2. Bản chất và các chức năng của quản lý. 11
1.2. Giáo dục và quản lý giáo dục 14
1.2.1. Giáo dục 14
1.2.2. Quản lý giáo dục 15
1.3 Đào tạo và quản lý đào tạo 19
2.10. Thực trạng sinh viên bỏ học 60
Chương 3: CÁC GIẢI PHÁP QUẢN LÝ NHẰM NÂNG CAO CHẤT
LƯỢNG ĐÀO TẠO HỆ VỪA HỌC VỪA LÀM, KHOA NGOẠI NGỮ VIỆN
ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI 64
3.1. Các nguyên tắc lựa chọn giải pháp 64
3.1.1. Nguyên tắc phù hợp, khả thi 64
3.1.2. Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa 64
3.1.3 Nguyễn tắc đảm bảo tính hiệu quả 64
3.2. Các giải pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng đào tạo hệ vừa học vừa làm tại
Khoa Ngoại Ngữ, Viện Đại học Mở Hà Nội. 65
3.2.1. Hoàn thiện cơ cấu tổ chức quản lý hoạt động hệ VHVL của Khoa Ngoại Ngữ
65
3.2.2. Xây dựng quy trình tuyển sinh hệ VHVL, Khoa Ngoại Ngữ, Viện Đại học Mở
Hà Nội 66
3.2.3. Tăng cường kiểm tra và theo dõi chặt chẽ quá trình học tập của học viên. 69
3.2.4. Nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên 70
3.2.5. Thiết kế chương trình đào tạo và giáo trình theo hướng đáp ứng nhu cầu thực
tế 72
3.2.6. Chuyển đổi hình thức đào tạo từ niên chế sang tín chỉ 73
3.2.7. Tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật và tài chính cho đào tạo 76
3.2.8. Giải pháp hỗ trợ bằng công nghệ 77
3.3. Khảo sát tính cấp thiết và tính khả thi của các giải pháp 80
3.3.1. Đối tượng khảo sát 80
3.3.2. Phương pháp khảo sát 81
3.3.3. Nhận xét 82
KẾT LUẬ N VÀ KHUYẾN NGHỊ 83
TÀI LIỆU THAM KHẢO 87
PHỤ LỤC 89
UBND : Ủy ban Nhân dân
UNESCO: United Nations Educational, scientific and Cultural
organization.
VHVL : Vừa học vừa làm
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Lý do khách quan
Toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế đã mở ra một thời kì cho sự phát
triển của thế giới. Toàn cầu hoá kinh tế đã dẫn đến quốc tế hoá,cạnh tranh và hợp
tác toàn cầu trong giáo dục đại học. Giáo dục đào tạo đại học được công nhận là một
công cụ hiệu quả cho sự phát triển nguồn nhân lực có trình độ cao và phát triển xã
hội trên nhiều phương diện. Phát triển giáo dục đào tạo đại học là quốc sách hàng
đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực bồi dưỡng nhân tài của nhà nước. Phát
triển chất lượng giáo dục đào tạo đại học giúp đào tạo sinh viên có những kỹ năng,
kiến thức, tư duy có khả năng làm việc, đáp ứng nhu cầu củn người sử dụng lao
động. Phát triển giáo dục đào tạo đại học gắn với việc phát triển kinh tế xã hội, tiến
bộ khoa học công nghệ, củng cố quốc phòng an ninh, thực hiện chuẩn hóa, hiện đại
hóa, đảm bảo cân đối về cơ cấu trình độ, cơ cấu ngành nghề,mở rộng quy mô trên
cơ sở đảm bảo chất lượng và hiệu quả, kết hợp giữa đào tạo và sử dụng.
Như chúng ta đều biết ở tất cả các nước trên thế giới khi bước vào thời kỳ
công nghiệp hóa (CNH), hiện đại hóa (HĐH) đất nước, giáo dục đại học đều trở
tạo đại học hệ vừa học vừa làm trong những năm qua đã có nhiều cố gắng trong đổi
mới công tác quản lý và đã đạt được những thành tích đáng kể. Tuy nhiên, nhìn từ
góc độ khoa học quản lý, trong xu thế phát triển giáo dục hiện nay, còn nhiều vấn đề
cần được nghiên cứu, khảo sát như tư duy quản lý, chu trình quản lý, các thành tố
quản lý, năng lực quản lý …v…v.
Trước đòi hỏi bức thiết của đổi mới công tác quản lý giáo dục nhằm tạo
bước nhảy về chất trong đào tạo đại học nói chung và đào tạo đại học hệ vừa học
vừa làm (hệ tại chức) nói riêng, đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực trình
độ cao, có chất lượng phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước, tác giả thiết nghĩ, đối với Khoa Ngoại Ngữ, Viện Đại học Mở Hà Nội, bên
cạnh những đề tài nghiên cứu đi sâu vào bản chất khoa học của công tác quản lý đào
tạo đại học nói chung, việc quản lý đào tạo đại học hệ vừa học vừa làm cũng cần
được quan tâm nghiên cứu. Xuất phát từ những lý do nêu trên, tác giả chọn đề tài
nghiên cứu:
3
“Quản lý đào tạo đối với hệ vừa học vừa làm, Khoa Ngoại Ngữ, Viện Đại học
Mở Hà Nội”.
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Giáo dục được coi là một trong những quốc sách hàng đầu liên quan trực
tiếp đến lợi ích, nghĩa vụ và quyền lợi của mọi người dân, mọi tổ chức kinh tế – xã
hội đồng thời có tác động mạnh mẽ đến tiến trình phát triển của quốc gia. Do đó
việc quản lý giáo dục luôn luôn được các nước, dù lớn hay nhỏ, giàu hay nghèo, đã
phát triển hay đang phát triển hết sức quan tâm. Từ việc thực hiện chính sách giáo
dục quốc gia, nâng cao hiệu quả đầu tư cho giáo dục đến việc thực hiện các mục
tiêu giáo dục, nâng cao chất lượng giáo dục . . . luôn gắn liền với công tác quản
lý giáo dục từ bình diện quốc gia đến các cấp quản lý giáo dục ở địa phương và các
cơ sở giáo dục – đào tạo. Vì vậy nghiên cứu công tác quản lý giáo dục ở nước ta
hiện nay là một yêu cầu cấp bách và có ý nghĩa rất to lớn.
UNESCO đã có khuyến cáo đúng đắn khi coi giáo dục của thế kỷ 21 là nền
yêu cầu tiêu chuẩn về kiến thức quản lý nhà nước và lý luận chính trò, do đó những
công chức, cán bộ đang làm việc hiện nay rất cần được học, được thường xuyên bồi
dưỡng kiến thức để cập nhật với những đổi thay của xã hội về mọi mặt!
Xã hội càng phát triển, khoa học kỹ thuật càng tiến bộ, tuổi thọ con người
càng cao, thì nhu cầu học tập của mọi người ngày càng lớn. Người ta có nhu cầu
muốn học để hiểu biết, để làm việc, để sống tốt hơn, để tự khẳng định mình, để mong
có cơ may và để hòa nhập vào cộng đồng ngày càng văn minh, tiến bộ.
Trước những nhu cầu cần phải học và muốn được học của xã hội ngày
càng to lớn như vậy thì chắc chắn phương thức đào tạo vừa học vừa làm sẽ đóng
một vai trò không nhỏ. Theo luật giáo dục, đào tạo vừa học vừa làm là bao gồm:
“Các chương trình xóa mù chữ và tiếp tục sau khi biết chữ; đào tạo bổ sung, tu
nghiệp định kỳ, bồi dưỡng nâng cao trình độ cập nhật kiến thức, kỹ năng; các
chương trình để lấy văn bằng của hệ thống giáo dục quốc dân theo hình thức vừa
học vừa làm ”.
Như vậy trách nhiệm của các nhà quản lý giáo dục là phải làm thế nào để tổ
chức và quản lý việc học của hệ vừa học vừa làm cho có hiệu quả và đáp ứng được
nhu cầu ngày càng cao của xã hội.
5
Hiện nay các hình thức đào tạo hệ vừa học vừa làm rất đa dạng, đã đóng
góp một phần quan trọng trong việc nâng cao dân trí và đáp ứng được phần nào nhu
cầu học tập của người lao động và của toàn xã hội. Tuy nhiên hiện nay cũng còn
nhiều ý kiến tranh luận về chất lượng của loại hình đào tạo này.
Trong phạm vi cho phép tác giả chỉ xin đề cập đến vấn đề Quản lý đào tạo
hệ vừa học vừa làm ở Khoa Ngoại Ngữ, Viện Đại học Mở Hà Nội nhằm đúc kết
một số kinh nghiệm trong nhiều năm đào tạo loại hình này. Đây là một vấn đề chưa
có tác giả nào từng nghiên cứu. Từ những kết quả nghiên cứu đã đạt được trong
những năm qua, chúng ta có thể phân tích sâu hơn những cái được và chưa được
trong công tác quản lý đào tạo nhằm đề xuất những giải pháp để nâng cao hơn
nữa chất lượng đào tạo hệ vừa học vừa làm của Khoa Ngoại Ngữ, Viện Đại học
Ngữ, Viện Đại học Mở Hà Nội
5. Đối tượng và khách thể nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu:
Các phòng ban và các nhân sự liên quan để tìm hiểu thực trạng công tác
quản lý đào tạo đại học hệ vừa học vừa làm của Khoa Ngoại Ngữ, Viện Đại học
Mở Hà Nội
- Khách thể nghiên cứu:
Cán bộ quản lý, cán bộ giảng dạy, sinh viên theo học và sinh viên đã tốt
nghiệp hệ VHVL để tìm hiểu công tác quản lý đào tạo đại học hệ vừa học vừa làm
của Khoa Ngoại Ngữ, Viện Đại học Mở Hà Nội
6. Giả thuyết nghiên cứu:
Trong thực tiễn đào tạo đại học hệ vừa học vừa làm của Khoa Ngoại
Ngữ, Viện Đại học Mở Hà Nội vẫn còn tồn tại nhiều bất cấp và hạn chế, chất lượng
đào tạo chưa cao. Nếu khảo sát, nghiên cứu thực trạng công tác quản lý đào tạo đại
học hệ vừa học vừa làm, để trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp mang tính khoa học,
phù hợp với thực tiễn thì chắc chắn công tác quản lý đào tạo đại học hệ vừa học vừa
làm của Khoa Ngoại Ngữ, Viện Đại học Mở Hà Nội sẽ đạt hiệu quả cao hơn.
7. Phương pháp và công cụ nghiên cứu:
7.1. Phương pháp hồi cứu tư liệu
Thu thập và nghiên cứu các tài liệu có liên quan đến đề tài nghiên cứu
như: các văn bản của nhà nước, Bộ GD-ĐT, Viện Đại học Mở HN sách, báo,
7
các tài liệu, các công trình nghiên cứu khoa học…
Phương pháp mà tác giả lựa chọn để tiến hành nghiên cứu quá trình hoàn tất luận
văn này theo ba quan điểm nghiên cứu sau:
-
Quan điểm về hệ thống cấu trúc
-
8
7.5. Tổ chức nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài này tác giả tiến hành các bước cụ thể như
sau:
- Bước 1: Thu thập các tài liệu có liên quan đến đề tài nghiên cứu như: các
văn
bản- qui chế của nhà nước có liên quan đến công tác đào đại học đặc biệt là hệ vừa
học vừa làm, sách, báo, tạp chí, các tài liệu, các công trình nghiên cứu khoa học để
xây dựng cơ sở lý luận.
- Bước 2: Tiến hành gặp gỡ và trao đổi với Ban lãnh đạo Khoa, giảng viên, cán bộ
quản lý và học viên hệ đại học vừa học vừa làm của của Khoa Ngoại Ngữ, Viện
Đại học Mở Hà Nội, để xây dựng bộ phiếu điều tra.
- Bước 3 : Sử dụng phiếu thăm dò để lấy ý kiến của học viên đang theo học hệ đại
học vừa học vừa làm của của Khoa Ngoại Ngữ, Viện Đại học Mở Hà Nội;
Sau 1 tháng phát phiếu và thu nhận phiếu trong quá trình khảo sát, số phiếu thu
nhận được như sau:
Khách thể
Số phiếu
phát ra
Số phiếu
thu về
1. Học viên năm thứ tư hệ VHVL
213
150
Số phiếu tham khảo phát ra và thu về
8. Cấu trúc của luận văn.
Ngoài phần Mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, Luận văn
Nhà lý luận quản lý kinh tế người Pháp H. Fayon (1849-1925) là cha đẻ của
thuyết hành chính trong quản lí đã đưa ra định nghĩa “Quản lý hành chính là dự
đoán và lập kế hoạch, tổ chức điều khiển, phối hợp và kiểm tra”.
Một số nhà nghiên cứu muốn phản ánh những nét đặc trưng của quản lý
bằng nhiều cách như nhấn mạnh tính chất hay hình thức tác động, mục đích hay
chức năng của quản lý đã đưa ra các định nghĩa sau:
Theo sự phân tích của Marx thì quản lí là một chức năng tất yếu của lao
động xã hội, nó luôn gắn chặt với sự phân công và phối hợp. Song điều đó chỉ
có thể thực hiện trên cơ sở tổ chức vì: “chức năng chủ yếu của quản lý là liên
hợp, tháp hợp tất cả các mặt hoạt động của tổ chức và của những người tham gia tổ
chức đó là một chính thể”
10 GS. Hà Thế Ngữ và GS. Đặng Vũ Hoạt nói: “Quản lý là một quá trình định
hướng, quá trình có mục tiêu, quản lý một hệ thống là quá trình tác động đến hệ
thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định. Những mục tiêu này đặc trưng cho
trạng thái mới của hệ thống mà người quản lý mong muốn”[10, tr.11].
GS. Hoàng Chúng và Phạm Thanh Liêm đã đưa ra định nghĩa: “Quản lý là
tác động có mục đích đến tập thể những con người nhằm tổ chức và phối hợp hoạt
động của họ, động viên kích thích họ trong quá trình lao động” [8, tr. 8].
Từ những định nghĩa trên, chúng ta có thể nói rằng quản lý là một quá trình mang
tính xã hội, xuất hiện cùng với sự hợp tác và phân công lao động, bao trùm tất cả
các lĩnh vực của đời sống xã hội, bởi vì trong mỗi lĩnh vực con người luôn điều
chỉnh hoạt động của mình theo một phương thức nhất định, do đó:
- Quản lý bao gồm công việc chỉ huy và tạo điều kiện cho những người khác
thực hiện công việc và đạt được mục đích của nhóm.
- Quản lý là thực hiện những công việc có tác dụng định hướng, điều tiết,
phối hợp các họat động của cấp dưới, của những người dưới quyền (thuộc
quyền).
người nhằm thực hiện mục tiêu quản lý. Trong giáo dục đó là tác động của nhà
quản lý giáo dục đến tập thể giảng viên, học sinh và các lực lượng khác trong xã hội
nhằm thực hiện có hệ thống các mục tiêu giáo dục. Vậy bản chất của quản lý là
sự phối hợp các nỗ lực của con người thông qua các chức năng quản lý.
1.1.2.2. Các chức năng của quản lý.
Theo Stonner và Freemance trong tác phẩm “Management” (quản lý)
thì:“Chức năng quản lý là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra các
công việc của các thành viên trong tổ chức và việc sử dụng tất cả các khả năng,
cách tổ chức để đạt được mục tiêu mà tổ chức đã đề ra” (Sonner và Freemance –
12
Management, 1995).
Nhiều tác giả đã phân loại chức năng quản lý thành 4 hoặc 5 loại nhưng
nội dung cơ bản vẫn gồm 4 chức năng sau đây:
1) Lập kế hoạch: Phán đoán trước toàn bộ quá trình và các hiện tượng mà tương lai
có thể xảy ra mang tính định hướng, chuẩn bị các giải pháp thực hiện hoạt động
mong muốn này bằng cách xác định rõ:
- Hoạt động mà tổ chức muốn thực hiện?
- Cách thực hiện các hoạt động này như thế nào?
- Ai sẽ là người thực hiện? nguồn lực nào?
- Các hoạt động này được thực hiện ở đâu? Khi nào kế thúc?
Việc lập kế hoạch sẽ kết nối khoảng trống giữa vị trí hiện tại với mục tiêu mà tổ
chức mong muốn đạt đến trong tương lai. Chức năng này ddwwocj coi là chức năng
cơ bản nhất của tất cả các chức năng QL. Nhà QL lập kế hoạch bao gồm cr việc
tuyển chọn nhân viên, tổ chức các nguồn lực, kiểm tra và phối hợp con người và các
hoạt động để đảm bảo được các mục tiêu.
2) Tổ chức: Tổ chức là đảm bảo tất cả các hoạt động và các tiến trình được sắp xếp,
giúp cho một tổ chức có thể đạt được các mục tiêu đề ra. Nội dung quan trọng nhất
của tổ chức là tìm đúng người, đúng việc, xác định được trách nhiệm của họ, thiết
kế một tổ chức và cơ cấu đảm bảo các nhân viên đều hiểu rõ họ làm việc gì, ở đâu
ta cần có thời gian để có thể nhận thức được một cách đầy đủ. Khi hiểu biết về thế
giới xung quanh càng sâu sắc bao nhiêu thì khả năng tổ chức và điều chỉnh cuộc
sống càng có hiệu quả và phục vụ lợi ích con người càng tốt bấy nhiêu.
Qua mỗi giai đoạn lịch sử phát triển của xã hội loài người, những họat
động quản lý luôn tồn tại. Chúng chỉ khác nhau về mục đích, nội dung, hình thức và
phương pháp. Tùy thuộc vào hình thái kinh tế nhất định những hoạt động này đều bị
tác động và ảnh hưởng bởi tính chất chế độ xã hội và trình độ tăng trưởng trong quá
trình sản xuất. Đặc biệt trong sự nghiệp phát triển kinh tế, xã hội, hoạt động quản lý
có vai trò rất quan trọng. Nếu hoạt động quản lý tốt sẽ thúc đẩy sản xuất, nâng cao
lợi nhuận đồng thời cũng góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của con
người, tạo điều kiện cho tư duy sáng tạo phát triển về mọi phương diện. Ngược lại,
nếu hoạt động quản lý tồi không chỉ tác động hạn chế, ngăn cản sự phát triển kinh
tế, xã hội mà còn dẫn đến tình trạng làm nghèo đi và làm chậm lại sự phát triển của
đất nước, lãng phí sức người và của cải vật chất của tồn xã hội.
1.2. Giáo dục và quản lý giáo dục
1.2.1. Giáo dục
Giáo dục là một dạng hoạt động đặc biệt có nguồn gốc từ xã hội, bản chất
của hoạt động giáo dục là quá trình truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử - xã
hội của các thế hệ loài người, nhờ có giáo dục mà các thế hệ nối tiếp nhau phát triển,
tinh hoa văn hóa dân tộc, nhân loại được kế thừa, bổ sung, hoàn thiện và trên cơ sở
đó không ngừng phát triển
Có lẽ “giáo dục phục vụ con người, phục vụ đời sống, vì hạnh phúc
con người và sự phồn vinh xã hội” là một triết lý phổ quát nhất của giáo dục và
được mọi người thừa nhận . Giáo dục xuất hiện khi có xã hội loài người, nhưng
ở mỗi dân tộc, mỗi thời đại, tư tưởng này lại có những nội dung riêng của nó. Ở
Việt Nam hiện nay giáo dục phải phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước, góp phần xậy dựng một nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, xã hội
công bằng, dân chủ, văn minh”. Tuy nhiên giáo dục cũng không phải chỉ quan
tâm đến từng con người mà là toàn xã hội, do đó nói đến giáo dục cần phải lưu ý
hệ thống giáo dục quốc dân, nếu hệ thống giáo dục bao gồm các tổ chức giáo dục ở
một địa bàn lãnh thổ thì ta sẽ có: 1) Quản lý giáo dục cấp tỉnh, và 2) Quản lý giáo
dục cấp huyện”.
Trường học là một tổ chức giáo dục cơ sở mang tính Nhà nước và xã
hội, trực tiếp làm công tác đào tạo thực hiện việc giáo dục cộng sản chủ nghĩa cho
16
thế hệ trẻ. Trường học là tế bào cơ sở, chủ chốt của bất cứ hệ thống giáo dục ở cấp
nào (từ cơ sở đến trung ương). Nói cách khác, trường vừa là thành tố khách thể cơ
bản của tất cả các cấp quản lý nói trên, lại là một hệ thống độc lập tự quản của xã
hội. Do đó, quản lý trường học nhất thiết phải vừa mang tính chất nhà trường,
vừa mang tính chất xã hội. Về thực chất, quản lý nhà nước đối với hệ thống giáo
dục ở tất cả các cấp đều phải nhằm mục đích tạo điều kiện tối ưu cho sự vận hành
thuận lợi của trường học. Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý giáo dục đã được
trình bày ở sơ đồ
1.3 dưới đây:
Sơ đồ 1.3: Các nhân tố ảnh hưởng đến mô hình quản lý giáo dục
Xuất phát từ quan điểm trên, GS. Nguyễn Ngọc Quang đã nhận xét: “Quản
lý giáo dục nói chung và quản lý trường học nói riêng là hệ thống các tác động có
mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý (hệ giáo dục) nhằm làm
cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các
tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình
dạy học – giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục đạt tới dự kiến, tiến lên trạng thái mới
về chất” [14, tr.16].
17
Tóm lại quản lý giáo dục là một bộ phận của quản lý xã hội. Đã có nhiều
định nghĩa về quản lý giáo dục, song chúng ta có thể khái quát:
- Quản lý giáo dục là một hệ thống những tác động có mục đích, có kế
chủ đạo
duy nhất của toàn bộ công tác giáo dục.
2) Đảm bảo tính khoa học, tính kế hoạch và tính thực tiễn trong quản lý giáo dục
Khoa học trong quản lý giáo dục trước hết đòi hỏi quan điểm tổng hợp,
quan điểm hệ thống, quan điểm vận động (phát triển). Các quá trình giáo dục
thường diễn ra trong thời gian dài và có nhiều lực lượng tham gia cùng một lúc, do
đó quản lý giáo dục luôn luôn đòi hỏi tính kế hoạch cao. Hoạt động giáo dục không
chấp nhận sự rập khuôn và đơn giản, nên tính khoa học trong quản lý giáo dục đòi
hỏi phải cụ thể và đa dạng. Tính thực tiễn trong quản lý giáo dục đòi hỏi người
quản lý phải hiểu biết đầy đủ, tường tận tình hình thực tế trong thời gian ở các
không gian khác nhau.
3) Tính dân chủ
Đây là nguyên tắc rất quan trọng trong quản lý. Xét về mặt tổ chức thì đây
là nguyên tắc quan trọng nhất. Nó thể hiện ở sự kết hợp chế độ thủ trưởng với chế
độ dân chủ tập thể trong quản lý. Thực chất nguyên tắc này đảm bảo cho kỷ luật
chặt chẽ. Kỷ luật đó được xây dựng trên cơ sở dân chủ rộng rãi, và chế độ dân chủ
nhằm tạo nên sức mạnh của tổ chức và tăng cường tính kỷ luật trong tổ chức.
4) Tính pháp thể
Đây là nguyên tắc chưa vận dụng triệt để trong thực tiễn mặt dù rất cần thiết
vì nguyên tắc này giúp điều hành và quản lý bằng pháp luật cả về mặt tổ chức lẫn
hoạt động quản lý, nó yêu cầu chấp hành nghiêm ngặt những đòi hỏi pháp luật.
Quản lý nhà nước về giáo dục đòi hỏi không những thực hiện mọi luật pháp của
nhà nước mà còn vận dụng kết hợp những qui phạm pháp luật với những yếu tố đặc
thù của giáo dục để xây dựng và thực hiện một hệ thống qui phạm giáo dục.
5) Tính hiệu quả
Chất lượng và hiệu quả giáo dục phụ thuộc vào hiệu quả tổ chức và
quản lý giáo dục. Muốn đạt hiệu quả cao, người quản lý phải nắm được những
thành tựu mới của khoa học kỹ thuật, vận dụng các phương pháp khoa học vào công
tác quản lý như: các phương pháp dự thảo và thông qua quyết định, tối ưu hoá hệ
giáo dục dân số v…v….
Nội dung đào tạo đại học ngày nay phải có tính chuyển hoá, hiện đại
hoá và đảm bảo cơ cấu hợp lý giữa kiến thức khoa học cơ bản với kiến thức chuyên
ngành, các môn khoa học Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Giáo dục đại học